Khó có triển vọng tăng giá theo đường thẳng như trước đây
Thị trường vàng đang trải qua một giai đoạn biến động đặc biệt khi giá liên tục xuất hiện những nhịp tăng – giảm mạnh trong thời gian ngắn. Có thời điểm giá vàng giảm sâu rồi nhanh chóng phục hồi chỉ sau vài phiên giao dịch, khiến tâm lý thị trường chuyển từ lo ngại sang kỳ vọng và ngược lại.
Trong bối cảnh đó, câu hỏi được nhiều nhà đầu tư quan tâm là liệu vàng đang bước vào một chu kỳ tăng giá mới hay chỉ đang trải qua những nhịp biến động ngắn hạn trước khi xác lập xu hướng rõ ràng hơn.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, nhận định xu hướng ngắn hạn của giá vàng còn nhiều biến động. Trong ngắn hạn, giá vàng nhiều khả năng vẫn tiếp tục xuất hiện các nhịp tăng giảm đan xen với biên độ lớn.
Sau một giai đoạn điều chỉnh mạnh rồi phục hồi nhanh, thị trường thường cần thêm thời gian để hấp thụ thông tin mới, tái cân bằng cung cầu và xác lập mặt bằng giá phù hợp hơn. Điều này đồng nghĩa những phiên biến động mạnh vẫn có thể tiếp diễn.
Ở góc độ trung hạn, vàng vẫn duy trì vai trò là một tài sản phòng thủ quan trọng trong hệ thống tài sản toàn cầu. “Tuy nhiên, triển vọng tăng giá sẽ khó diễn ra theo một đường thẳng như giai đoạn trước. Thị trường nhiều khả năng bước sang trạng thái tích lũy, phân hóa và phản ánh nhiều hơn các yếu tố nền tảng thay vì chỉ dựa vào tâm lý kỳ vọng”, chuyên gia nhấn mạnh.
Những yếu tố đang chi phối mạnh nhất đến giá vàng
Nói về những yếu tố đang chi phối giá vàng hiện tại, ông Nguyễn Quang Huy cho biết đối với thị trường quốc tế, giá vàng chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố.
Thứ nhất là triển vọng chính sách tiền tệ và diễn biến lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn. Mọi thay đổi về kỳ vọng lãi suất đều có khả năng tác động đáng kể đến dòng vốn giữa vàng và các tài sản tài chính khác.
Thứ 2 là những bất định của kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh nhiều nền kinh tế đang đứng trước yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, vàng tiếp tục được quan tâm như một tài sản phòng thủ.
Thứ 3 là nhu cầu đa dạng hóa tài sản của các nhà đầu tư tổ chức và ngân hàng trung ương.
Đối với thị trường trong nước, bên cạnh tác động từ giá vàng quốc tế, giá vàng còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố cung – cầu, tâm lý nhà đầu tư và quá trình tái cân bằng sau giai đoạn tăng nóng.
“Điều đáng ghi nhận là khoảng cách giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới đã thu hẹp đáng kể so với trước đây. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy thị trường đang vận động gần hơn với các yếu tố nền tảng và theo hướng ổn định, bền vững hơn”, vị chuyên gia cho hay.
Chuyên gia nhận định việc giá vàng giảm mạnh rồi phục hồi nhanh đã làm dấy lên kỳ vọng về một chu kỳ tăng mới. Dù thế, vẫn còn khá sớm để khẳng định điều này.
Cụ thể, trong lịch sử các thị trường tài sản, sau những giai đoạn điều chỉnh sâu, việc xuất hiện các nhịp hồi phục là hiện tượng tương đối phổ biến. Một phần xuất phát từ hoạt động mua vào khi giá giảm mạnh, một phần đến từ tâm lý kỳ vọng thị trường đã tạo đáy.
Để hình thành một xu hướng tăng bền vững, ông Huy cho rằng thị trường cần thêm thời gian kiểm chứng cũng như những yếu tố hỗ trợ đủ mạnh từ cả môi trường kinh tế và dòng tiền đầu tư.
Nhà đầu tư đang nắm giữ vàng nên làm gì?
Theo chuyên gia, nếu vàng được nắm giữ bằng nguồn vốn nhàn rỗi và mục tiêu là tích lũy dài hạn, nhà đầu tư không nhất thiết phải đưa ra những quyết định mang tính cảm xúc trước các biến động ngắn hạn của thị trường.
Ngược lại, nếu tỷ trọng vàng đang chiếm phần quá lớn trong tổng tài sản hoặc việc đầu tư sử dụng nguồn vốn vay, đây là thời điểm phù hợp để rà soát lại cơ cấu danh mục và khả năng chịu đựng rủi ro.
Trước câu hỏi về tiềm năng đầu tư giữa vàng, USD, chứng khoán, bất động sản, ông Nguyễn Quang Huy cho rằng mỗi loại tài sản có vai trò khác nhau trong danh mục.
Trong khi tiền gửi và USD giúp bảo đảm thanh khoản và an toàn, trái phiếu tạo nguồn thu nhập tương đối ổn định thì chứng khoán mang lại cơ hội đồng hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế. Bất động sản vẫn còn nhiều dư địa ở các phân khúc gắn với nhu cầu thực như bất động sản công nghiệp, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân và chuyên gia.
Trong khi đó, vàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng với tư cách là tài sản phòng thủ trước những biến động khó lường của kinh tế toàn cầu.
“Thành công trong đầu tư không đến từ việc dự báo chính xác giá vàng ngày mai tăng hay giảm, mà đến từ khả năng quản trị rủi ro, đa dạng hóa danh mục và duy trì tầm nhìn dài hạn. Trong một thế giới ngày càng biến động, đó có lẽ vẫn là tài sản quan trọng nhất đối với mỗi nhà đầu tư”, ông Huy nhấn mạnh.
iMoney là dòng sản phẩm chuyên các bài viết về tư vấn đầu tư, tư vấn tiêu dùng, được đăng tải vào thứ 4 mỗi tuần trên báo Dân trí.
iMoney sẽ giải đáp thắc mắc của độc giả về đầu tư, tiêu dùng, tư vấn tài chính, các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản, tiền mã hóa, tư vấn tiêu dùng cũng như chia sẻ các tip tiêu dùng thông minh, hiệu quả…
Từ đầu năm đến nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Phiên 4/2, lãi suất qua đêm vọt lên 17%, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Trong tháng 3, thị trường ghi nhận nhiều phiên lãi suất vượt 10% trước khi hạ nhiệt. Đến đầu tháng 4, lãi suất qua đêm vẫn duy trì quanh 9%.
Khác với lãi suất huy động từ dân cư, đây là lãi suất vay mượn giữa các tổ chức tín dụng, chủ yếu phục vụ nhu cầu bù đắp thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống.
Diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản đã bắt đầu gia tăng từ cuối năm ngoái. Sau giai đoạn tín dụng mở rộng nhanh, dư nợ cho vay tại nhiều ngân hàng đã vượt quy mô huy động. Tỷ lệ cho vay trên huy động tại nhiều nhà băng vượt 100% và có xu hướng tăng so với đầu năm 2025.
Điều này khiến một số ngân hàng phải tìm đến vay mượn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí cao hơn.
Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Vietcombank (VCBS), áp lực thanh khoản và cân đối vốn của hệ thống ngân hàng đã gia tăng từ nửa cuối năm 2025, đặc biệt tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần vừa và nhỏ.
"Khi khả năng hấp thụ các cú sốc ngắn hạn suy giảm, các nhà băng này phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao", VCBS nhận định.
Bên cạnh đó, dòng tiền trong hệ thống chưa kịp dịch chuyển từ ngân hàng dư thừa sang ngân hàng thiếu hụt cũng khiến tình trạng "nghẽn cục bộ" kéo dài vài tháng, làm gia tăng nhu cầu vay mượn lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Ngoài yếu tố nội tại, chính sách điều hành tỷ giá cũng góp phần tác động tới thanh khoản hệ thống.
Gần đây, Ngân hàng Nhà nước triển khai bán USD kỳ hạn 180 ngày cho các tổ chức tín dụng với mức giá 26.850 đồng mỗi USD nhằm ổn định tỷ giá trong bối cảnh đồng bạc xanh mạnh lên do căng thẳng địa chính trị.
Theo ông Nguyễn Hoàn Niên, chuyên gia phân tích tại Chứng khoán Shinhan, biện pháp này giúp giảm áp lực tỷ giá nhưng đồng thời "giam" một lượng tiền đồng trong hệ thống, khiến thanh khoản co lại và góp phần đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng.
Dù vậy, chuyên gia cho rằng lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh những biến động thanh khoản mang tính tức thời. Chỉ khi các biến động này kéo dài và hình thành xu hướng rõ rệt mới có thể đánh giá tác động dài hạn tới mặt bằng lãi suất thị trường.
"Lãi suất vay mượn giữa các ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản nhưng chưa chắc kéo lãi suất tiền gửi tăng theo", ông Niên cho biết.
Thực tế, mối quan hệ giữa lãi suất liên ngân hàng và lãi suất huy động dân cư tại Việt Nam không hoàn toàn tuân theo quy luật một chiều như lý thuyết kinh tế. Trong một số giai đoạn, lãi suất huy động có thể tăng trước rồi mới tác động ngược lại thị trường liên ngân hàng, ông Niên nhận định.
Đặc thù này xuất phát từ cấu trúc hệ thống ngân hàng trong nước, khi thu nhập lãi vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-80%, cao hơn nhiều so với mức khoảng 30% ở các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, sự can thiệp hành chính như áp trần lãi suất hay định hướng điều hành cũng khiến sự liên thông giữa hai thị trường trở nên phức tạp hơn.
Tác động lớn nhất của việc lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh như vừa qua, theo ông Niên, là gây áp lực lên biên lợi nhuận (NIM) của các ngân hàng khi chi phí vốn tăng lên. Điều này buộc một số nhà băng sẽ tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, như đẩy mạnh cho vay tiêu dùng hoặc mở rộng các hoạt động đầu tư, dịch vụ.
Theo dự báo của chuyên gia chứng khoán Shinhan, lãi suất liên ngân hàng khó giảm sâu trong thời gian tới, có thể duy trì quanh mức 6,8-7% với kỳ hạn một tháng. Trong khi đó, lãi suất huy động trên thị trường dân cư được dự báo dao động khoảng 7-9% mỗi năm, tùy theo từng ngân hàng.
Trong bối cảnh thanh khoản nghẽn cục bộ và dư địa điều hành bị thu hẹp bởi áp lực tỷ giá, mặt bằng lãi suất được nhận định khó sớm quay lại mức thấp như trước.
Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) nêu đề xuất trên, nhằm điều tiết nhu cầu sử dụng điện trong cao điểm nắng nóng.
Theo Quyết định 963 của Bộ Công Thương ban hành cuối tháng 4, giờ cao điểm được dồn vào buổi tối từ 17h30 đến 22h30 hàng ngày, còn thấp điểm 0-6h.
Thay đổi này hiện vẫn chưa được Bộ Công Thương áp dụng trong thực tế, nên giờ cao điểm vẫn chia làm 2 khung như trước (9h30-11h30 và 17h-22h hàng ngày, trừ chủ nhật), còn thấp điểm 22h-4h.
NSMO đề xuất áp dụng ngay trong tháng 6 khung giờ cao điểm mới (17h30-22h30) và thấp điểm (0h-6h) hàng ngày, trừ chủ nhật. Điều này là bởi hệ thống điện miền Bắc và cả nước chịu thách thức lớn khi ảnh hưởng hiện tượng El Nino, nắng nóng diễn ra trên diện rộng, nhu cầu dùng điện tăng cao và có xu hướng chuyển sang khung giờ tối (20h-23h). Mức này cao hơn cả cao điểm ban ngày, gây áp lực lớn tới công tác điều độ, vận hành hệ thống điện quốc gia.
Chẳng hạn, ngày 15/5, công suất phụ tải toàn quốc đã lập kỷ lục mới ở mức 54.654 MW, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng điện tiêu thụ đạt 1,152 tỷ kWh, tăng gần 10% so với cùng kỳ. Đây là mức công suất, sản lượng điện tiêu thụ điện lớn nhất từng được ghi nhận, theo NSMO.
Bên cạnh đó, khung giờ cao điểm tối cũng là giai đoạn hệ thống chịu áp lực rất lớn, do không còn nguồn điện mặt trời hỗ trợ, nhiều nhà máy thủy điện nhỏ cũng không đủ nước để phát điện.
Các khung giờ sử dụng điện là căn cứ quan trọng để tính giá điện theo thời gian. Thông thường, giờ cao điểm có giá cao nhất, thấp điểm có giá thấp nhất, nhằm khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu tiêu thụ điện.
Khung giờ cao, thấp điểm áp dụng chủ yếu với nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh theo biểu giá điện theo thời gian sử dụng. Hiện có khoảng 1,25 triệu công tơ điện trên toàn hệ thống đang áp dụng cơ chế này, liên quan trực tiếp đến đo đếm, lập hóa đơn và thanh toán điện năng.
Về đợt nắng nóng gay gắt tuần 23-27/5, NSMO dự báo công suất sử dụng điện miền Bắc xấp xỉ 29.000 MW, cao hơn gần 10% so với mức kỷ lục ghi nhận hôm 15/5. Hệ thống điện dự kiến phải huy động cao nguồn khí LNG và các tổ máy chạy dầu có giá thành cao từ Nhiệt điện Ô Môn, nhà máy điện Thủ Đức, Cần Thơ.
Đơn vị vận hành hệ thống điện quốc gia khuyến nghị người dân, doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng trong những ngày nắng nóng, nhằm đảm bảo hệ thống điện vận hành an toàn, và tối ưu chi phí cho người sử dụng.
Hôm qua, Bộ Công Thương yêu cầu các hãng ôtô, xe máy rà soát, công bố mức độ tương thích với xăng E10 và chuẩn bị phương án hỗ trợ kỹ thuật cho người tiêu dùng. Hiện, một số hãng xe đã công bố danh mục khá chi tiết các dòng xe tương thích trên webisite chính thức.
Mitsubishi Việt Nam cho biết các dòng xe trang bị động cơ phun xăng điện tử phân phối tại Việt Nam sản xuất từ năm 1997 đến nay, đều tương thích xăng E10. Riêng một số mẫu xe chưa xác định được khả năng tương thích, gồm: L300 được sản xuất từ 1995-2003; Pajero - V31 sản xuất từ 1997-2002; Jolie từ 1998-2003; Proton Wira từ 1996-1999.
Khách hàng sở hữu xe Mitsubishi có thể tham khảo sổ tay hướng dẫn sử dụng để nắm rõ loại nhiên liệu được khuyến nghị. Hãng khuyến cáo trường hợp xe ít sử dụng trong thời gian dài, cần bảo quản nhiên liệu trong bình để tránh hiện tượng tách nước. Người dùng nên kiểm tra, bảo dưỡng xe định kỳ tại các đại lý ủy quyền để đảm bảo khả năng vận hành tối ưu.
Tương tự, Suzuki xác nhận toàn bộ ôtô của hãng sản xuất và phân phối tại Việt Nam từ năm 2001 trở về đây đều tương thích với xăng E10. Các mẫu đang bán như XL7, Swift, Jimny, Fronx, Ertiga, Carry Pro, Eeco... đều nằm trong danh sách tương thích.
Với xe máy, Suzuki liệt kê các dòng Raider/Satria FI, GSX, Burgman, Gixxer, V-Strom, Address... sử dụng được E10.
Suzuki khẳng định việc sử dụng xăng E10 đạt chuẩn trên các xe nằm trong danh sách vẫn được bảo hành chính hãng bình thường. Với các mẫu xe đã dừng bán, hãng khuyến nghị khách hàng xem thêm hướng dẫn sử dụng kèm theo xe để kiểm tra khả năng tương thích với xăng E10.
Yamaha Việt Nam cũng cho biết toàn bộ dòng xe máy trang bị hệ thống phun xăng điện tử (FI) đều tương thích với xăng sinh học E10 và không phải thay đổi về kỹ thuật. Các mẫu xe Yamaha sử dụng bộ chế hòa khí được sản xuất từ năm 2017 đến nay, tương thích với E10. Còn mẫu sử dụng bộ chế hòa khí được sản xuất trước năm 2017 được khuyến nghị sử dụng E5.
Để xác định mẫu xe Yamaha đang dùng là loại sử dụng hệ thống FI hay không, khách hàng có thể kiểm tra ký hiệu FI trên tem xe hoặc cụm đồng hồ.
Động thái của các hãng xe diễn ra trong bối cảnh xăng E10 RON 95-III sẽ được bán rộng rãi, thay thế xăng khoáng RON 95-III trên thị trường từ đầu tháng 6. Xăng E10 là loại xăng sinh học pha 10% ethanol nhiên liệu (cồn sinh học) và 90% xăng khoáng. Thực tế, loại xăng này đã được bán thí điểm tại hệ thống của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) ở một số tỉnh, thành phố từ tháng 8/2025.
Trước thời điểm này, một bộ phận người tiêu dùng vẫn lo ngại E10 có thể làm tăng mức tiêu hao nhiên liệu, ảnh hưởng tới độ bền động cơ hoặc gây tác động đến các chi tiết cao su, nhựa trên các dòng xe cũ.
Song theo PGS. TS Đàm Hoàng Phúc, Giám đốc Chương trình Đào tạo Kỹ thuật ôtô (Đại học Bách khoa Hà Nội), nghiên cứu trên Toyota Corolla Cross bản xăng và hybrid cho thấy E10 không làm tăng mức tiêu hao nhiên liệu. Trong điều kiện giao thông đô thị, xe xăng dùng E10 tiết kiệm hơn 2,3% so với RON95, còn xe hybrid giảm 7,8%. Trên đường tốc độ cao, E10 cũng cho mức tiêu hao thấp hơn.
Về công suất, kết quả phân hóa theo loại xe. Trong đó, xe chạy xăng ở công suất tối đa sẽ có công suất giảm khoảng 6% với E10. Tuy nhiên, xe hybrid lại tăng công suất 2,15% do E10 phát huy hiệu quả khi hệ thống hybrid kiểm soát quá trình đốt cháy. Về khí thải, E10 giúp giảm 10,87% hydrocarbon (HC) độc hại và 14,95% khí CO so với RON95.
Với xe máy, đại diện Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) cho biết phần lớn xe máy chính hãng sản xuất trong nhiều năm gần đây đã được nghiên cứu, thử nghiệm để tương thích với nhiên liệu pha ethanol. Các dòng xe sử dụng công nghệ phun xăng điện tử (FI) hoàn toàn có thể sử dụng E10.
Với các dòng xe sử dụng bộ chế hòa khí, đặc biệt là xe đời cũ, mức độ tương thích phụ thuộc thiết kế của từng hãng. VAMM khuyến nghị người dùng tham khảo khuyến cáo từ nhà sản xuất hoặc đại lý chính hãng. Còn xe phân khối lớn và xe nhập khẩu cần tuân thủ hướng dẫn nhiên liệu trong sổ tay sử dụng.
Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng một số sự cố kỹ thuật có thể xuất hiện khi chuyển sang E10 nhưng không đồng nghĩa E10 gây hỏng xe. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhiên liệu không đạt chuẩn hoặc do ethanol có tính hòa tan, cuốn theo cặn tích tụ lâu ngày trong hệ thống nhiên liệu của các xe cũ, dẫn tới tắc lọc xăng hoặc kim phun.
"Đây là những hư hỏng vốn đã tiềm ẩn, E10 chỉ khiến chúng bộc lộ sớm hơn chứ không phải là nguyên nhân làm hỏng xe", ông Phúc nói.
Tương tự, đại diện VAMM cho biết ethanol có đặc tính khác xăng khoáng truyền thống nhưng tỷ lệ phối trộn 10% trong E10 chỉ tạo ra những khác biệt nhỏ về cảm nhận vận hành trong điều kiện sử dụng thông thường. Kết quả nghiên cứu do VAMM phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện năm 2024 cho thấy xăng E10 không ảnh hưởng đến khả năng khởi động và gia tốc của xe.
Theo Bộ Công Thương, xăng E10 được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia. Mỹ và Brazil triển khai loại nhiên liệu này từ những năm 1980. Tại châu Âu, E10 cũng đã được áp dụng trong khoảng hai thập kỷ qua. Trong khi đó, Trung Quốc mới thúc đẩy sử dụng E10 trong những năm gần đây. Một số quốc gia có điều kiện khí hậu tương đồng với Việt Nam như Thái Lan và Philippines không chỉ sử dụng E10 mà còn triển khai E15, thậm chí E20 tại một số địa phương.