Ngày 6-5, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng truy tố ông Nguyễn Bá Hoan, cựu Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (cũ).
Ông bị cáo buộc nhận hối lộ của nhóm doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, tổng số tiền 16,3 tỉ đồng.
11 người bị truy tố tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, trong đó có các ông Nghiêm Quốc Hưng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Hoàng Long; Nguyễn Đức Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Sona; Nghiêm Văn Định, Giám đốc Công ty Incoop3.
Riêng ông Nguyễn Lâm Sơn, Giám đốc Công ty luật TNHH Thành Đô, bị cáo buộc phạm tội môi giới hối lộ.
Ông Nguyễn Bá Hoan giữ chức Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội từ năm 2020 – 2025, phụ trách chỉ đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước.
Theo cáo trạng, nhóm cán bộ thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước đã kéo dài thời gian thẩm định hồ sơ, yêu cầu bổ sung tài liệu nhiều lần, gây khó dễ cho các doanh nghiệp đưa người đi xuất khẩu lao động, để buộc họ chi tiền “bôi trơn” khi xin cấp, cấp đổi giấy phép.
Cáo trạng thể hiện, trong giai đoạn 2017 – 2025, với vai trò cục trưởng, ông Tống Hải Nam đã chỉ đạo cấp dưới là Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang (chuyên viên Phòng Pháp chế) gây khó khăn cho doanh nghiệp khi nộp hồ sơ đề nghị cấp mới hoặc cấp đổi giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Các doanh nghiệp này khi nộp hồ sơ thường bị kéo dài thời gian thẩm định, bị trả lại hồ sơ nhiều lần với yêu cầu bổ sung giấy tờ, qua đó bị “gợi ý” phải chi tiền để được giải quyết nhanh.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Nguyễn Thành Hưng chủ động đưa ra mức “chi phí” từ 250 đến 400 triệu đồng mỗi hồ sơ cấp mới. Với hồ sơ cấp đổi, mức tiền thấp hơn.
Đối với các hồ sơ thông qua Nguyễn Lâm Sơn – giám đốc một công ty luật làm trung gian – mức chi được ấn định 400 triệu đồng cho cấp mới và 100 triệu đồng cho cấp đổi.
Tiền sau đó được Hưng và Trang phân chia, chuyển cho Tống Hải Nam theo “định mức” từ 150 đến 250 triệu đồng mỗi hồ sơ.
Từ số tiền nhận của doanh nghiệp, ông Nam tiếp tục chuyển khoảng 100 triệu đồng/hồ sơ cho ông Hoan để được ký duyệt giấy phép.
Viện kiểm sát cáo buộc, khi được giao phụ trách Cục Quản lý lao động ngoài nước, Thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan biết tình trạng cán bộ kéo dài thời gian thẩm định để vòi tiền doanh nghiệp. Tuy nhiên thay vì chấn chỉnh, ông lại nhiều lần nhận tiền do Tống Hải Nam đưa để ký cấp phép.
Kết quả điều tra cho thấy trong suốt 8 năm, nhóm bị can đã nhận tổng cộng hơn 9 tỉ đồng để xử lý 29 giấy phép cho 28 doanh nghiệp.
Trong đó, Nguyễn Thành Hưng là người nhận nhiều nhất với hơn 7,7 tỉ đồng, Phan Thị Thu Trang nhận 1,2 tỉ đồng.
Sau khi nhận tiền từ doanh nghiệp, Hưng đã 41 lần đưa tổng cộng 4,55 tỉ đồng cho ông Nam, Trang cũng 6 lần đưa khoảng 846 triệu đồng cho cục trưởng.
Từ nguồn tiền này, ông Tống Hải Nam đưa cho ông Nguyễn Bá Hoan tổng cộng 1,4 tỉ đồng cùng quà tặng là hai chiếc đồng hồ trị giá khoảng 450 triệu đồng để được ký nhanh 14 giấy phép.
Không chỉ dừng ở việc gây khó dễ trong cấp phép, viện kiểm sát xác định một “quy trình riêng” đã được cựu thứ trưởng và cấp dưới dựng lên trong khâu đăng ký hợp đồng cung ứng lao động đi Hàn Quốc theo diện visa E7, qua đó biến thủ tục hành chính thành công cụ buộc doanh nghiệp chi tiền.
Theo cáo trạng, nhằm tạo rào cản đối với doanh nghiệp, ông Tống Hải Nam đã báo cáo ông Hoan và được đồng ý cho xây dựng quy trình thẩm định hồ sơ đăng ký hợp đồng. Từ đó, ông Nam chỉ đạo cấp dưới xây dựng quy trình này.
Ông Nam chỉ đạo Phòng Hàn Quốc yêu cầu doanh nghiệp phải có tài liệu chứng minh về hạn mức tuyển dụng lao động của chủ sử dụng lao động tại nước ngoài. Tài liệu này buộc phải có xác nhận của cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc.
Tuy nhiên thực tế các doanh nghiệp không thể thu thập, cung cấp được tài liệu này nên đặt vấn đề “đưa tiền cảm ơn” nhờ ông Nam giúp đỡ, tạo điều kiện bỏ qua lỗi và phê duyệt nhanh hồ sơ.
Kết quả điều tra xác định, từ năm 2021 – 2025, khi làm thủ tục xin cấp phiếu trả lời để xuất khẩu lao động, các ông Hưng, Nam và Định đã nhiều lần trực tiếp đưa tiền cho lãnh đạo, cán bộ cục. Tổng số tiền nhóm doanh nghiệp này hối lộ hơn 281.800 USD và 190 triệu đồng (tương đương hơn 6,8 tỉ đồng).
Nhóm doanh nghiệp hối lộ số tiền trên để được tạo điều kiện cấp phiếu thực hiện đơn hàng cho 548 lao động, với “định mức” khoảng 500 USD mỗi lao động, cáo trạng nêu.
Trong đó, riêng tổng giám đốc Nghiêm Quốc Hưng bị cáo buộc chi hơn 239.800 USD để được giải quyết hồ sơ cho 129 lao động.
Ông Nguyễn Bá Hoan bị xác định đã 3 lần nhận tổng cộng 170.000 USD và 50 triệu đồng (tương đương hơn 4 tỉ). Tống Hải Nam nhận 11 lần với tổng số hơn 74.000 USD và 100 triệu đồng.
Một số cán bộ, lãnh đạo khác cũng nhận tiền với các mức khác nhau để “tạo điều kiện”, trả lời nhanh hồ sơ.
Không chỉ trong quá trình xử lý hồ sơ, vào các dịp lễ, Tết, các doanh nghiệp còn tiếp tục chi tiền “cảm ơn”. Ông Nguyễn Bá Hoan bị xác định nhận tổng cộng hơn 450.000 USD và 310 triệu đồng, ông Tống Hải Nam nhận hơn 105.000 USD và hơn 1 tỉ đồng.
Viện kiểm sát cáo buộc số tiền cựu thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan cùng cấp dưới nhận vào các dịp lễ Tết được xác định là tiền hối lộ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp.
Theo đó, do đương sự không thỏa thuận chọn tổ chức đấu giá tài sản, chấp hành viên Thi hành án dân sự TP.HCM cần lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản đã kê biên.
Cụ thể, chiếc túi Hermes, size 25 màu trắng, có đính đá màu trắng trên khóa và viền túi, có giá khởi điểm hơn 1,7 tỉ đồng.
Còn chiếc túi Hermes màu trắng, size 30 không đính đá hay vật liệu gì bên trên, có giá khởi điểm hơn 2,3 tỉ đồng.
Các tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, gồm: Có tên trong danh sách các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản do Bộ Tư pháp công bố; Cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho việc đấu giá đối với loại tài sản đấu giá;
Phương án đấu giá khả thi, hiệu quả (thuyết minh đầy đủ các nội dung trong phương án); Năng lực, kinh nghiệm và uy tín của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản (thời gian thành lập của tổ chức đấu giá, kinh nghiệm đấu giá các tài sản tương tự với tài sản kê biên trong thời hạn 6 tháng gần nhất; Có ít nhất 3 đấu giá viên trong đó có ít nhất 1 đấu giá viên đủ năng lực bán đấu giá tài sản cần bán).
Thời gian nộp hồ sơ đăng ký tổ chức đấu giá: 3 ngày làm việc kể từ ngày đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đấu giá tài sản.
Địa điểm nộp hồ sơ: Nộp trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Thi hành án dân sự TP.HCM (372A Nguyễn Văn Lượng, phường An Hội Đông, TP.HCM).
Thành phần hồ sơ gồm: Văn bản tham gia ký hợp đồng dịch vụ đấu giá; hồ sơ năng lực của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản; biểu phí đấu giá; các tài liệu chứng minh số lượng đấu giá viên, hồ sơ đã đấu giá tài sản cùng loại với tài sản đấu giá.
Ngày 11-7, Công an tỉnh Lào Cai cho biết ngày 10-7, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 9 người về các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; tổ chức đánh bạc và đánh bạc.
Trước đó, thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an về tập trung đấu tranh, xử lý các loại tội phạm về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tội phạm liên quan đến hoạt động cờ bạc, cá độ bóng đá trong thời gian diễn ra World Cup 2026, Công an tỉnh Lào Cai phát hiện một nhóm người thường xuyên "phát lậu" trực tiếp các trận đấu bóng đá của các nước trên thế giới và tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá quy mô lớn.
Ngày 26-6, Công an tỉnh Lào Cai phối hợp Cục Cảnh sát hình sự, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao huy động 100 cán bộ, chiến sĩ đồng loạt triển khai phá án tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước như Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM, Hải Phòng, Lào Cai, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh, Phú Thọ.
Cơ quan công an đã triệu tập, làm việc 20 người liên quan. Đồng thời thu giữ 25 điện thoại, 20 máy tính, phong tỏa 28 tài khoản ngân hàng với số tiền 7,5 tỉ đồng.
Bước đầu nhóm này khai nhận đường dây hoạt động từ tháng 6-2025 đến nay. Không chỉ phát trực tiếp trái phép các trận bóng đá để thu hút người xem, đường dây này còn gắn banner quảng cáo nhà cái, lôi kéo người xem tham gia cá độ bóng đá.
Công an xác định tổng số tiền giao dịch phục vụ đánh bạc và tổ chức đánh bạc khoảng 850 tỉ đồng.
Hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án.
Phát biểu tại tọa đàm góp ý dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), Luật gia Lương Duy Cường, Chi hội trưởng Chi hội Luật gia Tư vấn pháp lý thuộc Hội Luật gia Việt Nam cho biết, Luật Luật sư được ban hành năm 2006 và sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho sự phát triển của nghề luật sư tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau gần hai thập kỷ thực thi, nhiều quy định đã bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Theo ông Cường, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) lần này gồm 6 chương, 36 điều, điều chỉnh toàn diện các nội dung liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, đào tạo, tập sự, quyền và nghĩa vụ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư cũng như hoạt động của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.
Tại tọa đàm, các đại biểu tập trung thảo luận ba nhóm vấn đề lớn gồm đào tạo luật sư; thù lao, hứa thưởng trong cung cấp dịch vụ pháp lý; và quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng.
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là tháo gỡ những vướng mắc của luật sư trong quá trình hành nghề, nhất là việc tiếp cận hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng cứ và tham gia tố tụng.
Luật gia, Luật sư Đặng Đình Thịnh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Tp.HCM thuộc Hội Luật gia Việt Nam, đề nghị dự thảo luật quy định rõ các hành vi cản trở hoạt động nghề nghiệp của luật sư, đồng thời có chế tài xử lý phù hợp để bảo đảm quyền hành nghề hợp pháp.
Đáng chú ý, ông đề xuất nghiên cứu bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong các vụ án hình sự. Theo ông, việc luật sư đã có thẻ luật sư và thuộc tổ chức hành nghề hợp pháp đã đủ điều kiện để tham gia tố tụng, trong khi thủ tục xin cấp thêm giấy chứng nhận người bào chữa hiện nay làm phát sinh thêm thời gian và thủ tục hành chính không cần thiết.
Đồng tình với quan điểm này, Luật gia Lê Đông Triều, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý và Kinh doanh Quốc tế (IBLA) cho rằng nếu chỉ quy định nguyên tắc chung mà không kèm theo chế tài cụ thể thì sẽ khó bảo vệ quyền hành nghề của luật sư trên thực tế.
Theo ông Triều, dự thảo luật cần bổ sung các quy định cụ thể về hành vi cản trở luật sư hành nghề, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc phối hợp, cung cấp thông tin và giải quyết các yêu cầu của luật sư trong quá trình tác nghiệp.
Ông cũng đề xuất luật cần quy định thời hạn xử lý cụ thể đối với các thủ tục liên quan đến hoạt động tố tụng của luật sư nhằm tránh tình trạng hồ sơ bị tồn đọng kéo dài.
"Có những trường hợp nếu không quy định thời hạn cụ thể thì hồ sơ có thể bị kéo dài rất lâu. Theo tôi, đối với những yêu cầu xác nhận hoặc phản hồi của cơ quan có thẩm quyền thì nên quy định thời hạn ngắn, thậm chí có thể là 24 giờ hoặc vài ngày làm việc", ông Triều kiến nghị.
Ở góc độ thực tiễn xét xử, Thẩm phán Hoàng Hữu Thanh, Giảng viên Học viện Tư pháp cho rằng nếu luật sư đã nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định nhưng quá thời hạn mà cơ quan tiến hành tố tụng vẫn chưa phản hồi thì luật sư cần được mặc nhiên thực hiện quyền và nghĩa vụ nghề nghiệp của mình.
Theo ông Thanh, nếu đưa quy định về hành vi cản trở luật sư hành nghề vào luật thì cũng cần xác định rõ hành vi nào bị xem là cản trở và cơ chế xử lý cụ thể ra sao để bảo đảm tính khả thi khi áp dụng.
Trong khi đó, ông Nguyễn Châu Hoan, nguyên Thẩm phán TAND Tối cao cho rằng dự thảo luật cần bổ sung các quy định chặt chẽ hơn về bảo vệ bí mật thông tin khách hàng.
Theo ông, đây là nguyên tắc cốt lõi của nghề luật sư bởi nếu khách hàng không tin tưởng thông tin của mình được giữ bí mật, họ sẽ không chia sẻ đầy đủ các tình tiết của vụ việc, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
"Bảo mật thông tin khách hàng không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là nền tảng tạo dựng niềm tin của xã hội đối với nghề luật sư", ông Hoan nhấn mạnh.
Ở góc độ quản lý nghề nghiệp, Luật gia Nguyễn Văn Liêm, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật tại Tp.HCM thuộc Hội Luật gia Việt Nam cho rằng dự thảo hiện mới quy định các trường hợp được cấp, cấp lại hoặc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư nhưng chưa làm rõ nguyên tắc và thẩm quyền thực hiện.
Theo ông Liêm, cơ quan nào cấp chứng chỉ hành nghề thì cơ quan đó cần có trách nhiệm thu hồi khi phát sinh vi phạm nhằm tránh tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư.
Ông cũng cho rằng cơ chế đào tạo, tập sự và kiểm tra kết quả tập sự trước khi cấp chứng chỉ hành nghề vẫn cần được duy trì nhằm bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư trong bối cảnh nghề luật ngày càng đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và tính chuyên nghiệp lớn hơn.
Theo Thẩm phán Hoàng Hữu Thanh, việc sửa đổi Luật Luật sư là yêu cầu tất yếu khi quy mô đội ngũ luật sư Việt Nam đã thay đổi rất lớn trong hơn ba thập kỷ qua.
Ông cho biết cuối những năm 1980, cả nước chỉ có khoảng 200 luật sư, trong khi hiện nay số lượng luật sư đã vượt mốc 27.000 người.
"Từ vài trăm luật sư lên hàng chục nghìn luật sư thì cơ chế quản lý và các quy định pháp luật cũng phải thay đổi tương ứng", ông Thanh nhận định.
Đáng chú ý, ông cho rằng dự thảo luật hiện chưa đề cập đầy đủ đến việc đào tạo kỹ năng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo cho luật sư trong bối cảnh AI đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động pháp lý trên toàn thế giới.
"Không đưa công nghệ số vào đào tạo luật sư sẽ là một sai lầm lớn", ông Thanh nhấn mạnh.
Theo ông, AI hiện đã có thể hỗ trợ tra cứu văn bản pháp luật, nghiên cứu hồ sơ, phân tích dữ liệu và xây dựng lập luận pháp lý với tốc độ rất cao. Trong khi đó, thực tế vẫn còn không ít luật sư lúng túng khi tham gia các phiên tòa trực tuyến hoặc ứng dụng công nghệ trong công việc hằng ngày.
"Nếu không thay đổi, luật sư Việt Nam sẽ tụt lại phía sau trong cuộc cạnh tranh với luật sư quốc tế", ông nói.
Bổ sung thêm góc nhìn về hội nhập quốc tế, Luật sư Trần Đình Dũng, Giám đốc Công ty luật TNHH MTV Đông Pháp, Đoàn Luật sư Tp.HCM cho rằng Việt Nam đang thiếu đội ngũ luật sư có khả năng tham gia tranh tụng thương mại quốc tế và giải quyết tranh chấp bằng tiếng Anh.
Ông dẫn chứng trường hợp một vụ tranh chấp tại trọng tài thương mại mà ông đang tham gia, trong đó hợp đồng giữa các doanh nghiệp được ký kết hoàn toàn bằng tiếng Anh và toàn bộ quá trình tố tụng cũng phải được thực hiện bằng tiếng Anh.
"Tôi đã tìm kiếm suốt ba tháng để mời một luật sư có đủ khả năng tranh tụng bằng tiếng Anh nhưng vẫn chưa tìm được người phù hợp", ông Dũng chia sẻ.
Theo ông, hiện có nhiều luật sư tham gia tư vấn cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, tuy nhiên số lượng luật sư có thể trực tiếp tham gia tranh tụng quốc tế hoặc điều hành các phiên trọng tài bằng tiếng Anh vẫn còn rất hạn chế.
Thực tế này cho thấy khoảng trống lớn về đào tạo nhân lực pháp lý quốc tế trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu và số lượng tranh chấp xuyên biên giới ngày càng gia tăng.