Ông Nguyễn Nhất Duy trúng đấu giá căn nhà 118 Bà Triệu, phường Nghĩa Lộ, hơn 2,3 tỷ đồng và đã được thi hành án bàn giao để sử dụng từ cuối năm 2024. Tuy nhiên, đến tháng 7/2025, khi đi làm xa trở về, ông phát hiện căn nhà bị bà Lương Thị Nhung – người từng mua căn nhà trước đó – phá khóa chiếm lại. Cả hai bên đều gửi đơn kêu cứu, cùng nhận mình là chủ sở hữu, khiến tranh chấp kéo dài và cơ quan chức năng phải vào cuộc làm rõ.
Quá trình chuyển nhượng, kê biên và đấu giá nhà đất 118 Bà Triệu là những nút thắt trong vụ giành nhà giữa hai bên. Tài sản gồm nhà hai tầng và nhà cấp bốn cũ phía sau, gần công viên Ba Tơ, sông Trà Khúc (trung tâm Quảng Ngãi) ban đầu được định giá hơn 4 tỷ đồng. Nhưng sau 6 lần cơ quan Thi hành án giảm giá, ông Duy đã mua được với 2,3 tỷ đồng – giảm gần một nửa so với định giá ban đầu.
Trả lời về việc này, chấp hành viên Nguyễn Thế Nhân (Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Ngãi) cho biết “không có tiêu cực trong đấu giá”, đồng thời lý giải việc tài sản khó bán do tâm lý e ngại của người mua và việc chủ tài sản không hợp tác.
Theo chứng thư thẩm định giá năm 2022, đất và nhà ở 118 Bà Triệu có giá ban đầu là hơn 4 tỷ đồng. Đầu năm 2023, chấp hành viên ký hợp đồng với Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh để tổ chức bán đấu giá với mức khởi điểm tương ứng.
Tuy nhiên, dù đã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, đăng báo và niêm yết, tài sản phải qua 7 lần đấu giá mới có người mua.
Theo Luật Thi hành án dân sự, sau mỗi lần đấu giá không thành, chấp hành viên được giảm giá, với mức tối đa không quá 10% so với lần liền kề trước. Vì vậy, tài sản trải qua 6 lần giảm giá.
Cụ thể, lần một giảm 7%, còn khoảng 3,8 tỷ đồng; lần hai giảm 10%, còn hơn 3,4 tỷ đồng; lần ba giảm 10%, còn khoảng 3,06 tỷ đồng; lần bốn giảm 10%, còn khoảng 2,76 tỷ đồng; lần năm giảm 10%, còn khoảng 2,48 tỷ đồng; lần sáu giảm 5%, còn khoảng 2,36 tỷ đồng.
Trong lần đấu giá ngày 7/3/2024, ông Duy trúng đấu giá với mức giá này.
Ông Phạm Huy Ân, Phó Trưởng Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Ngãi khẳng định toàn bộ quy trình được thực hiện công khai, đúng quy định, “kê biên thế nào thì đấu giá như thế”.
Lịch sử rắc rối của ngôi nhà
Đất và nhà tại đây ban đầu thuộc về một người đàn ông ở thị trấn Sơn Tịnh cũ, sau đó chuyển nhượng cho bà Phan Thị Hà. Trước khi bị cưỡng chế và đấu giá, tài sản trải qua nhiều lần chuyển nhượng, thay đổi hiện trạng.
Theo bản án của TAND Quảng Ngãi, năm 2015, bà Hà nợ hai người phụ nữ 695 triệu đồng và bị buộc trả nợ. Cùng năm, bà vay thêm của bà Nhung hơn 1,3 tỷ đồng, đã trả 750 triệu, còn nợ 550 triệu đồng.
Năm 2016, bà Hà bán cho bà Nhung nhà, đất tại 118 Bà Triệu với giá 1,7 tỷ đồng. Thời điểm này, sổ đỏ của tài sản cùng hai sổ khác của bà Hà đang thế chấp tại ngân hàng. Bà Nhung bỏ ra 1 tỷ đồng để chuộc ba sổ đỏ, trả thêm 300 triệu đồng, tổng cộng 1,3 tỷ đồng; phần còn lại cấn trừ vào khoản nợ.
Sau đó, bà Hà ly hôn và tiếp tục phát sinh nợ trong giai đoạn 2017-2018, nâng tổng nợ lên hơn 2,686 tỷ đồng với 4 chủ nợ.
Cho rằng bà Hà tẩu tán tài sản để trốn nghĩa vụ trả nợ, chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự TP Quảng Ngãi khởi kiện, yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu. Yêu cầu này được TAND Quảng Ngãi và TAND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận.
Năm 2018, bà Nhung đã được sang tên sổ đỏ, thời điểm cơ quan thi hành án chưa có quyết định ngăn chặn. Ông Phạm Huy Ân cho biết cơ chế phối hợp còn chưa tốt, cần kiểm tra lại, song khẳng định giao dịch này vẫn không hợp pháp theo phán quyết của tòa.
Bà Nhung cho rằng đã phá dỡ nhà cấp bốn cũ, xây lại nhà hai tầng nên việc kê biên cả hai căn nhà là không có cơ sở. Tuy nhiên, chấp hành viên Nguyễn Thế Nhân cho biết nhà hai tầng và nhà cấp bốn phía sau đã tồn tại từ trước, bà Nhung chỉ sửa chữa.
Bà Nhung cho rằng không biết về các khoản nợ của bà Hà và không phải chịu trách nhiệm với các khoản phát sinh sau thời điểm mua bán, đồng thời đề nghị cưỡng chế các tài sản khác. Thi hành án Dân sự cho biết đã kê biên hai sổ đỏ khác của vợ chồng bà Hà nhưng không đủ bảo đảm thi hành án.
Để bảo vệ quyền lợi, bà Nhung được hướng dẫn khởi kiện bà Hà để đòi lại tiền và bồi thường. Tòa đã thụ lý, phong tỏa tài sản, nhưng sau đó bà Nhung rút đơn.
Hai bên cùng kêu cứu
Đến tháng 7/2025, trong lúc ông vắng nhà để lên Đăk Lăk làm việc, bà Nhung cùng một nhóm người phá khóa cửa, chiếm lại căn nhà. Sự việc được camera ghi lại.
Sau đó, ông Duy gửi đơn đến nhiều cơ quan tại Quảng Ngãi đề nghị giải quyết, yêu cầu trả lại nhà. Ở chiều ngược lại, bà Nhung cũng liên tục gửi đơn khiếu nại, khẳng định mình là chủ sở hữu.
Hiện, VKSND tỉnh Quảng Ngãi và nhiều cơ quan chức năng đã tiếp nhận hồ sơ để làm rõ.
Khoản tiền này được trả cố định, không phụ thuộc vào việc tôi gọi nhiều hay ít. Tuy nhiên, thời gian gần đây, sếp thường gọi điện trao đổi công việc vào buổi tối, cuối tuần hoặc những lúc đã tan làm.
Tôi có câu hỏi: Việc công ty hỗ trợ tiền điện thoại có đồng nghĩa với việc tôi phải luôn nghe điện thoại và xử lý công việc bất cứ lúc nào khi sếp gọi hay không? Nếu cuộc gọi đến ngoài giờ làm việc thì tôi có quyền không nghe máy hoặc từ chối trao đổi công việc không?
Luật sư tư vấn:
Nếu đúng như chị trình bày, khoản phụ cấp điện thoại mà công ty chi trả cho chị thực chất là khoản hỗ trợ phục vụ công việc, nhằm giúp chị thuận tiện liên hệ với khách hàng, đối tác hoặc cấp trên khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Việc nhận khoản phụ cấp này không đồng nghĩa với việc chị phải luôn trong trạng thái sẵn sàng nghe điện thoại hoặc xử lý công việc 24/24, kể cả ngoài thời gian làm việc.
Sau khi kết thúc thời gian làm việc bình thường theo Điều 105 Bộ luật Lao động năm 2019, về nguyên tắc người lao động không có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện công việc hoặc xử lý các yêu cầu công việc phát sinh ngoài giờ như nghe điện thoại, trả lời email, tin nhắn của người sử dụng lao động, trừ các trường hợp sau đây:
- Thứ nhất, giữa người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận khác trong hợp đồng lao động, nội quy lao động, quy chế làm việc hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác;
- Thứ hai, người lao động thực hiện làm thêm giờ theo đúng quy định của pháp luật lao động.
Do đó, không thể hiểu đơn giản rằng cứ nhận tiền phụ cấp điện thoại thì người lao động phải nghe máy bất cứ lúc nào từ công ty hoặc cấp trên liên hệ.
Tuy nhiên, để duy trì quan hệ lao động hài hòa và hạn chế những hiểu lầm không đáng có, chị nên trao đổi thẳng thắn với cấp trên hoặc công ty về phạm vi sử dụng khoản phụ cấp điện thoại này. Các bên có thể thống nhất rõ những trường hợp cần hỗ trợ ngoài giờ làm việc, thời gian liên lạc phù hợp, cũng như chế độ hỗ trợ hoặc bù đắp tương xứng nếu người lao động phải dành thời gian xử lý công việc ngoài thời giờ làm việc thông thường.
Cụ thể, tòa tuyên Trần Nhuận Gia (52 tuổi) 11 năm tù, Đoàn Lê Quốc Huy (27 tuổi) 12 năm tù về tội mua bán người dưới 16 tuổi.
Bị cáo Trần Thị Cẩm Tú (31 tuổi) 13 năm 6 tháng tù về tội mua bán người dưới 16 tuổi và làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Các bị cáo Lê Thị Diệu Liên (27 tuổi) và Nguyễn Thị Huyền Trân (27 tuổi) 12 năm tù, Nguyễn Thị Hồng Thắm (27 tuổi) và Võ Thị Hồng (22 tuổi) 11 năm tù cùng về tội mua bán người dưới 16 tuổi.
Hồ sơ vụ án thể hiện Trần Nhuận Gia là Việt kiều sống tại Hoa Kỳ, qua quá trình lưu trú tại Việt Nam kết bạn với Đoàn Lê Quốc Huy. Cả hai thường dùng mạng xã hội Facebook để tìm người sinh con nhưng không có điều kiện nuôi dưỡng để Gia mua về rồi làm giấy tờ giả đem về Hoa Kỳ.
Theo kết quả điều tra, từ năm 2023 đến khi bị phát hiện, Gia nhận nuôi 3 trẻ em. Trong đó, Gia đã mua con của Huỳnh Thị Dung (cháu K.) với giá 40 triệu đồng, của Trần Thị Kim Hoàng (cháu N.) với giá 45 triệu đồng, của Lê Thị Cẩm Bình (cháu Đ.) với giá 45 triệu đồng qua hội nhóm “Cho nhận con nuôi 2” trên Facebook do Trần Thị Cẩm Tú, Lê Thị Diệu Liên, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Huyền Trân môi giới.
Vì không thể đăng ký nhận nuôi con đối với người nước ngoài nên để hợp thức hóa việc mua, tránh bị phát hiện cũng như làm thủ tục visa xuất nhập cảnh, Gia đã lên Facebook mua 1 bộ giấy khai sinh cho cháu K..
Ngoài ra, Gia cũng nhờ Tú làm giả giấy xét nghiệm ADN giữa Gia và cháu Đ.. Sau đó chuyển cho Tú một khoản tiền với nội dung “nội dung đặt cọc làm giấy khai sinh cho cháu K.”, tuy nhiên chưa nhận giấy thì bị bắt.
Đoàn Quốc Huy giúp sức cho Gia trong việc tiếp nhận thông tin, thanh toán chuyển tiền khi mua các trẻ và đưa về nhà Gia, hưởng lợi 20 triệu đồng.
Các bị cáo Trần Thị Cẩm Tú, Lê Thị Diệu Liên, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Huyền Trân có nhiệm vụ tìm kiếm các trẻ em dưới 16 tuổi, người mẹ có hoàn cảnh khó khăn rồi ra giá bán, khi có người bán thì sẽ tìm người mua và nâng giá để cùng nhau thu lợi bất chính.
Qua đó, các bị cáo đã dụ dỗ được Võ Thị Thùy Giang, Trần Thị Kim Hoàng, Nguyễn Ngọc Bích và Lê Thị Cẩm Bình để thực hiện hành vi mua bán.
Từ các lần trao đổi, Tú tham gia 4 vụ hưởng lợi hơn 14 triệu đồng, Liên và Trân tham gia 2 vụ hưởng lợi 15 triệu đồng, Thắm tham gia 2 vụ hưởng lợi hơn 25 triệu đồng, Hồng tham gia 1 vụ hưởng lợi 15 triệu đồng.
Qua quá trình tham gia hội nhóm “Cho nhận con nuôi 2”, các bị cáo liên hệ với nhau qua Zalo, Facebook rồi tìm người cho, nhận, không lập trang, hội nhóm nào khác để thực hiện hành vi. Về phần tiền bán được, các thành viên tự phân chia với nhau.
Ngày 22-5-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM nhận được tin báo về việc căn hộ của Gia nuôi dưỡng nhiều trẻ em không rõ nhân thân. Qua quá trình kiểm tra, cảnh sát phát hiện các cháu bé trên cùng hai người giúp việc. Làm việc với cơ quan điều tra, Gia và Huy đã khai nhận hành vi của mình.
Hội đồng xét xử nhận định hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt xâm phạm đến trẻ em nên cần xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục.
Về hành vi của Gia, Tú và đồng phạm trong việc làm giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã quyết định tách hành vi để tiếp tục điều tra xử lý.
Đối với các đối tượng khác có liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM nhận thấy không tham gia vào quá trình mua bán, là người có hoàn cảnh khó khăn, hiếm muộn… nên không bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 7/4, Sở Cảnh sát tỉnh Ehime của Nhật Bản cho biết một cụ bà ngoài 80 tuổi đã bị lừa mất khoảng 1,2 tỷ yen (tương đương 7,5 triệu USD, khoảng hơn 197 tỷ đồng) trong vụ án gây thiệt hại lớn nhất từ trước đến nay tại nước này.
Kết quả điều tra ban đầu cho thấy các đối tượng đã giả danh cảnh sát và công tố viên yêu cầu cụ bà chuyển tiền "phục vụ công tác điều tra tài sản vì nghi ngờ có dấu biệu bất thường".
Vụ việc bắt đầu vào khoảng ngày 30/10 năm ngoái, khi cụ bà nhận được cuộc gọi từ một người tự xưng là nhân viên hiệu thuốc thông báo rằng thẻ bảo hiểm y tế của bà đã bị sử dụng sai mục đích và sẽ chuyển máy cho cảnh sát.
Sau đó, những kẻ giả danh cảnh sát và công tố viên liên hệ với bà qua mạng xã hội, nói rằng tài khoản của bà bị dùng để rửa tiền, và yêu cầu chuyển toàn bộ tài sản.
Từ tháng 12 năm ngoái đến tháng 2 năm nay, bà đã chuyển tổng cộng 1,2 tỷ yên, qua 8 giao dịch tại 4 tổ chức tài chính. Khi không thể liên lạc lại với những người này, bà mới đến hỏi cảnh sát và phát hiện là mình bị lừa.
Hiện vụ việc đang được điều tra theo hướng một vụ "lừa đảo đặc biệt".
Trong ngày 7/4, Sở Cảnh sát tỉnh Osaka thông báo một người ngoài 70 tuổi tại tỉnh này đã bị lừa mất 300 triệu yen với thủ đoạn tương tự. Đáng chú ý, tài khoản tiếp nhận tiền trùng với tài khoản mà cụ bà ở tỉnh Ehime từng chuyển tiền. Cảnh sát Nhật Bản đang điều tra mối liên hệ giữa hai vụ việc trên.
Tình trạng lừa đảo qua mạng đang có chiều hướng diễn biến phức tạp tại Nhật Bản trong thời gian gần đây, gây thiệt hại rất lớn.
Số liệu của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản công bố ngày 11/2 cho thấy tổng thiệt hại từ các vụ lừa đảo đặc biệt, lừa đảo tình cảm và lừa đảo đầu tư qua mạng xã hội đã tăng vọt lên mức kỷ lục 324,11 tỷ yen (khoảng 2,12 tỷ USD) trong năm 2025, tăng mạnh so với mức 199,1 tỷ yen trong năm 2024. Riêng thiệt hại từ các vụ "lừa đảo đặc biệt" đã tăng 69,54 tỷ yen, lên tổng cộng 141,42 tỷ yen, chủ yếu theo hình thức giả danh cảnh sát và nhắm vào người cao tuổi.