Ngày 5.5, lực lượng chức năng phường Phước Thắng (TP.HCM) tiếp tục đến chân cầu Cửa Lấp, yêu cầu bà H. cùng các nhân công thu dọn vỏ ốc, sò san lấp trái phép dưới bờ sông để không gây ảnh hưởng môi trường, mất an ninh trật tự tại đây.
Trước đó, ngày 29.4, ông Nguyễn Việt Dũng, Chủ tịch UBND phường Phước Thắng cùng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị, Công an phường này đã đến chân cầu Cửa Lấp ghi nhận tình trạng một đoạn bờ sông bị san lấp trái phép làm bến neo đậu tàu đánh bắt hải sản.
Việc san lấp này được thực hiện trước khi sáp nhập chính quyền địa phương 2 cấp và diễn ra đến ngày nay. Ngay dưới chân cầu, có nhiều người đang ở và nuôi vịt, thu mua ốc, sò cho tôm hùm ăn. Điều đáng nói, tại đây, có cả ngàn khối vỏ sò, ốc dùng để san lấp, tạo mặt bằng cho nhóm người này ở, làm bãi neo đậu cho phương tiện đường thủy.
Theo ghi nhận của chúng tôi, số vỏ sò, ốc được san lấp sâu hơn 1 mét, rộng gần 10 mét, dài hơn 50 mét dọc theo bờ sông Cửa Lấp.
Mặt trên bãi san lấp được đổ bê tông. Những người ở đây đặt một thùng container để câu điện vào làm nơi ở, thu mua sò, ốc cho tôm hùm ăn. Trên khu vực bãi san lấp còn trồng một số cây dừa, chuối.
Làm việc với ông Nguyễn Việt Dũng, Chủ tịch UBND phường Phước Thắng, bà H. cho biết mình đã san lấp tại khu vực sông Cửa Lấp để làm bãi neo đậu của tàu chở ốc, sò đến bán.
Ông Dũng đã yêu cầu bà H. tự tháo dỡ các công trình trong khu đất công, đưa thùng container ra khỏi bãi và thu dọn toàn bộ số lượng vỏ ốc, sò đã san lấp dưới bờ sông.
Ngày 5.5, bà H. cho nhân công xúc vỏ sò, ốc đưa vào bao, thuê phương tiện di chuyển thùng container ra khỏi sông Cửa Lấp.
Một lãnh đạo Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Phước Thắng cho biết dù bà H. đã thu gom số vỏ sò, ốc nhưng địa phương vẫn phải mời lên làm việc và yêu cầu cam kết thời hạn thu gom, trả lại mặt bằng sông Cửa Lấp.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Bộ Công an lý giải đề xuất hoãn xuất cảnh, cắt điện nước cưỡng chế xử phạt

Cổng thông tin điện tử Bộ Công an mới đây đăng tải thông tin lý giải về đề xuất bổ sung 2 biện pháp cưỡng chế xử phạt vi phạm hành chính, gồm tạm ngừng xuất cảnh và ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước.
Đây là nội dung được đề xuất tại dự thảo luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, do Bộ Công an chủ trì soạn thảo.
Theo đó, thực tiễn xử lý vi phạm phạm hành chính cho thấy, một số hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn… và thi hành biện pháp khắc phục hậu quả chưa có cơ chế cưỡng chế cụ thể khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành.
Điều này dẫn đến tình trạng quyết định xử phạt vi phạm hành chính không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ, nhất là đối với các cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, né tránh nghĩa vụ chấp hành.
Không ít trường hợp cá nhân vi phạm hoặc người đại diện, người đứng đầu tổ chức lợi dụng việc xuất cảnh để trì hoãn, né tránh nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt.
Nhiều cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ không thi hành quyết định xử phạt, tiếp tục các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để thu lợi.
Do vậy, việc bổ sung 2 biện pháp cưỡng chế là cần thiết, nhằm bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trước khi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Bộ Công an cũng khẳng định, đề xuất trên bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Bởi hiện nay luật Thủ đô năm 2024, hoặc Thông tư 05/2024 của Bộ Xây dựng cũng đã có quy định về biện pháp "ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước".
Tương tự, luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam cũng đã quy định về trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh do đang bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến, Bộ Công an sẽ tiếp tục quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện áp dụng 2 biện pháp cưỡng chế nêu trên nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trước đó, góp ý về nội dung trên, một số bộ ngành, đơn vị đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng việc bổ sung 2 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính như tại dự thảo.
Như Bộ Tư pháp cho rằng, quan hệ cung cấp điện, nước được xác lập trên cơ sở hợp đồng dân sự giữa bên sử dụng và đơn vị cung cấp dịch vụ với quyền và nghĩa vụ được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự.
Việc không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không đồng nghĩa với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, nhà cung cấp sẽ không có căn cứ pháp lý để đơn phương chấm dứt hoặc tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
Vẫn theo bộ này, việc ngừng cung cấp điện, nước có thể gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, kéo theo tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế - xã hội.
Chưa kể, việc ngừng cung cấp dịch vụ sẽ ảnh hưởng đồng thời đến tất cả các cá nhân, tổ chức đang sử dụng điện, nước tại công trình hoặc cơ sở (không chỉ riêng chủ thể vi phạm).
Tương tự với "tạm ngừng xuất cảnh", một số cơ quan cũng đề nghị cân nhắc, đánh giá kỹ tác động của việc bổ sung biện pháp cưỡng chế này, trên cơ sở tính chất của vi phạm hành chính không phải là tội phạm, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính vừa không chỉ mang tính răn đe mà còn có tính giáo dục.
Cạnh đó, biện pháp này còn có khả năng tác động đến "quyền tự do đi lại, ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước" của cá nhân, tổ chức…
Thời Sự
Làm đường cao tốc miền Tây: Cầu cạn đắt hơn nhưng giảm áp lực thiếu cát

Viện Kinh tế xây dựng cho biết như vậy khi báo cáo Bộ Xây dựng về so sánh giải pháp làm đường cao tốc tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây) bằng cầu cạn và nền đắp từ đất, cát.
Viện Kinh tế xây dựng cho biết theo quy hoạch, hệ thống đường cao tốc miền Tây đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 có tổng chiều dài khoảng 1.256km, gồm 3 tuyến trục dọc và 3 tuyến trục ngang.
Dự kiến đến cuối năm 2026, miền Tây sẽ hoàn thành khoảng 554km cao tốc. Còn lại khoảng 702km sẽ tiếp tục đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 và sau năm 2030.
Tuy nhiên, đây là khu vực có điều kiện địa chất, thủy văn đặc thù bậc nhất cả nước. Địa hình thấp, cao trung bình chỉ từ 0,5-1,5m so với mực nước biển, thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập úng, triều cường và nước biển dâng.
Nền đất trong khu vực chủ yếu là bùn, sét hữu cơ và đất yếu có khả năng chịu tải thấp, dễ lún kéo dài khi thi công các công trình giao thông quy mô lớn.
Bên cạnh đó, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch tại miền Tây dày đặc cũng khiến việc đắp nền đường truyền thống gặp nhiều khó khăn, làm gia tăng nguy cơ sạt lở và ảnh hưởng dòng chảy tự nhiên.
Theo tính toán của Viện Kinh tế xây dựng, một trong những bài toán nan giải nhất hiện nay là nguồn cát đắp nền đường tại miền Tây khi làm đường cao tốc bằng nền đắp.
Nếu đầu tư khoảng 700km cao tốc bằng nền đắp, miền Tây sẽ cần khoảng 147,69 triệu m3 cát cùng hơn 4 triệu m3 đá xây dựng.
Trong khi đó, tổng trữ lượng cát của các mỏ đang được cấp phép khai thác chỉ khoảng 20 triệu m3, công suất khai thác khoảng 8 triệu m3 mỗi năm. Đáng chú ý, chỉ có cát ở Đồng Tháp và An Giang (đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu) được đánh giá đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho các dự án đường cao tốc.
Nguồn cát từ các mỏ đã quy hoạch nhưng chưa cấp phép hiện khoảng 106 triệu m3. Tuy nhiên, lượng vật liệu này còn phải phục vụ hàng loạt dự án khác như khu công nghiệp, khu đô thị, hạ tầng dân dụng và san lấp mặt bằng.
Điều này khiến nguy cơ thiếu cát cho các dự án cao tốc ngày càng rõ rệt, kéo theo giá vật liệu tăng cao và ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công.
Ngoài ra, việc khai thác cát quá mức tại hệ thống sông ở miền Tây còn gây nhiều hệ lụy như sạt lở bờ sông, ảnh hưởng sinh kế người dân và làm tăng chi phí xử lý môi trường.
Trong bối cảnh đó, phương án xây dựng cao tốc bằng cầu cạn được đặt ra nhằm giảm phụ thuộc vào cát đắp nền.
Theo tính toán của Viện Kinh tế xây dựng, với đường cao tốc quy mô 4 làn xe, rộng 17m, tốc độ thiết kế 80-100km/h, chi phí xây dựng 1km đường nền đắp khoảng hơn 154,2 tỉ đồng, chưa bao gồm giải phóng mặt bằng.
Trong khi đó, nếu xây bằng cầu cạn, chi phí lên tới hơn 379,6 tỉ đồng/km, cao gấp khoảng 2,5 lần.
Tuy nhiên, nếu tính tổng chi phí quản lý, khai thác, bảo trì và sửa chữa trong vòng đời dự án khoảng 100 năm, khoảng cách chi phí được thu hẹp đáng kể.
Cụ thể, tính cả tổng chi phí quản lý, vận hành khai thác, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ trong vòng đời dự án (100 năm) thì 1km cao tốc nền đắp là gần 224 tỉ đồng, còn 1km cầu cạn là gần 387,5 tỉ đồng. Mức chênh lệch còn khoảng hơn 163,5 tỉ đồng/km, tương đương hơn 73%.
Ngoài yếu tố chi phí, mỗi phương án còn có những ưu và nhược điểm riêng.
Đối với đường đắp nền truyền thống, thời gian thi công thường kéo dài 30-36 tháng do phải xử lý đất yếu và chờ lún. Cầu cạn có thể rút ngắn đáng kể tiến độ, thời gian thi công phổ biến khoảng 18-24 tháng.
Cầu cạn cũng có lợi thế về giải phóng mặt bằng khi diện tích sử dụng đất nhỏ hơn đáng kể so với nền đường đắp và thích ứng biến đổi khí hậu tốt hơn
Về tuổi thọ công trình, đường đắp nền với kết cấu mặt đường nhựa thường có tuổi thọ thiết kế khoảng 15-20 năm, tuổi thọ khai thác thực tế khoảng 30-50 năm tùy điều kiện nền đất và lưu lượng xe.
Trong khi đó, cầu cạn có tuổi thọ thiết kế từ 50-100 năm, ít chịu tác động của ngập úng và nước biển dâng nên khả năng khai thác ổn định cao hơn.
Đường đắp nền có nhu cầu cát đắp rất lớn, tạo áp lực khai thác cát sông; làm tăng vật liệu thừa và nước thải, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Tuy nhiên, cầu cạn cũng không phải phương án tối ưu tuyệt đối vì dù sử dụng cát ít hơn nhưng cần nhiều xi măng và thép hơn dẫn tới tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, phát thải nhiều bụi mịn và chất thải rắn, phát thải lượng lớn khí nhà kính.
Với chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn đáng kể, giải pháp làm đường cao tốc chạy trên nền đất có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế, khả năng huy động nguồn lực đầu tư của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, về lâu dài, để giảm phụ thuộc vào cát tự nhiên đang ngày càng khan hiếm, cần tiếp tục nghiên cứu các loại vật liệu thay thế như cát biển, tro xỉ nhiệt điện, vật liệu tái chế và các loại vật liệu địa phương khác.
Với cầu cạn, nên ưu tiên tại các khu vực đô thị đông dân cư, vùng thường xuyên ngập sâu, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc những nơi nền đất yếu có chiều sâu lớn, vượt phạm vi xử lý bằng giải pháp thông thường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Ủy ban kiểm tra T.Ư đề nghị kỷ luật nguyên Bí thư Bắc Giang Bùi Văn Hải

Trong các ngày 8 và 20/5, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ 6 dưới sự chủ trì của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh.
Tại Kỳ họp, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm tại Đảng bộ các tỉnh Quảng Ninh và Bắc Ninh.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy tại Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, các ông Nguyễn Đức Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Hội đồng nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh; Điệp Văn Chiến, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Quảng Ninh, đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Đồng thời vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng và địa phương, cơ quan, đơn vị công tác, đến mức phải thi hành kỷ luật.
Tại Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh), Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy, ông Bùi Văn Hải, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang cũ đã vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
Ông Bùi Văn Hải vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và địa phương, cơ quan, đơn vị công tác, đến mức phải thi hành kỷ luật.
Các ông Nguyễn Văn Linh, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh; Lại Thanh Sơn, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Ban cán sự đảng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Trịnh Hữu Thắng, nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; Bùi Thế Sơn, nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giao thông vận tải; Phạm Giang, nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Xây dựng; Nguyễn Tiến Cơi, nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính; Nguyễn Văn Khái, nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Nguyễn Văn Sơn, nguyên Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải, đã vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Đồng thời các cá nhân nêu trên vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và địa phương, cơ quan, đơn vị công tác, đến mức phải thi hành kỷ luật.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm; căn cứ quy định của Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định kỷ luật Cảnh cáo các ông Nguyễn Văn Linh, Lại Thanh Sơn, Trịnh Hữu Thắng, Bùi Thế Sơn, Phạm Giang, Nguyễn Tiến Cơi, Nguyễn Văn Khái, Nguyễn Văn Sơn.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, thi hành kỷ luật các ông Nguyễn Đức Thành, Điệp Văn Chiến, Bùi Văn Hải.
Tin Gốc: Dân Trí

