Trong khuôn khổ chuyến thăm Cuba, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã có các cuộc hội kiến Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Diaz-Canel, Thủ tướng Manuel Marrero Cruz, hội đàm với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bruno Rodriguez Parrilla và thông báo kết quả Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sáng 22.6, tại hội nghị do Trung ương Đảng Cộng sản Cuba tổ chức với sự chủ trì của Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Diaz-Canel và sự tham dự của đông đảo các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định sự quan tâm sâu sắc và lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tăng cường đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba, quyết tâm đồng hành, cùng Cuba thúc đẩy hợp tác anh em vì sự phát triển của mỗi nước, hòa bình, ổn định trên thế giới.
Trên cơ sở văn kiện Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Đại hội XIV và Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, Bộ trưởng Lê Hoài Trung đã thông tin toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, các bài học kinh nghiệm rút ra.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung đồng thời đánh giá cao những biện pháp chuyển đổi toàn diện, đặc biệt là về kinh tế, mà Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba và Quốc hội Cuba vừa thông qua.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định Việt Nam tin tưởng với bản lĩnh cách mạng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba dưới sự lãnh đạo của đồng chí Raul Castro và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Diaz-Canel, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức hiện nay, tiếp tục đưa cách mạng Cuba tiến lên, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân.
Tại các cuộc tiếp, hội đàm với đoàn công tác của Đảng, Nhà nước Việt Nam, các lãnh đạo Cuba bày tỏ vui mừng và trân trọng trước việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cử Đặc phái viên sang Cuba thông báo về kết quả Đại hội XIV, cho rằng điều đó thể hiện sự tin cậy đặc biệt và quan hệ thắm tình đồng chí, anh em giữa hai Đảng, hai nước, nhân dân hai nước, là sự kiện rất có ý nghĩa trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực hiện nay.
Các lãnh đạo Cuba nhấn mạnh luôn quan tâm và sẽ tiếp tục tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giữa hai nước phát triển toàn diện trên các lĩnh vực và đạt được những kết quả quan trọng mới, đáp ứng thiết thực lợi ích của nhân dân hai nước.
Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Diaz-Canel và Thủ tướng Manuel Marrero Cruz cho rằng những bài học quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua 40 năm đổi mới là rất có giá trị để Cuba tham khảo trong quá trình đưa ra các biện pháp chuyển đổi toàn diện vừa qua.
Các lãnh đạo Cuba đánh giá cao các kết quả đáng phấn khởi về hợp tác các mặt giữa hai nước thời gian qua, nhất là về nông nghiệp, thủy sản, được sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và sự quyết liệt triển khai của các cơ quan liên quan của cả hai bên.
Hai bên cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy trao đổi các đoàn cấp cao, hợp tác giữa các cơ quan liên quan. Trong năm 2026 là dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh lãnh tụ Fidel Castro, hai bên cũng thống nhất phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm quan trọng, nhiều ý nghĩa, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh giao lưu nhân dân và thế hệ trẻ hai nước.
Hai bên khẳng định cần phát huy vai trò của các cơ chế hợp tác song phương, tiếp tục phối hợp ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương như Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết.
Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, để lại dấu ấn đậm nét về tình đoàn kết, thủy chung giữa hai Đảng, hai nước và quyết tâm chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt giữa hai nước trong thời gian tới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường hình thành, lan tỏa và tác động của dư luận xã hội.
Nếu như trước đây, dư luận xã hội chủ yếu được hình thành thông qua các kênh giao tiếp trực tiếp, báo chí truyền thống hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, thì ngày nay, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng sản sinh, tương tác, lan truyền và khuếch đại dư luận.
Trong bối cảnh đó, công tác dư luận xã hội đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đổi mới công tác dư luận xã hội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điểm nổi bật nhất của dư luận xã hội hiện nay là tốc độ hình thành và lan truyền thông tin diễn ra với quy mô rất lớn, cường độ rất nhanh. Chỉ một sự kiện, một phát ngôn, một đoạn video ngắn hoặc một thông tin chưa được kiểm chứng cũng có thể nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ và tạo thành làn sóng dư luận mạnh mẽ trong xã hội.
Không gian mạng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc truyền thông xã hội. Từ chỗ công chúng chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều, ngày nay mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất, bình luận, lan truyền và tác động đến thông tin. Điều này làm cho dư luận xã hội trở nên đa chiều hơn, dân chủ hơn, nhưng cũng phức tạp hơn, khó dự báo hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý là ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin phi chính thống ngày càng trở nên mong manh. Bên cạnh những giá trị tích cực mà môi trường số mang lại, tình trạng tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại, xuyên tạc, kích động vẫn diễn biến phức tạp.
Nhiều vụ việc xã hội cho thấy, nếu thông tin chính thống chậm được cung cấp hoặc thiếu sức thuyết phục thì rất dễ tạo khoảng trống thông tin, làm phát sinh tâm lý hoài nghi, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng số và bám sát đời sống nhân dân.
Những năm qua, công tác dư luận xã hội đã có nhiều đổi mới tích cực. Hệ thống tổ chức, mạng lưới cộng tác viên từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được củng cố; việc nắm bắt, tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng được quan tâm. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được phát hiện sớm, góp phần giúp cấp ủy, chính quyền kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xử lý.
Hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát dư luận từng bước được mở rộng. Một số cơ quan, địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, phân tích thông tin trên báo chí và mạng xã hội. Công tác dư luận xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là kênh tham mưu quan trọng trong công tác tư tưởng, dân vận, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, công tác dư luận xã hội vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Ở nhiều nơi, công tác này vẫn chủ yếu dừng ở việc phản ánh tình hình, chưa chú trọng đúng mức đến phân tích chuyên sâu, dự báo xu hướng và tham mưu chính sách. Không ít báo cáo còn nặng về mô tả hiện tượng, thiếu đánh giá bản chất, nguyên nhân và dự báo tác động.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác dư luận xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, trong khi dư luận trên không gian mạng biến động từng giờ, từng phút.
Cơ chế phối hợp giữa công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách, công tác dân vận, hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ. Nhiều thông tin phản ánh từ cơ sở chưa được xử lý, phản hồi kịp thời, làm giảm hiệu quả tạo đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chưa đồng đều; kỹ năng phân tích dữ liệu, khai thác thông tin số, nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần sớm được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công tác dư luận xã hội cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy, phương thức, công nghệ và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, dân vận, mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 giải pháp cốt lõi sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Cần chuyển từ tư duy "nắm bắt và phản ánh dư luận" sang tư duy "quản trị dư luận xã hội trong môi trường số". Sự chuyển đổi này không có nghĩa là hành chính hóa hay áp đặt đối với dư luận xã hội, mà là nâng cao năng lực lắng nghe, phân tích, dự báo, định hướng và tham mưu xử lý các vấn đề xã hội một cách chủ động, khoa học, thuyết phục.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ nhằm biết nhân dân đang quan tâm điều gì, mà quan trọng hơn là phải nhận diện được vì sao vấn đề đó được quan tâm, nhóm xã hội nào đang chịu tác động, mức độ lan tỏa đến đâu, xu hướng diễn biến ra sao, nguy cơ bị lợi dụng như thế nào và cần tham mưu giải pháp gì để xử lý từ sớm, từ xa.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện tượng, công tác dư luận xã hội sẽ luôn đi sau thực tiễn; nếu có năng lực phân tích và dự báo, công tác này sẽ trở thành công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Do đó, cần coi dư luận xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công. Mỗi chủ trương, chính sách lớn, nhất là những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đều cần được nhìn nhận từ góc độ dư luận xã hội: Nhân dân hiểu thế nào, đồng thuận đến đâu, băn khoăn điều gì, vướng mắc ở khâu nào, cần điều chỉnh ra sao. Đây chính là cơ sở để chính sách đi vào cuộc sống, hạn chế khoảng cách giữa chủ trương đúng với tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công tác dư luận xã hội vì vậy phải trở thành một bộ phận hữu cơ của phương thức lãnh đạo, quản lý hiện đại: lãnh đạo phải dựa vào dân, lắng nghe dân, hiểu dân, thuyết phục dân và tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, giám sát, hoàn thiện chính sách.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính đột phá, quyết định khả năng thích ứng của công tác dư luận xã hội trong bối cảnh mới. Khi dư luận xã hội hình thành và lan truyền chủ yếu trên môi trường số, nếu công tác nắm bắt dư luận vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, phân tán, chậm cập nhật thì sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thực tiễn.
Cần khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dữ liệu chuyên ngành về dư luận xã hội theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng cập nhật, phân tích và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các trung tâm hoặc bộ phận phân tích, dự báo dư luận xã hội trên nền tảng số, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân loại, đánh giá các dòng thông tin lớn trên báo chí, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ phân tích cảm xúc, phân tích xu hướng thông tin, nhận diện chủ đề nóng, phát hiện bất thường trong dòng chảy thông tin. Những công cụ này giúp phát hiện sớm các vấn đề nổi lên, cảnh báo nguy cơ phát sinh điểm nóng, nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng tham mưu giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông và xử lý chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội không chỉ là đầu tư phần mềm, thiết bị hay lập thêm hệ thống kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phương pháp phân tích và năng lực sử dụng dữ liệu. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được phân tích đúng, đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có tính khả thi.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ "đi sau phản ánh" sang "đi trước dự báo"; từ xử lý bị động sang chủ động nhận diện, phòng ngừa rủi ro xã hội; từ báo cáo tình hình sang kiến tạo giải pháp, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong môi trường số.
Ba là, gắn chặt công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách không phải lúc nào cũng xuất phát từ bản thân chính sách, mà có khi bắt nguồn từ việc thông tin chưa đầy đủ, truyền thông chưa đúng thời điểm, thiếu đối thoại, thiếu giải thích hoặc chậm phản hồi trước những băn khoăn chính đáng của người dân. Trong môi trường số, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, tin giả, thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc.
Vì vậy, công tác dư luận xã hội phải gắn chặt với truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trước khi ban hành những chính sách lớn, có tác động rộng đến đời sống nhân dân, cần coi trọng khảo sát, đánh giá tác động dư luận xã hội, nhận diện các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng, dự báo những vấn đề có thể phát sinh, từ đó có phương án truyền thông, giải thích và tạo đồng thuận phù hợp.
Trong quá trình thực hiện chính sách, cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ nhân dân, nhất là những ý kiến khác biệt, những băn khoăn, vướng mắc từ cơ sở. Thông tin phản ánh từ dư luận xã hội phải được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kịp thời; tránh tình trạng chỉ thu thập thông tin để báo cáo mà chưa gắn với trách nhiệm giải quyết.
Truyền thông chính sách trong thời đại số phải bảo đảm ba yêu cầu: nhanh, đúng và thuyết phục. Nhanh để không tạo khoảng trống thông tin; đúng để bảo đảm tính chính xác, chính thống; thuyết phục để người dân hiểu, chia sẻ và đồng thuận. Chính sách tốt không chỉ đúng về mục tiêu, đúng về pháp lý, mà còn phải được truyền thông đúng cách, được nhân dân hiểu đúng, đồng tình và tích cực tham gia thực hiện.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt, định hướng và tạo đồng thuận xã hội.
Trong công tác dư luận xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận có điều kiện và trách nhiệm trở thành một kênh quan trọng nắm bắt, phản ánh và tham mưu xử lý các vấn đề dư luận xã hội.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt dư luận theo hướng sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe thực chất tiếng nói của nhân dân. Cần kết hợp giữa nắm bắt qua hệ thống tổ chức, qua đội ngũ cán bộ cơ sở, qua tiếp xúc cử tri, giám sát, phản biện xã hội, với việc khai thác các kênh thông tin trên môi trường số. Qua đó, phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thông qua giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận cần góp phần phát hiện sớm những bất cập trong cơ chế, chính sách, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, không để những bức xúc nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, không để các vấn đề dân sinh trở thành điểm nóng xã hội.
Trong thời đại số, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần phát huy vai trò định hướng, lan tỏa thông tin tích cực, củng cố đồng thuận xã hội trên không gian mạng. Mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể, đoàn viên, hội viên cần trở thành một chủ thể tích cực trong tuyên truyền, giải thích chính sách, phản ánh tiếng nói từ cơ sở, đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thời đại số.
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Chất lượng công tác dư luận xã hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh mới, cán bộ làm công tác dư luận xã hội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phân tích sắc bén, năng lực dự báo tốt, am hiểu thực tiễn xã hội và có khả năng sử dụng công nghệ số.
Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực: năng lực chính trị, năng lực xã hội học và năng lực số. Năng lực chính trị để nhận diện đúng tính chất của vấn đề, phân biệt giữa bức xúc chính đáng của nhân dân với hành vi lợi dụng, kích động, chống phá. Năng lực xã hội học để khảo sát, phân tích, đánh giá tâm trạng xã hội một cách khoa học. Năng lực số để khai thác dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích truyền thông, theo dõi xu hướng thông tin và tham mưu trong môi trường số.
Cùng với đội ngũ chuyên trách, cần củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới này phải đa dạng, có chiều sâu, bao gồm cán bộ cơ sở, trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là lực lượng quan trọng giúp công tác dư luận xã hội bám sát đời sống, phản ánh được nhiều chiều cạnh của thực tiễn, nhất là những vấn đề đang hình thành từ cơ sở.
Tựu trung lại, 5 giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, đổi mới tư duy là tiền đề; chuyển đổi số là khâu đột phá; truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi là điều kiện bảo đảm hiệu quả; phát huy vai trò Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là nền tảng để bám sát Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố then chốt quyết định chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ là công cụ nắm bắt tâm trạng xã hội mà còn là phương thức quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Ở đâu cấp ủy, chính quyền biết lắng nghe nhân dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề nhân dân quan tâm, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Ngược lại, nếu xa dân, thiếu thông tin, chậm phản hồi hoặc né tránh những vấn đề bức xúc thì rất dễ tạo khoảng trống để thông tin xấu độc len lỏi, tác động tiêu cực đến xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa và lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại hội thảo "Công tác chính trị, tư tưởng đi trước mở đường trong kỷ nguyên mới" do Báo Thanh Niên phối hợp với các đơn vị tổ chức, diễn ra chiều 15.5, tại Học viên Thanh thiếu niên Việt Nam, PGS-TS Lê Văn Cường đã gửi tham luận chủ đề "Công tác chính trị, tư tưởng trước yêu cầu đi trước mở đường, chủ động dẫn dắt trong giai đoạn mới - một số yêu cầu và giải pháp".
PGS-TS Lê Văn Cường đặt ra 5 yêu cầu "đi trước mở đường" và "chủ động dẫn dắt" của công tác chính trị, tư tưởng.
Thứ nhất, "đi trước" đòi hỏi công tác chính trị, tư tưởng phải có khả năng dự báo đúng, trúng và sớm các xu hướng tâm lý, các luồng ý kiến trái chiều có thể phát sinh trước mỗi chủ trương, chính sách mới.
Thứ hai, cần tháo gỡ rào cản tâm lý cho đổi mới, sáng tạo, giúp cán bộ đảng viên vượt qua tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm.
Thứ ba, nâng cao bản lĩnh chính trị trước các tác động tiêu cực của các luồng thông tin xấu độc. Công tác chính trị, tư tưởng phải cung cấp cơ sở lý luận sắc bén để mỗi cá nhân có khả năng tự sàng lọc, phân biệt đúng - sai để dẫn dắt hành động.
Thứ tư, về tính dẫn dắt của công tác chính trị, tư tưởng trong kỷ nguyên số, yêu cầu cần xác lập thông tin chính thống và khả năng chiếm lĩnh không gian mạng. Cùng đó, cần dẫn dắt bằng nền tảng lý luận khoa học và bản lĩnh chính trị.
Công tác chính trị, tư tưởng phải làm cho mỗi đoàn viên, thanh niên và từng đảng viên hiểu rằng: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là bảo vệ giá trị văn hóa, bảo vệ hồn cốt của dân tộc.
Công tác chính trị, tư tưởng, theo ông Cường, cũng phải truyền cảm hứng để cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
"Khi vai trò dẫn dắt của công tác chính trị, tư tưởng được thể hiện trên thực tiễn, nó sẽ chuyển hóa thành nguồn lực vật chất to lớn, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân vượt qua các thách thức mang tính thời đại, nhằm hiện thực hóa mục tiêu chiến lược phát triển đất nước tầm nhìn đến năm 2045", ông Cường nhấn mạnh.
Thứ năm, về yêu cầu trong công tác chính trị, tư tưởng đối với thế hệ trẻ, PGS-TS Lê Văn Cường cho rằng, cần đưa giá trị lý tưởng vào bản lĩnh và hệ giá trị cá nhân của thế hệ trẻ. Đối với thanh niên, giáo dục chính trị phải gắn liền với quá trình hình thành bản lĩnh chính trị để có khả năng tự đề kháng trước các luồng tư tưởng sai trái, lệch lạc.
Hai là, nâng cao năng lực nhận diện đối tượng và đối tác trong bối cảnh hội nhập quốc tế phức tạp; giúp giới trẻ nhận diện được những xu thế tiến bộ, các lực lượng ủng hộ sự phát triển của Việt Nam (đối tác), đồng thời cảnh giác trước những âm mưu "diễn biến hòa bình" và các hình thái xâm lăng văn hóa trên không gian mạng (đối tượng).
Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân trong thời kỳ mới; phải làm cho thế hệ trẻ thấm nhuần rằng họ là chủ nhân, là lực lượng xung kích đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Khi thanh niên hiểu rõ vị thế của đất nước, những thời cơ chiến lược cũng như các thách thức mang tính tồn vong, họ sẽ tự giác chuyển hóa nhận thức thành hành động cách mạng cụ thể.
Để triển khai Quy định số 19-QĐ/TW đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, PGS-TS Lê Văn Cường chỉ ra 5 nhóm giải pháp đột phá.
Đầu tiên, cần hiện đại hóa phương thức tuyên truyền, phải đoạn tuyệt với lối mòn trong việc tổ chức học tập nghị quyết theo lối hình thức, một chiều. Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) chính là chìa khóa để khắc phục rào cản giữa lý luận và thực tiễn.
Kế đó, phải chuyển mình từ trạng thái "thụ động giải thích" sang "chủ động tấn công". Hệ thống phải có khả năng phản ứng tức thời, không để xảy ra tình trạng "khoảng trống thông tin" - nơi các tin giả và tư tưởng xấu độc thường lợi dụng để thao túng nhận thức của nhân dân.
Song song đó, cần gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, phải đi sâu vào những vấn đề của đất nước hiện nay như: công tác cán bộ, cải cách hành chính, chuyển đổi số và đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
PGS-TS Lê Văn Cường cho rằng, công tác chính trị, tư tưởng phải hình thành niềm tin giúp cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, thay vì rơi vào trạng thái trì trệ, thủ thế.
"Chính hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra là thước đo khách quan nhất, công tâm nhất cho chất lượng và uy tín của công tác chính trị, tư tưởng của Đảng", ông nhấn mạnh.
Đối với các tổ chức Đoàn, việc gắn kết công tác chính trị, tư tưởng với thực tiễn phải được cụ thể hóa bằng việc đồng hành cùng thanh niên trong quá trình khởi nghiệp, lập nghiệp và hội nhập.
Cạnh đó, cần đề cao tính nêu gương của người đứng đầu. PGS-TS Lê Văn Cường nhấn mạnh: "Khi người đứng đầu thực sự là tấm gương về bản lĩnh, trí tuệ và sự liêm chính, công tác chính trị, tư tưởng sẽ tự thân xác lập được uy tín mà không cần đến những mệnh lệnh hành chính hoặc các biện pháp cưỡng chế".
Yêu cầu về nêu gương nằm ở sự dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và tư duy nhiệm kỳ.
Cuối cùng, PGS-TS Lê Văn Cường nhấn mạnh giải pháp tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật. Việc đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát phải lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo phản ánh chất lượng công tác chính trị, tư tưởng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đến Hà Nội, bắt đầu thăm chính thức Việt Nam

Ra sân bay quốc tế Nội Bài đón Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae có: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong; Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ; Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu, cùng các cán bộ của Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ.
Tháp tùng Thủ tướng Takaichi Sanae thăm chính thức Việt Nam có: ông Sato Kei, Phó chánh Văn phòng Nội các; ông Ichikawa Keiichi, Tổng thư ký ban An ninh Quốc gia; ông Uno Yoshimasa, Trợ lý Thủ tướng; ông Iijima Isao, Cố vấn đặc biệt Văn phòng Nội các; ông Ito Naoki, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam; ông Saiki Kozo, Thư ký phụ trách Quan hệ công chúng; ông Iida Yuji, Thư ký Thủ tướng; ông Namazu Hiroyuki, Thứ trưởng, Bộ Ngoại giao; ông Matsuo Takehiko, Thứ trưởng, Bộ Kinh tế thương mại và công nghiệp; ông Watanabe Yoichi, Thứ trưởng, Bộ Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; ông Terada Yoshimichi, Thứ trưởng, Bộ Đất đai, cơ sở hạ tầng, giao thông và du lịch; ông Kano Koji, Thứ trưởng, Bộ Quốc phòng; ông Imagawa Takuo, Thứ trưởng, Bộ Nội vụ và truyền thông.
Theo Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu, chuyến thăm lần này mang ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện sinh động sự coi trọng cao độ của Nhật Bản đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản khi cả hai nước đang cùng bước vào giai đoạn phát triển mới.
Nhấn mạnh Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực mà Thủ tướng Takaichi Sanae đi thăm sau khi được bầu lại làm Thủ tướng Nhật Bản tháng 2 vừa qua, Đại sứ Phạm Quang Hiệu cho rằng đây là dịp để hai bên tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, tăng cường trao đổi chiến lược ở cấp cao, đồng thời tạo thêm động lực mới cho hợp tác song phương ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.
Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki cho biết, đây là lần thứ hai Thủ tướng Takaichi đến thăm Việt Nam, lần trước là vào năm 2020, khi bà còn giữ cương vị Bộ trưởng Bộ nội vụ và truyền thông Nhật Bản.
Đại sứ Ito Naoki khẳng định Nhật Bản mong muốn tăng cường quan hệ với các nhà lãnh đạo Việt Nam, bao gồm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Đây sẽ là cơ hội để khẳng định việc tăng cường phối hợp trong quan hệ song phương, dựa trên khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện (CSP) cũng như trong việc ứng phó với các vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế.
Nhiều cuộc hội đàm cấp cao sẽ được thực hiện để trao đổi về các chủ đề năng lượng, bảo đảm an ninh kinh tế, đất hiếm, giao lưu nhân dân, học thuật giữa hai nước
Tin Gốc: Thanh Niên

