Những ngày Guardiola chia tay bóng đá Anh cũng là thời điểm nổ ra cuộc phân tranh dữ dội với huyền thoại Old Trafford, Ferguson. Nếu những cuộc đối đầu trực tiếp giữa hai nhân vật này ở giai đoạn Guardiola còn dẫn dắt Barca từng chỉ là cơ sở để đánh giá tiềm năng của HLV người Tây Ban Nha, thì di sản của ông ở Man City chính thức mở ra cuộc tranh luận “Ai vĩ đại hơn?”.
Câu trả lời hiển nhiên bị chia rẽ bởi lăng kính định kiến của người hâm mộ. CĐV Man Utd cho rằng Ferguson là số một. Trong khi đó, phần còn lại của thế giới đều công nhận Guardiola đã làm lu mờ cựu HLV người Scotland ở mọi khía cạnh có thể đong đếm. Những thành tựu vô tiền khoáng hậu giúp định vị ông ở một đẳng cấp khác biệt.
Không một nhà vô địch Ngoại hạng Anh nào giành được nhiều điểm số hơn Man City của Guardiola. Tập thể này đã thiết lập những chuẩn mực mới khi phá vỡ cột mốc 100 điểm ở mùa 2017-2018. Cũng chưa từng có chiến lược gia nào giành được 4 chức vô địch Anh liên tiếp. Và tại xứ sương mù này, chỉ có Bob Paisley mới gặt hái nhiều vinh quang đến thế trong một quãng thời gian không dài.
Khi Guardiola đến Anh vào năm 2016, Man City vẫn kém xa Man Utd và Liverpool về bề dày truyền thống, với chỉ 18 danh hiệu lớn nhỏ. Nhưng bằng việc mang về thêm 20 chiếc cup, Guardiola đã vẽ lại bản đồ bóng đá Anh mãi mãi. Ông biến Man City thành một gã khổng lồ, một biểu tượng của triết lý bóng đá vị nghệ thuật, và thứ bản sắc này chắc chắn sẽ được đem ra để so sánh đối với mọi HLV kế nhiệm sau này.
Đó cũng chính là dấu ấn ông để lại ở Barca, với 3 La Liga liên tiếp và 2 Champions League. Vậy nên, tôi luôn thấy khó hiểu với những ai xếp Ferguson trên Guardiola. Tôi không tìm nổi một lý do thỏa đáng nào để biện minh cho nhận định đó. Những ai bảo thủ phủ nhận điều này dường như đã quên mất rằng, khi hai bộ óc thiên tài này đối đầu nhau ở sân khấu lớn nhất cấp CLB, Guardiola luôn giành phần thắng thuyết phục.
Đội hình mạnh nhất lịch sử Man Utd của Ferguson đã bại trận 0-2 trước Barca của Guardiola ở chung kết Champions League 2009. Hai năm sau, nhà vô địch La Liga tiếp tục viết nên một bài học bóng đá mẫu mực – thứ đã thay đổi cách vận hành của thế giới túc cầu ở mọi cấp độ trong suốt 15 năm qua – khi hạ gục một Man Utd với đầy hào thủ 3-1.
Trong suốt 26 năm tại vị ở Old Trafford, Ferguson đã nâng tầm chiến thắng thành một thói quen để mang về 38 danh hiệu. Nhưng tỷ lệ thắng của Guardiola trong 10 năm ở Man City lại cao hơn hẳn. Đúng là ông chưa thể bắt kịp kỷ lục 13 Ngoại hạng Anh của Ferguson. Nhưng liệu chúng ta có đang đánh giá sự vĩ đại của một HLV chỉ dựa vào lòng trung thành lâu năm với một CLB duy nhất?
Ở tuổi 55, Guardiola đã xưng vương tại ba nền bóng đá hàng đầu châu Âu. Về lý thuyết, dựa trên quỹ đạo thăng tiến hiện thời, nếu HLV sinh năm 1971 đủ năng lượng để cống hiến cho bóng đá đến năm 71 tuổi như Ferguson, số danh hiệu ông gặt hái được chắc chắn sẽ còn đồ sộ hơn nhiều.
Một yếu tố quan trọng không kém chính là di sản mà chiến lược gia Catalonia để lại. Di sản đó ở một tầm vóc hoàn toàn khác, bởi ông là người có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến bóng đá trong thế kỷ 21, giai đoạn bao trùm cả thời kỳ đỉnh cao của Ferguson. Chưa từng có HLV nào tạo ra nhiều “bản sao” đến thế. Guardiola đã viết lại các giáo trình huấn luyện và định nghĩa lại tư duy bóng đá hiện đại.
Người ta thường dùng cụm từ “phát minh lại bánh xe” để mỉa mai các HLV cố tỏ ra khác biệt. Nhưng ngay từ ngày đầu cầm quân, Guardiola đã là người dẫn đầu xu thế chứ không phải kẻ ăn theo. Ông tiếp thu nguồn cảm hứng từ người thầy quá cố Johan Cruyff để áp dụng chiến thuật số 9 ảo và các tiền đạo cánh giãn biên cực đại thời còn ở Barca.
Nhưng trước đó, đã có ai trong chúng ta hình dung ra viễn cảnh một đội bóng thống trị nước Anh với những trung vệ lai (hybrid) và hậu vệ cánh có thể chơi ở trung lộ như những tiền vệ làm bóng? Hay việc các thủ môn sẽ không có chỗ đứng nếu kỹ năng chơi chân không xuất sắc như chơi tay?
Một số HLV vĩ đại nhất lịch sử thành công nhờ việc nâng tầm và thực thi hoàn hảo các ý tưởng sẵn có. Ferguson chính là học trò xuất sắc kế thừa di sản của Sir Matt Busby và người thầy Jock Stein, áp đặt lối chơi tấn công 4-4-2 trực diện, bốc lửa và đầy thực dụng.
Paisley xứng đáng góp mặt trong danh sách những nhà cầm quân xuất sắc nhất mọi thời xét về số lượng danh hiệu đồ sộ. Ông thường bị ngó lơ ở vị trí số một vì như chính ông từng thừa nhận, ông được ca ngợi nhờ tiếp quản và phát triển trên nền móng vững chắc do Bill Shankly để lại – người mà triết lý bóng đá vẫn luôn thấm đẫm tại Anfield.
Paisley đã chinh phục châu Âu bằng cách nhào nặn những tư tưởng tiến bộ nhất của Shankly, đồng thời không ngừng tiến hóa sau khi học hỏi từ tập thể Ajax huyền thoại của Rinus Michels. Chiến thắng 5-0 của Ajax trước Liverpool của Shankly vào giữa những năm 1960 đã thay đổi hoàn toàn tư duy của đội bóng vùng Merseyside, mở ra một kỷ nguyên thống trị cả ở quốc nội lẫn châu Âu.
Guardiola tiếp nối trường phái của Michels thông qua Cruyff, nhưng ông đã vượt qua cả hai bậc tiền bối để trở thành môn đồ thành công nhất của triết lý “bóng đá tổng lực” (total football). Ông nhào nặn một Barca tiệm cận sự hoàn hảo. Và rồi ông lặp lại kỳ tích đó với thế hệ vàng đầu tiên của mình tại Man City – một nhà vô địch Ngoại hạng Anh tuyệt đối không có điểm yếu.
Luồng ý kiến ủng hộ Ferguson luôn mang thành công của ông tại Aberdeen để phản biện, lập luận rằng Guardiola chưa bao giờ dẫn dắt một đội bóng có tiềm lực tài chính hạn hẹp đi đến danh hiệu quốc nội và vinh quang châu Âu.
Tuy nhiên, bạn không thể đánh giá sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc giữa các CLB lớn và nhỏ ở thế kỷ 21 bằng cán cân lực lượng tương đối cân bằng của những năm 1980. Đó là thời đại mà Gothenburg có thể vô địch Cup UEFA 1982 dưới sự dẫn dắt của Sven-Goran Eriksson, hay Dundee Utd có thể lọt vào bán kết Cup C1 1984 và chung kết Cup UEFA 1987.
Tôi nói vậy không nhằm mục đích xem nhẹ những chiến tích phi thường của Ferguson tại Scotland, nhưng việc dùng chúng để hạ thấp trình độ của Guardiola thì lại quá phi lý. Không một HLV hiện đại nào có thể tái hiện những gì Ferguson đã làm ở Aberdeen, hay Brian Clough ở Nottingham Forest. Ngày nay, cứ mỗi khi một đội tầm trung trỗi dậy thách thức giới tinh hoa, họ sẽ ngay lập tức bị xâu xé chỉ sau một vài kỳ chuyển nhượng.
Những HLV như Ferguson hay Guardiola sẽ không thể duy trì vị thế ở một CLB như Aberdeen trong suốt 8 năm, bởi họ sẽ liên tục phải thay máu đội hình và xây dựng lại từ đầu. Leicester City từng vô địch Ngoại hạng Anh rồi mất N’Golo Kante ngay trong mùa hè năm đó, hay Monaco phải ngậm ngùi chia tay Kylian Mbappe sau khi xưng vương nước Pháp và vào đến bán kết Champions League 2016-2017.
Nếu Aberdeen của Ferguson xuất hiện ở thời này, những Willie Miller, Alex McLeish hay Eric Black đã đầu quân cho các CLB lớn hơn với mức giá và mức lương khó cưỡng trước khi kịp có cơ hội vô địch Cup C2. Một CLB hàng đầu tại Champions League cũng sẽ ngay lập tức trải thảm đỏ đón bất kỳ HLV nào sớm cho thấy tài năng ở cấp độ đó.
Một lập luận khác được dùng để ủng hộ Ferguson là ông đã xây dựng được nhiều thế hệ đội hình khác nhau để duy trì sự thống trị tại Ngoại hạng Anh. Nhưng Guardiola cũng như vậy. Ông thay thế mượt mà những ngôi sao đẳng cấp thế giới để giữ cho cỗ máy chiến thắng luôn lăn bánh. Những Yaya Toure, Vincent Kompany, David Silva, Sergio Aguero hay Kevin De Bruyne lần lượt ra đi, nhưng các danh hiệu thì vẫn cứ đến đều đặn.
Chúng ta cũng cần có sự tách bạch rạch ròi giữa khâu quản lý thượng tầng và thiên tài trên băng ghế chỉ đạo, khi cho rằng kỷ nguyên Guardiola được “nuôi” bởi hàng tỷ USD từ Abu Dhabi và có thể bị hoen ố bởi các cáo buộc vi phạm quy định tài chính. Bất kể kết quả cuộc điều tra có ra sao, tài năng kiệt xuất của Guardiola vẫn không thể bị lu mờ.
Suy cho cùng, Man Utd đã chi nhiều tiền hơn Man City cho khâu chuyển nhượng trong 10 năm qua. “Quỷ Đỏ” dưới thời Ferguson luôn là đội bạo chi, phá vỡ kỷ lục chuyển nhượng nước Anh với tần suất dày đặc hơn nhiều so với Guardiola.
Thước đo thực sự của sự vĩ đại thường trở nên rõ ràng nhất qua những gì diễn ra hậu kỷ nguyên đó. Man United vẫn chưa thể lấy lại vị thế vốn có từ ngày Ferguson giải nghệ, và dù Enzo Maresca có thể là một sự thay thế xứng đáng cho Guardiola, Man City chắc chắn sẽ không còn duy trì được vị thế độc tôn như trước.
Với cuộc chia tay của Guardiola, một kỷ nguyên của Ngoại hạng Anh chính thức khép lại. Ông rời Man City với tư cách là HLV vĩ đại nhất lịch sử túc cầu.
Cuộc đấu tại sân Hà Tĩnh giữa đội đứng thứ 13 V-League PVF-CAND và á quân hạng Nhất Bắc Ninh, để tranh tấm vé thứ 14 dự V-League 2026-2027. Hai đội đều khao khát chiến thắng, trong đó Bắc Ninh được cho sẽ nhận thưởng 10 tỷ đồng từ giới chủ.
Tính chất quan trọng khiến trận đấu được áp dụng VAR và tổ chức trên sân trung lập. Hai trọng tài người Singapore là Ahmad A’Qashah và Muhammad Taqi cũng được mời về bắt chính và điều hành phòng VAR.
Đây còn là cuộc tái ngộ giữa HLV Paulo Foiani của Bắc Ninh và Trần Tiến Đại của PVF-CAND. Mối lương duyên giữa cả hai có từ V-League 2023, khi ông Đại đưa Foiani về dẫn dắt tân binh V-League khi ấy là Công an Hà Nội.
Dù đá hạng Nhất, Bắc Ninh không bị đánh giá thấp hơn PVF-CAND. Đội có những cầu thủ dày dạn kinh nghiệm đá V-League như thủ môn Huỳnh Tuấn Linh, trung vệ Trương Văn Thiết, tiền vệ Nguyễn Hải Huy, Ngân Văn Đại hay tiền đạo người Brazil Bruno Cunha. Bên cạnh đó, trận đấu cũng chỉ được phép dùng một ngoại binh để cân bằng với hạng Nhất. Điều này khiến PVF-CAND vốn quen việc đá ba ngoại binh gặp khó khăn hơn.
Bắc Ninh chơi có nét hơn trong hiệp một. Bước ngoặt đến ở phút 28 khi Văn Đại bị hậu vệ đối phương phạm lỗi trong vòng cấm. Sau hai phút tham khảo VAR và xem lại video, trọng tài A’Qashah thổi phạt đền, để Bruno sút vào góc phải mở tỷ số.
Sang hiệp hai, PVF-CAND mới phối hợp tấn công tốt hơn. Bàn gỡ đến ở phút 55, với pha tạt bóng từ cánh trái của Eid cho Samson đánh đầu vào góc cao phải thành bàn.
Tỷ số này khiến hai đội chơi chặt chẽ hơn và không mạo hiểm dâng cao tấn công. Một số cơ hội được tạo ra nhưng chưa đủ nguy hiểm để thành bàn thắng. Hai hiệp chính khép lại buộc hai đội bước vào loạt luân lưu.
Bắc Ninh là đội sút sau, lại hai lần đá hỏng trước. Tuy nhiên, PVF-CAND không thể tận dụng cơ hội, ngược lại còn sút hỏng thêm một lần dẫn đến thất bại 4-5.
Các cầu thủ Bắc Ninh hò hét và chạy quanh sân ăn mừng, còn HLV Foiani quỳ và gục đầu xuống sân bật khóc. Trên khán đài, người hâm mộ xứ quan họ mở hội, với âm nhạc và pháo sáng.
Đây là mùa giải V-League thứ 14 có loạt play-off trụ hạng giữa một đội V-League và hạng Nhất. Đây mới là thất bại thứ 4 của các đội V-League, và sau quãng thời gian 13 năm. Lần gần nhất một đội hạng Nhất thắng là Cần Thơ hạ An Giang 3-0 ở sân Gò Đậu (Bình Dương) mùa 2014.
CLB Bắc Ninh thành lập năm 2023, với hầu hết là cầu thủ trẻ. Một năm sau, họ mua lại suất đá hạng Nhì của Gia Định, mời cựu HLV trưởng đội tuyển Việt Nam Park Hang-seo về làm cố vấn cấp cao. Ở hạng Nhất 2025-2026, Bắc Ninh đứng nhì với 45 điểm sau 22 trận, kém đội vô địch Đồng Nai 5 điểm.
Trong khi đó, PVF-CAND thi đấu V-League 2025-2026 với suất thay thế Quảng Nam – đã giải thể. Tuy nhiên, chất lượng cầu thủ không tương xứng với mặt bằng chung giải đấu khiến đội ngụp lặn ở vị trí cuối bảng. Chỉ có sự sa sút không phanh của Becamex TP HCM (trước là Bình Dương) mới giúp PVF-CAND thoát hiểm. Hai đội có cùng 24 điểm sau 26 trận, nhưng PVF-CAND đứng thứ 13 nhờ hơn hiệu số đối đầu.
Đội hình xuất phát
Bắc Ninh: Huỳnh Tuấn Linh, Đinh Văn Trường, Trương Văn Thiết, Văn Đạt, Vũ Hồng Quân, Thanh Khôi, Hải Huy, Phan Văn Hiếu, Ngân Văn Đại, Mai Xuân Quyết, Bruno Cunha
PVF-CAND: Đỗ Sỹ Huy, Đoàn Anh Việt, Phạm Lý Đức, Võ Anh Quân, Văn Dũng, Huỳnh Công Đến, Xuân Bắc, Thanh Nhàn, Đỗ Văn Thuận, Hoàng Vũ Samson, Mahmoud Eid.
Đối với kỳ thủ số 1 Việt Nam Lê Quang Liêm, Biel GMT Masters Triathlon là một trong những giải đấu có thể thức thi đấu độc đáo nhất thế giới hiện nay.
Thay vì chỉ thi đấu ở một nội dung quen thuộc, các kỳ thủ phải bước vào cuộc đua marathon thể lực và tích lũy điểm kéo dài gần hai tuần, tranh tài ở cả 4 thể thức: cờ tiêu chuẩn, cờ nhanh, cờ chớp và cờ 960.
Giải đấu năm nay quy tụ 6 kỳ thủ hàng đầu gồm: Đại kiện tướng Lê Quang Liêm, siêu kỳ thủ Levon Aronian, Matthias Bluebaum, José Martínez, Aydin Suleymanli và thần đồng người Thổ Nhĩ Kỳ Yagız Kaan Erdogmuş.
Ở nội dung cờ 960 mở màn trước đó, Lê Quang Liêm đã có khởi đầu không thực sự như ý khi chỉ xếp thứ 5/6 với 4 trên 10 điểm.
Tuy nhiên khi bước vào nội dung cờ tiêu chuẩn, bản lĩnh của kỳ thủ số 1 Việt Nam đã lên tiếng đúng lúc.
Lê Quang Liêm thi đấu bùng nổ và lần lượt đánh bại hai đối thủ là Đại kiện tướng José Martínez cùng Matthias Bluebaum trong hai ngày ra quân đầu tiên.
Hai chiến thắng tuyệt đối này giúp Liêm tích lũy thêm những điểm số quan trọng để vươn lên vị trí thứ nhì trên bảng xếp hạng tổng với 12 điểm.
Anh hiện có cùng số điểm với người dẫn đầu là siêu Đại kiện tướng Levon Aronian và chỉ tạm xếp sau do kém chỉ số phụ từ nội dung cờ 960 trước đó.
Tại vòng 3 nội dung cờ tiêu chuẩn (16-7), Lê Quang Liêm sẽ chạm trán với thần đồng đến từ Thổ Nhĩ Kỳ - Yağız Kaan Erdoğmuş.
Việc liên tiếp ký kết với các đối tác lớn không chỉ cho thấy tốc độ phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái D-Joy, mà còn khẳng định năng lực tổ chức, vận hành và tầm nhìn dài hạn trong hành trình chuyên nghiệp hóa ngành thể thao tại Việt Nam.
Ngày 24-4 vừa qua, tại TP.HCM, D-Joy chính thức công bố nâng tầm quan hệ hợp tác chiến lược với DUPR (Dynamic Universal Pickleball Rating) - hệ thống xếp hạng được xem là "ngôn ngữ chung" đánh giá trình độ người chơi Pickleball và có hơn 2 triệu người dùng trên toàn cầu. Điểm nhấn là việc DUPR lựa chọn Việt Nam làm nơi đặt Văn phòng đại diện đầu tiên tại châu Á, đặt trụ sở ngay trong hệ sinh thái D-Joy.
Đây được xem là cột mốc mang tính biểu tượng, khẳng định vị thế ngày càng quan trọng của Việt Nam trên bản đồ Pickleball toàn cầu, đồng thời cho thấy vai trò tiên phong của D-Joy trong việc chuyên nghiệp hóa bộ môn này tại khu vực.
Trong khuôn khổ hợp tác, DUPR trở thành hệ thống xếp hạng duy nhất áp dụng cho toàn bộ hệ sinh thái của D-Joy trên toàn cầu. Điều này mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng người chơi tại hệ thống sân bãi và học viện của D-Joy, giúp họ có một "thẻ định danh" năng lực được công nhận trên toàn thế giới.
Ông Đặng Quang Anh - Chủ tịch D-Joy (bên phải) và ông Kevin Kim - Giám đốc vận hành DUPR (bên trái) tham quan cơ sở vật chất tại D-Joy
Sự hợp tác được triển khai đồng bộ thông qua nhiều nền tảng trọng điểm như: Hệ thống Giải đấu D-Joy Tour (tích hợp dữ liệu DUPR vào toàn bộ các chặng từ Leg 1, Leg 2, Leg 3 đến giải đấu danh giá Vietnam Masters); Học viện D-Joy Academy (quy trình đào tạo bài bản giúp học viên từ người mới bắt đầu đến vận động viên chuyên nghiệp đều có lộ trình thăng hạng rõ ràng trên thang đo quốc tế).
Phân tích dữ liệu chuyên sâu (DUPR cung cấp các công cụ phân tích kỹ thuật hiện đại cho các vận động viên tham gia hệ thống giải của D-Joy, giúp nâng tầm chất lượng chuyên môn cho Pickleball nước nhà).
Ông Kevin Kim - Giám đốc vận hành DUPR, nhận định: "Châu Á là thị trường trọng điểm và Việt Nam chính là trái tim của sự phát triển đó. Chúng tôi chọn đặt trụ sở tại đây vì tin tưởng tuyệt đối vào năng lực vận hành và tầm nhìn chiến lược của D-Joy".
Ông Đặng Quang Anh - Chủ tịch D-Joy chia sẻ: "Sự kết hợp giữa hạ tầng hàng đầu của D-Joy và công nghệ chuẩn mực của DUPR sẽ giúp vận động viên Việt Nam tự tin chinh phục các đấu trường quốc tế. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho vai trò tiên phong của D-Joy trong hành trình chuyên nghiệp hóa Pickleball".
Tiếp nối sau đó, ngày 7-5, D-Joy tiếp tục ký kết hợp tác chiến lược cùng trường đại học Quản lý và Công nghệ TP.HCM (UMT), đánh dấu bước phát triển mới trong chiến lược mở rộng hệ sinh thái doanh nghiệp, đặc biệt đối với ngành Quản lý Thể dục Thể thao.
D-Joy hiện sở hữu 3 cụm sân trọng điểm tại Tân Vạn, Thủ Thiêm và Nam Sài Gòn với tổng quy mô lên đến 76 sân đạt chuẩn quốc tế. Đây là hạ tầng nền tảng để D-Joy triển khai những hoạt động thể thao chuyên nghiệp tầm cỡ châu lục.
Ông Đặng Quang Anh - Chủ tịch D-Joy (bên phải) và TS. Nguyễn Cảnh Tuấn - Phó Hiệu trưởng UMT (bên trái) thực hiện nghi thức ký kết
Điểm nhấn tạo nên thương hiệu D-Joy chính là hệ thống giải đấu D-Joy Tour với 4 chặng quy mô, thu hút đông đảo vận động viên quốc tế và các ngôi sao hàng đầu tham gia tranh tài.
Đặc biệt, chặng Vietnam Masters được ví như "Grand Slam của Việt Nam" - nơi quy tụ những màn trình diễn đỉnh cao và tiêu chuẩn tổ chức khắt khe nhất. Song song đó, hệ thống giải trẻ Junior Tour với 6 chặng liên tiếp đã trở thành sân chơi uy tín, góp phần xây dựng nền tảng phát triển lâu dài cho bộ môn Pickleball.
Lễ ký kết giữa D-Joy và UMT đánh dấu bước phát triển mới trong chiến lược mở rộng hệ sinh thái doanh nghiệp, đặc biệt đối với ngành Quản lý Thể dục Thể thao
Theo nội dung hợp tác, D-Joy và UMT sẽ phối hợp triển khai nhiều hoạt động, gồm: Kết nối đào tạo với thực tiễn doanh nghiệp; Tổ chức kiến tập, thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp cho sinh viên; Phối hợp tổ chức sự kiện, giải đấu và hoạt động thể thao: Phát triển chương trình đào tạo và chứng chỉ chuyên môn; Mở rộng cơ hội hợp tác cho nhiều ngành đào tạo của UMT; Tăng cường truyền thông, thương hiệu và kết nối cộng đồng.
Bên cạnh đó, UMT sẽ trao tặng những suất học bổng dành cho các vận động viên trẻ, thể hiện cam kết lâu dài trong việc đầu tư để nuôi dưỡng các tài năng vươn ra đấu trường quốc tế, hướng đến sự phát triển toàn diện và bền vững của thể thao Việt Nam.
Việc liên tiếp ký kết cùng hai đối tác lớn trong lĩnh vực công nghệ thể thao toàn cầu và đào tạo đại học cho thấy D-Joy đang phát triển theo định hướng bài bản, chuyên nghiệp và bền vững. Thông qua những bước đi chiến lược, D-Joy luôn kiên định với mục tiêu đưa Pickleball tiến thẳng tới các đấu trường đỉnh cao, sẵn sàng cho SEA Games, ASIAD và hướng đến Olympic.
Nếu DUPR giúp D-Joy nâng tầm về công nghệ, dữ liệu và chuẩn hóa chuyên môn quốc tế, thì UMT đóng vai trò bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành thể thao tương lai. Hai mảnh ghép này góp phần hoàn thiện hệ sinh thái toàn diện mà D-Joy đang xây dựng từ hạ tầng, giải đấu, đào tạo, vận hành đến kết nối cộng đồng.
Không dừng lại ở việc phát triển một bộ môn thể thao, D-Joy đang từng bước tham gia vào quá trình hình thành nền kinh tế thể thao hiện đại tại Việt Nam - nơi thể thao được vận hành như một ngành công nghiệp chuyên nghiệp, hội nhập quốc tế.