Điểm chung của 2 địa phương không nằm ở số lượng trụ sở được xử lý mà ở tư duy coi tài sản công là nguồn lực phát triển chứ không phải gánh nặng sau sáp nhập.
Tại Quảng Ninh, sau khi sắp xếp 54 xã, phường và đặc khu, toàn tỉnh rà soát 1.732 trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp. Trong đó, 1.412 cơ sở tiếp tục sử dụng, còn 320 cơ sở được xác định là tài sản công dôi dư và xây dựng phương án xử lý.
Điều đáng chú ý là địa phương không lựa chọn cách xử lý đơn thuần bằng thanh lý hoặc bỏ trống. Thay vào đó, từng cơ sở được rà soát để tìm phương án khai thác phù hợp nhất. Có trụ sở được điều chuyển cho các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn; có nơi trở thành nhà văn hóa, thiết chế văn hóa, khu sinh hoạt cộng đồng hoặc quỹ đất tái định cư. Một số cơ sở được giao cho đơn vị có chức năng quản lý, khai thác nhằm tiếp tục phát huy giá trị tài sản.
Theo bà Phạm Thị Thùy Hương, Phó giám đốc Sở Nội vụ Quảng Ninh, trong tổng số 376 trụ sở cấp huyện và cấp xã hiện có, 228 trụ sở tiếp tục sử dụng, 148 trụ sở dôi dư được nghiên cứu phương án xử lý phù hợp. Quan điểm xuyên suốt của tỉnh là ưu tiên chuyển đổi công năng phục vụ giáo dục, y tế và các mục tiêu công cộng trước khi tính tới các phương án khai thác khác.
Việc sắp xếp không chỉ diễn ra với nhà, đất mà còn được mở rộng sang phương tiện công. Toàn bộ 108 ô tô từng thuộc cấp huyện được điều chuyển về 54 đơn vị hành chính cấp xã mới theo đúng định mức, không phát sinh xe dôi dư.
Trong khi đó, Hải Phòng cũng đối mặt với khối lượng tài sản công dôi dư rất lớn sau khi hợp nhất đơn vị hành chính. Sau quá trình rà soát và tiếp nhận thêm cơ sở từ địa phương, cơ quan Trung ương, tổng số nhà, đất dôi dư của thành phố tăng lên 757 cơ sở.
Điểm nổi bật là Hải Phòng hoàn thành bố trí trụ sở làm việc cho toàn bộ 114 xã, phường, đặc khu ngay sau khi vận hành bộ máy mới. Trong đó, 27 đơn vị hoạt động tập trung tại một địa điểm, 87 đơn vị bố trí từ 2 địa điểm trở lên để bảo đảm điều kiện làm việc của Đảng ủy, HĐND, UBND, trung tâm phục vụ hành chính công và các tổ chức chính trị – xã hội.
Đối với quỹ tài sản công dôi dư, thành phố phân loại thành 5 nhóm để xử lý. Có 209 cơ sở tiếp tục sử dụng; 163 cơ sở điều chuyển hoặc chuyển đổi công năng; 290 cơ sở giao Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý, khai thác; 85 cơ sở điều chuyển cho các cơ quan Trung ương và 10 cơ sở thuộc các dự án quy hoạch.
Đến nay, Hải Phòng đã xử lý 681 trong tổng số 757 cơ sở theo thẩm quyền, đạt gần 90%. Đây là một trong những địa phương có tiến độ xử lý tài sản sau sáp nhập nhanh nhất cả nước.
Điểm khác biệt trong cách làm của Quảng Ninh là cùng với sắp xếp, địa phương chủ động thiết lập cơ chế kiểm soát ngay từ đầu.
Ngày 14.5, Thanh tra tỉnh Quảng Ninh công bố quyết định thanh tra diện rộng việc quản lý, sử dụng, sắp xếp và xử lý tài sản công dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính; triển khai tại các xã, phường, đặc khu, sở, ngành, doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị liên quan. Mục tiêu không chỉ là phát hiện sai phạm mà còn đánh giá toàn diện việc thực hiện quy định pháp luật, kịp thời kiến nghị sửa đổi những bất cập trong cơ chế quản lý tài sản công.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng yêu cầu quá trình quản lý phải công khai, minh bạch, gắn trách nhiệm người đứng đầu. Mỗi trụ sở, mỗi khu đất đều phải được tính toán kỹ để phục vụ phát triển kinh tế xã hội và lợi ích của người dân.
Đối với Hải Phòng, cùng với việc xử lý dứt điểm tài sản công dôi dư, thành phố còn hướng tới khai thác hiệu quả nguồn lực này. Theo định hướng của UBND thành phố, nguồn thu từ đấu giá hoặc cho thuê các cơ sở dôi dư sẽ ưu tiên đầu tư trở lại trường học, trạm y tế, trung tâm văn hóa, hạ tầng kinh tế và các công trình an sinh tại chính những địa phương vừa thực hiện sáp nhập.
Lãnh đạo thành phố cũng yêu cầu hoàn thành xử lý toàn bộ số cơ sở còn lại theo đúng tiến độ, bảo đảm không để xảy ra thất thoát, lãng phí tài sản công. Nhìn rộng hơn, câu chuyện tài sản công dôi dư không còn đơn thuần là xử lý vài trăm trụ sở hay vài nghìn mét vuông đất công. Đây là thước đo năng lực quản trị sau cải cách hành chính.
Sáp nhập đơn vị hành chính giúp tinh gọn đầu mối, nhưng nếu các trụ sở cũ bị bỏ hoang, tài sản công xuống cấp hoặc sử dụng không đúng mục đích thì hiệu quả cải cách sẽ chưa trọn vẹn. Ngược lại, khi mỗi trụ sở được khai thác đúng công năng, mỗi khu đất được chuyển đổi hợp lý và mỗi đồng vốn từ tài sản công được tái đầu tư cho hạ tầng, giáo dục, y tế hay thiết chế văn hóa, giá trị của cuộc cải cách sẽ được nhân lên nhiều lần.
Từ thực tiễn của Quảng Ninh và Hải Phòng, có thể thấy xử lý tài sản công dôi dư không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của quản lý tài sản mà đã trở thành một phần trong chiến lược phát triển địa phương. Đó cũng là thông điệp quan trọng của quá trình sắp xếp đơn vị hành chính hiện nay: tinh gọn bộ máy phải đi liền với sử dụng hiệu quả tài sản công, biến nguồn lực sẵn có thành động lực mới cho phát triển bền vững.
UBND TP HCM vừa chấp thuận cho liên danh VNCN E&C - Công ty Xây dựng và Kỹ thuật Việt Nam - Horizon nghiên cứu, lập hồ sơ đề xuất dự án chỉnh trang khu Ao Song Tân và sông Ông Lớn, phường Tân Hưng, sau khi phương án sơ bộ được Sở Tài chính xem xét.
Dự án có diện tích khoảng 43,57 ha, gồm khu Ao Song Tân rộng 31,68 ha, trong đó 11,46 ha mặt nước, và khu sông Ông Lớn rộng 11,89 ha. Nhà trên và ven sông trong ranh dự án sẽ được di dời, giải tỏa, gắn với phương án tái định cư, bảo đảm an sinh cho người dân.
Tổng mức đầu tư sơ bộ 12.726 tỷ đồng, do nhà đầu tư thu xếp từ vốn tự có và vốn huy động. Thành phố dự kiến thanh toán bằng quỹ đất kết hợp ngân sách, tỷ lệ cụ thể được xác định ở các bước sau.
Theo thống kê của quận 7 cũ, khu Ao Song Tân có khoảng 770 căn nhà trên và ven sông, còn sông Ông Lớn khoảng 853 căn. Hai khu vực này từng nhiều lần được địa phương đề xuất cải tạo, song chưa thể triển khai do thiếu nguồn lực.
Dự án nằm trong đề án chỉnh trang đô thị khu vực nhà trên và ven sông, kênh, rạch của TP HCM. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ bản hoàn tất di dời, tái định cư người dân sống trên và ven sông, kênh, rạch ở địa bàn cũ; đồng thời khơi thông dòng chảy, cải thiện môi trường và khai thác quỹ đất ven sông để phát triển đô thị.
Từ năm 1993 đến 2025, TP HCM đã di dời hơn 44.300 căn nhà trên và ven kênh rạch. Việc giải tỏa, bố trí nơi ở mới cho người dân đã tạo diện mạo mới cho nhiều tuyến kênh như Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tàu Hủ - Bến Nghé, Tân Hóa - Lò Gốm.
Tuy nhiên, sau giai đoạn 1993-2005, các kế hoạch di dời nhà ven kênh rạch liên tục không đạt mục tiêu, chủ yếu do thiếu vốn và vướng giải phóng mặt bằng. Gần đây, TP HCM khởi động lại nhiều dự án chỉnh trang quy mô lớn như rạch Xuyên Tâm hơn 17.000 tỷ đồng, bờ bắc kênh Đôi hơn 7.300 tỷ đồng và rạch Văn Thánh hơn 6.800 tỷ đồng. Ba dự án này dự kiến giải tỏa gần 5.000 căn nhà trên và ven kênh rạch.
Ngày 12.5, dưới sự bảo trợ của Bộ Công an, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Liên minh Niềm tin số phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức diễn đàn "Digital Trust in Finance 2026" với chủ đề "Xây dựng niềm tin số tài chính trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI)".
Phát biểu khai mạc diễn đàn, thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an, nhấn mạnh, trong bối cảnh AI và công nghệ số phát triển mạnh mẽ, niềm tin số đang trở thành nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững của kinh tế số và hệ thống tài chính hiện đại.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng cho rằng, niềm tin trong môi trường số không còn là yếu tố cảm tính mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để các giao dịch được thực hiện và các quyết định tài chính được xác lập.
Các phương thức lừa đảo, chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức, đặc biệt với sự "hỗ trợ" của công nghệ AI đã tạo nên những "niềm tin giả" rất khó nhận diện. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng thủ thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Theo ông Tùng, một hệ thống tài chính an toàn không chỉ là hệ thống không có rủi ro, mà là hệ thống nơi người dùng thực sự được bảo vệ, được trang bị năng lực nhận diện rõ rủi ro và được hỗ trợ kịp thời khi xảy ra các sự cố.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng cho rằng niềm tin số không thể được xây dựng bởi một cơ quan đơn lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội.
Phát biểu tại diễn đàn, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng cũng cho rằng trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, niềm tin phải được xem như một hạ tầng chiến lược của nền kinh tế số, được xây dựng bằng thể chế, công nghệ, quản trị rủi ro và sự phối hợp liên ngành.
Theo ông Dũng, trí tuệ nhân tạo AI mang lại nhiều cơ hội cho ngành ngân hàng như nâng cao hiệu quả vận hành, tự động hóa quy trình, cá nhân hóa dịch vụ, chấm điểm tín dụng, chăm sóc khách hàng, phát hiện giao dịch bất thường, phòng chống gian lận và rửa tiền.
Tuy nhiên, công nghệ này cũng làm phát sinh các rủi ro mới như deepfake, lừa đảo cá nhân hóa, giả mạo danh tính, thiên lệch thuật toán, mô hình "hộp đen" và nguy cơ tự động hóa các quyết định có tác động lớn tới khách hàng nếu thiếu kiểm soát phù hợp.
Trình bày tham luận với chủ đề An ninh tài chính số: Từ bảo vệ hệ thống đến bảo vệ người dùng tại diễn đàn, thượng tá Triệu Mạnh Tùng, Phó cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05 - Bộ Công an), nhấn mạnh bảo vệ tài chính số không chỉ là bảo vệ hệ thống, mà còn là bảo vệ niềm tin của người dùng.
Để bảo vệ người dùng hiệu quả thì xác thực tài khoản là chưa đủ, thậm chí xác thực yếu tố sinh trắc học khi chuyển tiền như hiện nay cũng vẫn không đủ.
Cần chuyển dịch tư duy bảo vệ người dùng, trong đó phải có cơ chế xác thực hành vi người dùng, những vấn đề bất thường… và cần triển khai phòng ngừa chủ động, trong đó tập trung giáo dục nâng cao nhận thức và các kỹ năng tài chính số.
Trong kỷ nguyên AI, việc bảo vệ người dùng không thể chờ tới khi thiệt hại xảy ra mới xử lý mà cần có cơ chế cảnh báo rủi ro ngay trước thời điểm người dùng thực hiện giao dịch.
Muốn làm được điều này, dữ liệu về các mối nguy cơ phải đủ lớn và được cập nhật để chia sẻ. Cạnh đó, cần có sự tham gia của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ, các nền tảng số và cộng đồng đóng góp vào cơ sở dữ liệu chung, đồng thời sử dụng dữ liệu đó để chủ động cảnh báo cho khách hàng, người dùng của mình.
"Mong rằng trong kỷ nguyên số chúng ta sẽ bảo vệ các hệ thống tốt, đồng thời cũng bảo vệ khách hàng của mình", thượng tá Triệu Mạnh Tùng nhấn mạnh.
Ngày 13/5, trong khuôn khổ chuyến thăm Triều Tiên, Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ông Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đã có cuộc làm việc với ông Kim Song Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Quốc tế Đảng Lao động Triều Tiên và hội đàm với ông Choe Son Hui, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Triều Tiên.
Hoan nghênh chuyến thăm Triều Tiên của Đặc phái viên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Choe Son Hui khẳng định việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cử Đặc phái viên sang Triều Tiên thông báo về kết quả Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự coi trọng cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam với Đảng, Nhà nước và nhân dân Triều Tiên.
Bộ trưởng Ngoại giao Choe Son Hui nhiệt liệt chúc mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và vị thế ngày càng nâng cao của Việt Nam; khẳng định lập trường nhất quán của Triều Tiên là luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước và theo tinh thần thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai nước tại cuộc gặp ở Bình Nhưỡng tháng 10/2025.
Tại các cuộc gặp, Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ông Lê Hoài Trung chúc mừng Triều Tiên đã tổ chức thành công Đại hội IX Đảng Lao động Triều Tiên; vui mừng thông báo về những kết quả quan trọng và thành công tốt đẹp của Đại hội Đảng lần thứ XIV; nhấn mạnh Đại hội đã đề ra đường lối, mục tiêu tổng quát, các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược nhằm xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với tư tưởng xuyên suốt lấy “Dân là gốc”.
Ông Lê Hoài Trung khẳng định Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn mong muốn không ngừng vun đắp và thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Triều Tiên ngày càng phát triển thực chất, hiệu quả, phù hợp với nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, góp phần vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực và trên thế giới.
Trong không khí hữu nghị, cởi mở, hai bên nhất trí tiếp tục củng cố tin cậy chính trị thông qua các hoạt động giao lưu, trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của cả hai bên; đẩy mạnh giao lưu nhân dân hai nước.
Tại cuộc hội đàm, hai bên cũng đã trao đổi về các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm; nhất trí tăng cường hợp tác, điều phối tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.