Chiều 3.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác tổ chức xây dựng Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Phát biểu kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, không buông lỏng vai trò lãnh đạo, không bao biện, làm thay Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Đổi mới phương thức lãnh đạo là làm cho sự lãnh đạo của Đảng đúng hơn, trúng hơn, sâu sát hơn, hiệu quả hơn.
Công tác tham mưu phải chuyển mạnh từ phản ứng, xử lý vụ việc phát sinh sang chủ động dự báo, đón đầu xu hướng, chuẩn bị từ sớm, từ xa những vấn đề lớn về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ.
Nghị quyết phải đi vào cuộc sống bằng chương trình hành động cụ thể, chương trình hành động phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, thời hạn, sản phẩm.
Năng lực tổ chức thực hiện đang là điểm nghẽn lớn ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, cần tập trung tháo gỡ, phải khắc phục tình trạng nói nhiều làm ít, họp nhiều chuyển biến ít, ban hành văn bản nhiều nhưng sản phẩm cuối cùng không rõ.
Mọi nhiệm vụ lớn phải được lượng hóa bằng kết quả cụ thể, không để tình trạng việc chung chung, trách nhiệm chung chung, cuối cùng không ai chịu trách nhiệm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Ban Tổ chức Trung ương cần tiếp tục rà soát kỹ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị sau sắp xếp. Nguyên tắc là một cơ quan có thể làm nhiều việc, nhưng một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính.
Phân cấp, phân quyền phải được thực hiện thực chất, đồng bộ. Phân cấp phải đi liền với phân quyền, phân quyền phải đi liền với nguồn lực, công cụ, dữ liệu, nhân lực, ngân sách và cơ chế kiểm soát. Bộ máy sau sắp xếp phải được đánh giá bằng thước đo thực tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu trong giai đoạn mới, cán bộ không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu, mà còn phải có tư duy chiến lược, năng lực quản trị hiện đại.
Cùng đó là năng lực chuyển đổi số, năng lực tổ chức thực hiện, năng lực xử lý vấn đề khó, năng lực đối thoại với nhân dân và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Công tác cán bộ phải đổi mới từ đúng quy trình sang đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng sản phẩm.
Đánh giá cán bộ phải là khâu đột phá. Đánh giá đúng thì bố trí đúng, sử dụng đúng, đào tạo đúng, bảo vệ đúng, sàng lọc đúng. Đánh giá sai thì người tốt không được phát huy, người yếu không bị thay thế, người cơ hội có thể chui sâu, leo cao, làm hỏng việc, hỏng tổ chức, hỏng niềm tin.
Cần chuyển mạnh sang đánh giá cán bộ bằng phẩm chất, năng lực, uy tín, sản phẩm cụ thể, kết quả thực hiện nhiệm vụ, dữ liệu công việc và sự tín nhiệm của nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh thực hiện thực chất chủ trương có vào, có ra, có lên, có xuống.
Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trưởng thành từ thực tiễn cơ sở. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cán bộ cơ sở cần đặc biệt quan tâm, có cơ chế mạnh mẽ hơn phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài.
Đồng thời phải đổi mới thực chất sinh hoạt chi bộ, phải khắc phục tình trạng sinh hoạt hình thức, nể nang, ngại va chạm, thiếu tính chiến đấu, phát triển đảng viên phải chú trọng chất lượng, không chạy theo số lượng.
Quản lý chặt chẽ đảng viên, rà soát, sàng lọc, kịp thời đưa những người không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu kiểm soát quyền lực phải được thực hiện trong toàn bộ quá trình xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ.
Phải kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ địa phương, thân quen, khép kín, tư duy nhiệm kỳ.
Công tác kiểm tra, giám sát phải chuyển mạnh từ bị động sang chủ động; từ xử lý sau vi phạm sang phòng ngừa, cảnh báo sớm.
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải tiếp tục kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhưng cùng chống tham nhũng, tiêu cực, phải chống cả trì trệ, né tránh, đùn đẩy, vô cảm trước yêu cầu chính đáng của nhân dân.
Kiểm soát quyền lực không phải làm chậm đổi mới, mà để quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm, vì lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nghị quyết 04 của Trung ương yêu cầu sửa đổi luật Phòng, chống tham nhũng, luật Đất đai và pháp luật có liên quan, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; nghiên cứu xây dựng luật về đăng ký tài sản.
Nghị quyết nêu nhiều nhiệm vụ, giải pháp, trong đó xử lý nghiêm người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc bao che, cản trở việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Có cơ chế khuyến khích, bảo vệ tổ chức, cá nhân, người đứng đầu chủ động phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ đơn vị, cơ quan, tổ chức.
Quyết tâm xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính với 3 trụ cột trọng tâm là thể chế liêm chính - nền công vụ liêm chính - đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức liêm chính.
Cán bộ, đảng viên, trước hết người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đi đầu trong tu dưỡng, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng, thực sự gương mẫu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đồng thời, không để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, bảo đảm nghiêm minh, rõ trách nhiệm.
Theo đó, sửa đổi luật Phòng, chống tham nhũng, luật Đất đai và pháp luật có liên quan, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Nghiên cứu xây dựng luật về đăng ký tài sản.
Kịp thời sửa đổi bộ luật Hình sự, bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật có liên quan để thể chế hóa các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về chính sách miễn, giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trung ương gợi mở việc xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung.
Cùng đó là việc giảm trách nhiệm hình sự, hình phạt với người phạm tội không có động cơ vụ lợi, chủ động, tự giác nộp lại tài sản, khắc phục hậu quả, thiệt hại, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, phát hiện tội phạm.
Việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, giảm áp dụng hình phạt tù đối với các tội phạm kinh tế, chức vụ.
Hoàn thiện cơ chế khởi kiện vụ án dân sự, nghiên cứu xây dựng cơ chế khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
Có cơ chế về xử lý vật chứng, tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, về thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội.
Trung ương yêu cầu kịp thời thay thế, cho từ chức đối với cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Xử lý nghiêm cán bộ chậm trễ, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, quan liêu, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Đẩy mạnh thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; có cơ chế, lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương, thu nhập bảo đảm đời sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, liêm chính, công tâm...
Trung ương cũng lưu ý ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính, tổ chức. Trường hợp đến mức phải xử lý hình sự cho phép chủ động áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước, nhưng có thời hạn thực hiện cụ thể và là căn cứ quan trọng để xem xét biện pháp xử lý tiếp theo.
Đẩy mạnh việc truy bắt, dẫn độ những đối tượng bỏ trốn, thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài.

Sau hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển rất mới, rất khác trên hầu hết các phương diện. Không gian số đã trở thành một thành tố thiết yếu của đời sống thực hằng ngày. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới đã làm thay đổi tận gốc cách thông tin được tạo ra, phân phối, tiếp nhận và kiểm chứng.
Ngày nay, người dân học tập, làm việc, giao tiếp, mua bán, giải trí, bày tỏ quan điểm và tham gia các vấn đề xã hội qua các nền tảng trực tuyến. Dòng chảy thông tin nhanh và đa dạng đem lại cơ hội lớn cho phổ biến tri thức, cho dân chủ xã hội và đổi mới sáng tạo. Các chủ trương lớn của Đảng, chính sách mới của Nhà nước, các thông tin tích cực có thể đến cùng lúc với chục hàng triệu người bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau. Công nghệ giúp báo chí gần người dân hơn và nhận phản hồi nhanh hơn.
Tuy nhiên, môi trường mạng cũng khiến đời sống thông tin phức tạp hơn, dễ bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời, tin sai lệch, thao túng thuật toán và những hoạt động tán phát thông tin có chủ đích. Tin giả, tin nửa đúng nửa sai, mập mờ, hình ảnh và âm thanh giả mạo, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, xâm phạm bản quyền, tấn công mạng và đánh cắp dữ liệu diễn ra ngày càng tinh vi. Thông tin sai có thể lan xa trước khi sự thật kịp được kiểm chứng. Tình trạng phát ngôn bị cắt ghép có thể làm tổn hại uy tín cá nhân, tổ chức, thậm chí ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong trật tự truyền thông mới, báo chí không còn giữ vị trí gần như độc quyền phát tin. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, tương đương 84,2% dân số, và khoảng 79 triệu định danh người dùng mạng xã hội. Theo thống kê gần nhất, tổng số tài khoản người Việt sử dụng mạng xã hội trong nước khoảng 110 triệu, trong khi tài khoản trên các mạng xã hội nước ngoài khoảng 203 triệu. Môi trường số như vậy giúp báo chí vừa có cơ hội tiếp cận công chúng rộng hơn bao giờ hết, vừa phải cạnh tranh trực tiếp với dòng nội dung khổng lồ do các nền tảng và người dùng tạo ra từng giờ, từng phút. Trên không gian số, hầu như mọi cá nhân đều có thể đưa tin. Các tài khoản mạng xã hội đều có thể tạo ảnh hưởng trong một cộng đồng nhất định.
Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm giảm vai trò của báo chí cách mạng. Trái lại, khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy để xác định điều gì đúng, điều gì còn phải kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hoặc sự sắp đặt có chủ ý. Điều đó đòi hỏi sự chuyên nghiệp, thái độ lao động nghề nghiệp nghiêm túc và bản lĩnh trước mọi sức ép. Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, không phải nơi chạy theo xu hướng. Xã hội cần nơi tin cậy để hiểu đúng sự thật. Người dân cần biết việc gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, tác động đến ai, trách nhiệm thuộc về đâu và giải pháp nào có cơ sở.
Không gian số cũng cần có những tác phẩm báo chí giàu về dữ liệu, đa dạng về nội dung, phong phú cách diễn đạt, sâu về phân tích chính sách. Nhiều vấn đề hiện nay, từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách hành chính, chính sách an sinh đến biến động kinh tế quốc tế, đều khó nắm bắt nếu chỉ đọc những mẩu tin rời rạc. Vì vậy, trách nhiệm của báo chí không chỉ là nhanh hơn, mà trước hết phải đúng hơn, sâu sắc hơn, có ích hơn.
Từ yêu cầu đó, chuyển đổi số báo chí không thể hiểu đơn giản là lập thêm trang điện tử, mở tài khoản mạng xã hội hay trang bị thiết bị hiện đại. Đó phải là cuộc đổi mới toàn diện về tư duy lãnh đạo, mô hình tòa soạn, quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu, phân phối nội dung, đo lường công chúng, kinh tế báo chí và văn hóa nghề nghiệp. Báo chí số không phải là báo chí cũ đặt lên nền tảng mới, mà là cách tổ chức mới trong bối cảnh mới.
Trong tòa soạn, mỗi tác phẩm cần được nhìn như một sản phẩm thông tin có mục tiêu rõ ràng. Mọi hình thức thể hiện phải cùng tuân thủ một chuẩn mực: chính xác, nhân văn, có kiểm chứng, có trách nhiệm. Cần tránh tình trạng nghiêm túc trên trang chính nhưng dễ dãi trên nền tảng phụ. Báo chí càng đa nền tảng, càng phải thống nhất chuẩn mực.
Trong thời đại số, dữ liệu là một trụ cột của báo chí. Dữ liệu không chỉ là con số; đó là nền tảng của kiểm chứng và phương tiện để xây dựng và chuyển tải các tác phẩm báo chí một cách thuyết phục hơn, toàn diện hơn. Các cơ quan thông tấn, báo chí lớn, uy tín trên thế giới hiện đều đầu tư rất lớn cho việc xây dựng dữ liệu và dành nguồn nhân lực đáng kể cho công tác dữ liệu. Khi dữ liệu được xây dựng và quản trị tốt, báo chí sẽ tăng sức thuyết phục và có khả năng phát hiện vấn đề từ sớm.
Một vấn đề lớn khác là quyền chủ động trước các nền tảng xuyên biên giới. Báo chí cần tiếp cận được nơi công chúng hiện diện qua mọi nền tảng, nhưng không thể để lệ thuộc vào thuật toán bên ngoài. Nếu chỉ chạy theo lượt xem và cơ chế đề xuất, cơ quan báo chí dễ mất dữ liệu độc giả, mất quyền phân phối, mất bản sắc và chịu rủi ro khi thuật toán thay đổi. Làm chủ không gian số nghĩa là biết khai thác các nền tảng toàn cầu, đồng thời xây dựng kênh riêng, cộng đồng độc giả riêng, dữ liệu riêng và thương hiệu tin cậy riêng.
Vì vậy, chủ quyền thông tin quốc gia cần được nhận thức đầy đủ hơn. Báo chí cách mạng phải là lực lượng chủ lực trong bảo vệ chủ quyền ấy. Bảo vệ chủ quyền thông tin không có nghĩa là khép kín. Việt Nam cần một nền báo chí đối ngoại số mạnh, đa ngôn ngữ, đa phương tiện, có khả năng chuyển tải thông điệp của Việt Nam với thế giới bằng ngôn ngữ hiện đại và bản sắc Việt Nam. Thành tựu đổi mới, văn hóa dân tộc, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển cần được trình bày bằng sản phẩm hấp dẫn, dữ liệu thuyết phục.
Để hoàn thành sứ mệnh đó, báo chí cần nguồn lực phát triển bền vững. Kinh tế báo chí số không đối lập với mục tiêu và các định hướng của báo chí cách mạng. Một nền báo chí thiếu nguồn lực sẽ khó đầu tư công nghệ, bảo vệ bản quyền, đào tạo nhân lực và giữ chân người giỏi. Tuy nhiên, kinh tế báo chí phải phục vụ sứ mệnh báo chí, không dẫn dắt báo chí vào giật gân, câu khách, khai thác đời tư, thương mại hóa thông tin chính trị - xã hội. Báo chí cần nguồn thu mới từ thuê bao số, bản quyền, dữ liệu và sản phẩm chuyên sâu. Nếu không xây dựng được mô hình kinh tế báo chí số lành mạnh, báo chí sẽ khó giữ vững năng lực đầu tư cho nội dung chất lượng cao, điều tra, phân tích, kiểm chứng và bảo vệ bản quyền.
Bản quyền báo chí trong môi trường số và môi trường AI cũng phải được bảo vệ nghiêm túc. Nội dung báo chí là kết quả của lao động sáng tạo, tác nghiệp, kiểm chứng, biên tập, đầu tư tài chính và trách nhiệm pháp lý. Việc sao chép, cắt ghép, khai thác, tổng hợp, thương mại hóa sẽ làm suy yếu nền tảng kinh tế của báo chí. Bảo vệ bản quyền là bảo vệ lao động chân chính và chất lượng thông tin trong xã hội.
Vấn đề cuối cùng vẫn là con người. Mọi định hướng, chiến lược đều phụ thuộc vào con người. Nhà báo trong kỷ nguyên số phải biết làm việc với dữ liệu, công cụ số, mạng xã hội, nguồn tin mở và các chuẩn mực an toàn thông tin. Càng nhiều công cụ, nhà báo càng cần bản lĩnh. Cần tránh tình trạng đăng trước kiểm chứng sau hay để mạng xã hội dẫn dắt. Người làm báo không được phép đánh đổi uy tín để tăng lượt xem. Trước khi đăng một tác phẩm báo chí, người làm báo cần trả lời ba câu hỏi: có đúng không, có cần thiết không, có ích cho xã hội không?
Lãnh đạo cơ quan báo chí cũng phải thay đổi. Tổng biên tập trong tòa soạn số không chỉ là người duyệt nội dung, mà còn phải kiến tạo chiến lược sản phẩm, dữ liệu, công chúng, công nghệ và nhân lực. Cơ quan báo chí cần một văn hóa làm việc mới: chuyên nghiệp, kỷ luật trong kiểm chứng, nhanh nhạy trong phản ứng, cởi mở với đổi mới, sẵn sàng thử nghiệm nhưng không dễ dãi với chuẩn mực. Đào tạo lại đội ngũ phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, tập trung vào kiểm chứng số, an toàn dữ liệu, báo chí đa nền tảng, đạo đức AI và tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Trong bối cảnh luật Báo chí số 126/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, việc hoàn thiện thể chế báo chí số là hết sức cần thiết. Thể chế phải bảo vệ quyền tác nghiệp đúng pháp luật, khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo hành lang cho tòa soạn số, kinh tế báo chí số, báo chí dữ liệu, bảo vệ bản quyền và sử dụng AI có trách nhiệm. Đồng thời, kỷ cương báo chí phải được giữ nghiêm; các sai phạm về thông tin, đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng báo chí để trục lợi phải được xử lý kịp thời.
Một nhiệm vụ cấp thiết là hình thành năng lực kiểm chứng thông tin ở quy mô quốc gia. Cần có sự kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan báo chí chủ lực, chuyên gia công nghệ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng để phát hiện, xác minh, cảnh báo, phản bác tin giả, giả mạo phát ngôn, giả mạo hình ảnh cơ quan nhà nước và các hoạt động tán phát gây nhiễu thông tin. Mạng lưới đó phải vận hành nhanh, có quy trình rõ ràng, dùng dữ liệu và chứng cứ để thuyết phục công chúng.
Trong toàn bộ quá trình đổi mới nền báo chí, phải đặt công chúng ở vị trí trung tâm. Công chúng số hiện nay không chỉ tiếp nhận thông tin mà thường xuyên phản hồi, đặt câu hỏi, kiểm chứng ngược, góp ý, cung cấp dữ liệu và đòi hỏi báo chí minh bạch hơn. Báo chí phải biết lắng nghe nhưng không chạy theo mọi cảm xúc tức thời, tôn trọng tranh luận nhưng tuyệt đối không dung dưỡng thông tin độc hại. Với giới trẻ, báo chí có thể đổi mới để tiếp cận tốt hơn bằng ngôn ngữ, định dạng, nền tảng phù hợp nhưng không được hạ thấp chuẩn mực.
Báo chí cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên số vì vậy phải kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị và năng lực công nghệ, giữa lý tưởng cách mạng và tư duy đổi mới, giữa tính chiến đấu và tính nhân văn, giữa trách nhiệm quốc gia và khả năng hội nhập. Làm chủ không gian số không thể chỉ bằng khẩu hiệu mà phải bắt đầu từ từng tòa soạn, từng quy trình kiểm chứng, từng kho dữ liệu, từng sản phẩm báo chí, từng lớp đào tạo và từng ứng xử của nhà báo trước công chúng.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tôi mong rằng các cơ quan báo chí và mỗi nhà báo sẽ biến truyền thống cách mạng thành động lực cho đổi mới. Các cơ quan báo chí cần trở thành một tòa soạn số hiện đại, một trung tâm dữ liệu và tri thức, một địa chỉ tin cậy của nhân dân. Các nhà báo tiếp tục là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa - thông tin số, vững bản lĩnh, trong sáng đạo đức, sâu sắc nhân văn, tinh thông công nghệ. Với định hướng đó, tôi tin tưởng rằng Báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong thời đại số.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Shangri-La 23

CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn!
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải.
Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường.
Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia.
Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có.
Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung.
Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi Mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

