Theo đó, uống cà phê đúng lúc sẽ giúp duy trì năng lượng tốt hơn, đồng thời hạn chế ảnh hưởng đến giấc ngủ, theo trang sức khỏe Health.
Theo nghiên cứu trên Brain and Neuroscience Advances vào năm 2025, hormone cortisol giúp cơ thể tỉnh táo đạt mức cao khi vừa thức dậy rồi giảm dần vào cuối buổi sáng. Đây là thời điểm caffeine có thể phát huy tác dụng rõ hơn.
Ông Michael Breus, nhà tâm lý học lâm sàng và chuyên gia về giấc ngủ tại Mỹ, cho biết chờ khoảng 90 phút sau khi thức dậy rồi uống cà phê sẽ giúp cơ thể duy trì năng lượng tốt hơn trong suốt buổi sáng.
Uống cà phê sau bữa sáng cũng giúp hạn chế cảm giác khó chịu ở dạ dày khi bụng còn đói.
Từ khoảng 12 giờ đến 15 giờ cũng là thời điểm phù hợp để bổ sung một ly cà phê. Sau bữa trưa, cơ thể thường xuất hiện cảm giác buồn ngủ. Caffeine lúc này giúp tăng sự tỉnh táo và cải thiện khả năng tập trung để tiếp tục làm việc. Các chuyên gia lưu ý thời điểm này không phù hợp với người nhạy cảm với caffeine vì có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ.
Các chuyên gia khuyến cáo không nên uống cà phê sau 15 giờ. Caffeine tồn tại trong cơ thể nhiều giờ nên có thể gây khó ngủ, giảm thời gian ngủ sâu và khiến cơ thể mệt mỏi, giảm tập trung vào ngày hôm sau.
Ông Breus cho biết cơ thể thường cần từ 6 đến 8 giờ để chuyển hóa caffeine. Vì vậy, ngừng uống cà phê từ khoảng 15 giờ sẽ phù hợp với người đi ngủ vào khoảng 23 giờ.
Đặc biệt, người chuyển hóa caffeine chậm nên ngừng uống cà phê từ giữa trưa để tránh ảnh hưởng đến giấc ngủ.
Ngoài ra, bạn cũng nên hạn chế cà phê khi đang căng thẳng. Caffeine có thể làm tăng nhịp tim và huyết áp trong thời gian ngắn, khiến cảm giác lo âu hoặc bồn chồn rõ hơn.
Phụ nữ mang thai cũng nên giới hạn lượng caffeine ở mức không quá 200 mg mỗi ngày.
Một số người khi tập thể dục quá mức có thể âm thầm phát triển tình trạng "tim vận động viên" - tim bị biến đổi cấu trúc do tập luyện kéo dài và cường độ cao.
Tiến sĩ Ruchit Shah, bác sĩ tim mạch tại Bệnh viện Saifee (Ấn Độ), giải thích lý do tại sao và điều gì xảy ra cho tim khi tập luyện quá mức.
Ông Ruchit Shah cho biết tình trạng này xảy ra ở các vận động viên thi đấu, thuộc top 1 - 2% hàng đầu. Cũng như cơ xương to ra thông qua tập luyện và tập gym thường xuyên, cơ tim cũng có thể thích nghi với sự gắng sức kéo dài, dẫn đến những thay đổi cấu trúc trong tim, theo tờ Hindustan Times.
Tiến sĩ Shah giải thích: Chủ yếu do cường độ, thời gian và tính nhất quán của việc luyện tập. Tập thể dục quá mức trong hơn 60 phút mỗi ngày, hầu hết các ngày trong tuần trong một thời gian dài, sẽ làm tăng đáng kể nhu cầu oxy và cung cấp máu của cơ thể, nhất là ở vận động viên thi đấu chuyên nghiệp theo lịch trình luyện tập nghiêm ngặt.
Bác sĩ Shah giải thích: Để đáp ứng nhu cầu tăng cao này, cơ tim trải qua quá trình thích nghi và trở nên dày hơn theo thời gian. Khi cơ tim dày lên, đặc biệt là cơ tâm thất trái, kích thước khoang tâm thất trái giảm nhẹ. Từ đó, lượng máu đổ đầy tâm thất trái cũng giảm nhẹ.
Những thay đổi cấu trúc trong tim ban đầu nghe có vẻ đáng lo ngại. Tuy nhiên, hội chứng này nói chung được coi là sự thích nghi sinh lý hơn là tình trạng nguy hiểm. Nó không gây ra vấn đề nghiêm trọng ở người khỏe mạnh. Vì vậy, không phải tất cả những thay đổi đều nhất thiết gây ra bệnh tim.
Một trong những dấu hiệu phổ biến nhất là nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp, thường được gọi là "nhịp tim thích nghi". Bác sĩ Shah giải thích: Điều này xảy ra vì tim trở nên hiệu quả hơn do luyện tập liên tục. Trong hầu hết các trường hợp, những người có "tim vận động viên" không gặp phải các triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm. Và khi ngừng luyện tập cường độ cao, tim sẽ từ từ trở lại kích thước và chức năng bình thường trong vòng 3 - 6 tháng. Tuy nhiên, trong khoảng 20% trường hợp, những thay đổi này có thể không biến mất hoàn toàn.
Đặc biệt, đôi khi có thể gây ra bệnh tim - bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn. Vì vậy, những vận động viên có biến đổi ở tim khi đo điện tâm đồ hoặc chụp chiếu cần được đánh giá kỹ xem có bất kỳ tình trạng nguy hiểm tiềm ẩn nào hay không, theo Hindustan Times.
Ngày 15/6, đại diện Bệnh viện Nhi đồng Thành phố cho biết bệnh nhi nhập viện trong tình trạng hạn chế vận động vùng háng trái sau cú té nhẹ khi tập đi xe đạp. Điều khiến ca bệnh khó nhận diện là bé không có dị tật ngón chân cái - dấu hiệu kinh điển xuất hiện ở hơn 90% người mắc hội chứng người hóa đá (Fibrodysplasia Ossificans Progressiva - FOP), bệnh di truyền cực hiếm khiến cơ, dây chằng và mô mềm dần bị hóa xương.
Vì thiếu dấu hiệu này, bệnh nhi từng được theo dõi với chẩn đoán chưa rõ nguyên nhân, thậm chí lên kế hoạch phẫu thuật giải phóng cứng khớp háng nhằm cải thiện vận động. Tuy nhiên, sau khi được chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng Thành phố và đánh giá lại toàn diện, các bác sĩ nhận thấy cuộc mổ chưa thật sự cần thiết, thậm chí có thể khiến bệnh tiến triển nặng hơn.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính vùng khung chậu cho thấy mô hóa xương nằm cạnh mấu chuyển lớn xương đùi trái nhưng không liên quan trực tiếp đến cấu trúc xương bên dưới. Hình ảnh này gợi ý nhóm bệnh lý hiếm gặp gây hóa xương mô mềm.
Do biểu hiện lâm sàng không điển hình, êkíp quyết định thực hiện xét nghiệm giải trình tự gene. Kết quả cho thấy bệnh nhi mang biến thể gây bệnh trên gene ACVR1, giúp xác định chẩn đoán hội chứng người hóa đá - căn bệnh có tỷ lệ mắc khoảng một trên hai triệu người trên thế giới.
Sau khi xác định bệnh, các bác sĩ quyết định không phẫu thuật như kế hoạch trước đó. Những can thiệp gây tổn thương mô mềm như mổ, sinh thiết hay tiêm bắp ở bệnh nhân FOP có thể kích hoạt phản ứng viêm, thúc đẩy quá trình hóa xương diễn ra nhanh hơn.
Hiện, hướng điều trị tập trung vào kiểm soát các đợt bùng phát bằng corticosteroid ngắn ngày hoặc thuốc kháng viêm không steroid, đồng thời duy trì chức năng vận động và hạn chế nguy cơ chấn thương. Bệnh nhi cũng được tầm soát thính lực do nguy cơ nghe kém liên quan đến tổn thương vùng tai giữa.
Hội chứng người hóa đá hiện chưa có phương pháp điều trị triệt để. Trẻ có biểu hiện sưng mô mềm tái diễn, khối xơ cứng dưới da, cứng khớp tiến triển, đặc biệt sau chấn thương dù nhẹ, cần được nghĩ đến bệnh lý này, kể cả khi không có dị tật ngón chân cái.
Khi nghi ngờ mắc bệnh, phụ huynh cần tránh các can thiệp không cần thiết như tiêm bắp, sinh thiết, xoa bóp mạnh hoặc kéo giãn khớp quá mức. Việc chẩn đoán sớm có thể giúp hạn chế biến chứng, tránh những can thiệp nguy cơ cao và bảo tồn khả năng vận động cho trẻ.
Bệnh thận mạn tính là vấn đề sức khỏe ngày càng phổ biến, đặc biệt khi bệnh tiến triển nặng có thể dẫn đến phải chạy thận lâu dài. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu mới công bố trên tạp chí y khoa JAMA Network Open cho thấy một chế độ ăn đạm vừa phải có thể giúp làm chậm tiến triển suy thận ở bệnh nhân giai đoạn 3 - 4 và giảm nguy cơ phải chạy thận nhân tạo.
Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là bác sĩ Ilia Beberashvili từ Bệnh viện Yitzhak Shamir Medical Center (Israel), đã thực hiện nghiên cứu trên 1.441 bệnh nhân thận mạn tính giai đoạn 3 - 4, ở độ tuổi trung bình là 67, được theo dõi trong 15 năm, nhằm tìm ra lượng đạm tiêu thụ mỗi ngày giúp bảo vệ quả thận cho bệnh nhân thận mạn tính.
Các tác giả đã xem xét mối liên hệ giữa lượng đạm ăn vào trong ngày với tình trạng suy thận trong dài hạn.
Họ đã tiến hành đánh giá lượng đạm hấp thụ qua chế độ ăn bằng cách sử dụng lượng nitơ bài tiết qua nước tiểu trong 24 giờ và lượng đạm tiêu thụ hằng ngày theo trọng lượng cơ thể.
Kết quả đã phát hiện những người ăn ít đạm (ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày, ví dụ người 50 kg ăn ít hơn 50 gram đạm một ngày) đã giảm 23% nguy cơ suy giảm chức năng thận về mặt tổng thể. Cụ thể như sau:
Các nhà nghiên cứu cho rằng việc kiểm soát lượng đạm ở mức vừa phải có thể giúp giảm áp lực lên thận, từ đó góp phần làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận. Trong nghiên cứu này, chế độ ăn trên cũng chưa ghi nhận nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng rõ rệt ở phần lớn bệnh nhân được theo dõi.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, lượng protein hấp thụ ở mức vừa phải - ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày - giúp giảm nguy phải chạy thận nhân tạo mà không bị thiếu chất.
Những phát hiện này ủng hộ việc hạn chế đạm ở mức độ vừa phải, kết hợp với việc theo dõi lượng đạm hấp thu vào cơ thể có thể giúp bảo vệ chức năng thận tốt hơn.
Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy chế độ ăn đạm vừa phải có khả năng bảo tồn chức năng thận thực sự.