Chiều 5/6, tại Học viện Kỹ thuật Quân sự, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Kỹ thuật Quân sự tổ chức hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển đại học đổi mới sáng tạo tại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”.
Hội thảo nhằm làm rõ mô hình đại học đổi mới sáng tạo, đánh giá thực trạng giáo dục đại học Việt Nam, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các giải pháp triển khai Nghị quyết 71 trong giai đoạn tới.
Một trong những vấn đề mà nhiều chuyên gia tại hội thảo cùng hướng đến là làm thế nào để các trường đại học thực sự trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nơi tri thức được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Theo GS.TS Nguyễn Hữu Đức, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, sự phát triển của giáo dục đại học thế giới có thể được nhìn nhận qua ba thế hệ.
Đại học thế hệ thứ nhất là mô hình đại học truyền thống với sứ mệnh chủ yếu là truyền bá tri thức và giáo dục khai phóng. Từ thế kỷ XIX, cùng với mô hình Humboldt ở Đức, đại học bước sang thế hệ thứ hai – đại học nghiên cứu – nơi hoạt động nghiên cứu khoa học trở thành chức năng cốt lõi bên cạnh đào tạo.
Đến nửa sau thế kỷ XX, thế giới chứng kiến sự xuất hiện của đại học thế hệ thứ ba – đại học khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Nếu đại học nghiên cứu tập trung vào khám phá và sáng tạo tri thức mới thì đại học đổi mới sáng tạo tiến thêm một bước, đó là chuyển hóa tri thức thành công nghệ, doanh nghiệp và giá trị kinh tế – xã hội.
TS Nguyễn Hữu Đức nhận định, trong bối cảnh hiện nay, đại học đổi mới sáng tạo không phải một mô hình tách biệt mà là nấc phát triển cao hơn của đại học nghiên cứu. Muốn xây dựng đại học đổi mới sáng tạo, trước hết phải xây dựng được đại học nghiên cứu mạnh, có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, năng lực nghiên cứu cao và cơ chế quản trị hiện đại.
Nhận định này cũng được nhiều chuyên gia chia sẻ quan điểm đồng tình tại hội thảo. Tuy nhiên, theo PGS Nguyễn Đắc Bình Minh, Viện Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), đây cũng chính là nơi xuất hiện điểm nghẽn lớn nhất của hệ thống hiện nay.
PGS Nguyễn Đắc Bình Minh phân tích, chuỗi đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh bao gồm nhiều giai đoạn liên tiếp, từ hình thành ý tưởng, tạo ra công nghệ mới, phát triển giải pháp ứng dụng, quy mô hóa sản xuất cho tới thương mại hóa trên thị trường.
Trong khi đó, phần lớn hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay mới dừng ở giai đoạn tạo ra kết quả nghiên cứu hoặc nguyên mẫu công nghệ. Nhiều đề tài đã đi tới công bố khoa học, báo cáo nghiệm thu hoặc sản phẩm mẫu trong phòng thí nghiệm nhưng chưa bước tiếp sang sản xuất quy mô lớn và thương mại hóa.
“Giai đoạn từ “0 đến 1″ – tức hình thành công nghệ mới thông qua nghiên cứu và phát triển (R&D) – là chặng đường khó khăn nhất, đòi hỏi nền tảng tri thức sâu, thời gian đầu tư kéo dài, có khi từ 10 đến 30 năm cùng nguồn lực rất lớn. Đây là giai đoạn tốn tiền nhưng chưa tạo ra tiền”, ông nhận định.
Theo ông Minh, Việt Nam không nhất thiết phải tự thực hiện toàn bộ quá trình từ 0 đến 1 trong mọi lĩnh vực. Quan trọng hơn là biết tận dụng các thành tựu khoa học của nhân loại, “đứng trên vai người khổng lồ” để rút ngắn thời gian phát triển công nghệ và nhanh chóng chuyển sang các giai đoạn tạo ra giá trị kinh tế.
Từ góc nhìn của một trường đại học lớn, TS Phạm Đình Anh Khôi, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TPHCM, cho rằng đại học đổi mới sáng tạo không thể được xây dựng từ những hoạt động đơn lẻ mà phải là một hệ thống hoàn chỉnh.
Theo TS Khôi, trên thế giới hiện nay đã hình thành nhiều bộ tiêu chuẩn đánh giá đại học khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo như HEInnovate của OECD và Liên minh châu Âu, hệ thống kiểm định ACEEU hay bảng xếp hạng WURI.
Điểm chung của các mô hình này là đều đặt trọng tâm vào chiến lược, nguồn lực, năng lực tổ chức và khả năng tạo ra tác động thực tế đối với xã hội.
Tại Trường Đại học Bách khoa TPHCM, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được xây dựng theo một chuỗi liên hoàn từ hình thành nhận thức, đào tạo, trải nghiệm, ươm tạo đến chuyển giao công nghệ và tạo tác động kinh tế – xã hội.
Nhà trường hiện có khoảng 28.000 sinh viên, hơn 1.100 cán bộ giảng viên, 11 trung tâm khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ cùng hệ thống phòng thí nghiệm quy mô lớn phục vụ đào tạo và nghiên cứu.
Mỗi năm, trường có khoảng 4.000 sinh viên tham gia các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhà trường cũng xây dựng mạng lưới hơn 200 doanh nghiệp đối tác và đạt doanh thu chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ hơn 700 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025.
Tuy vậy, theo TS Khôi, các trường đại học Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quản trị sở hữu trí tuệ, cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo và phát triển đội ngũ nhân lực trung gian kết nối trường đại học với doanh nghiệp.
Từ góc độ quản lý nhà nước, đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng việc phát triển đại học đổi mới sáng tạo cần được đặt trong mô hình liên kết “3 nhà” gồm Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp.
Theo đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, xây dựng môi trường chính sách, đầu tư cho nghiên cứu nền tảng và phát triển hạ tầng khoa học công nghệ. Trường đại học thực hiện nghiên cứu, đào tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp đóng vai trò tiếp nhận công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo dẫn kinh nghiệm của Mỹ và Trung Quốc cho thấy thành công của các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đều dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa ba chủ thể này.
Tại Mỹ, các chính sách như Đạo luật Bayh-Dole đã góp phần hình thành vòng tuần hoàn từ tri thức, công nghệ, sản phẩm tới thị trường và tái đầu tư cho nghiên cứu.
Trong khi đó, Trung Quốc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dựa trên vai trò dẫn dắt của Nhà nước, kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền địa phương trong những cụm công nghệ quy mô lớn.
Những trao đổi tại hội thảo cho thấy phát triển đại học đổi mới sáng tạo không đơn thuần là mở thêm các trung tâm khởi nghiệp hay gia tăng số lượng công bố khoa học. Điều cốt lõi là hình thành được một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó kết quả nghiên cứu có thể đi tiếp con đường từ phòng thí nghiệm tới sản xuất và thị trường.
Đó cũng là điều kiện để các trường đại học thực sự trở thành trung tâm sáng tạo, đóng góp trực tiếp vào năng lực cạnh tranh quốc gia và các mục tiêu phát triển mà Nghị quyết 71-NQ/TW đặt ra.
Sáng nay (20.5), Trường ĐH Nguyễn Tất Thành tổ chức lễ khởi công xây dựng 2 tòa nhà thuộc Trung tâm Phát triển công nghệ cao của trường tại Khu Công nghệ cao TP.HCM.
Đây là dự án trọng điểm của trường nằm trong chiến lược phát triển hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong giai đoạn mới theo định hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, viện nghiên cứu trong - ngoài nước.
Theo tiến sĩ Nguyễn Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, công trình xây dựng với 2 khối chức năng chính: Tòa nhà Global Hub (11 tầng) gồm các khối Viện Đào tạo các chương trình quốc tế và Viện Nghiên cứu, giảng dạy ngoại ngữ; tòa nhà Innovation Hub (12 tầng) gồm các khối Viện Nghiên cứu tin học, Viện Nghiên cứu đào tạo theo yêu cầu xã hội, Viện Xúc tiến quan hệ doanh nghiệp và hỗ trợ sinh viên.
Toàn khu được xây dựng trên diện tích hơn 47.000 m² với tổng diện tích sàn gần 94.681m². Riêng 2 khối nhà khởi công có tổng diện tích sàn hơn 25.482 m², được đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật với không gian học thuật, nghiên cứu, thực hành ứng dụng, đào tạo quốc tế, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hợp tác doanh nghiệp. Tổng mức đầu tư của dự án này là hơn 300 tỉ đồng và được triển khai đến năm 2027.
Tiến sĩ Mai Lan chia sẻ: "Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục ĐH trên thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và thị trường lao động. Các trường ĐH không chỉ thực hiện chức năng đào tạo và nghiên cứu mà còn đóng vai trò là trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế".
Vì thế, theo bà Mai Lan, việc đầu tư xây dựng thêm 2 tòa nhà nhằm tiếp tục hướng đến mục tiêu tập trung các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật công nghệ cao, giải mã công nghệ, hoàn thiện các công nghệ và thương mại hóa các sản phẩm trong các lĩnh vực công nghệ cao đang ưu tiên phát triển tại Việt Nam.
Nam sinh lớp 12A1, trường THPT Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, đạt điểm 10 ở môn Toán và Lý, tiếng Anh được 9,75, là một trong hai thủ khoa khối A01, theo dữ liệu điểm thi tốt nghiệp THPT. Minh kể đón nhận kết quả khá bình tĩnh, bởi giữ được trạng thái tâm lý ổn định khi thi và ước lượng được kết quả.
"Em tiếc vì một câu sai tiếng Anh cơ bản về chia động từ, hai môn còn lại thì em tự tin", Minh chia sẻ.
Tân thủ khoa trước đó từng đạt 88,25/100 điểm - top 3 trong khoảng 20.000 thí sinh thi đánh giá tư duy (TSA) đợt 2 của Đại học Bách khoa Hà Nội. Trong tổng cộng hơn 60.000 lượt thi năm nay, chỉ 175 thí sinh đạt trên 80 điểm.
Đánh giá về đề thi tốt nghiệp, Minh thấy đề Vật lý rất nặng về lý thuyết nhưng vẫn yêu cầu thí sinh thông hiểu bản chất. Bí quyết học tốt môn này của Minh là gắn kiến thức trong sách vở với các hiện tượng trong thực tế.
Với môn Toán, nam sinh đánh giá phần tư duy về hình học không gian là "khó nhằn" hơn cả.
Sở hữu chứng chỉ IELTS 8.0, nhưng Minh thừa nhận đây là môn học khiến em thấy khó lấy điểm 10 nhất. Nguyên nhân là do nền tảng tiếng Anh của em có được nhờ xem video giải trí, chơi game, nghe phụ đề phim, thay vì học bài bản và gò ép theo cấu trúc ngữ pháp.
"Vì tiếp xúc nhiều nên em có thể nhìn vào và làm theo phản xạ rất nhanh, nhưng khi bị hỏi sâu về quy tắc ngữ pháp thì em lại không quá tự tin", Minh lý giải.
Sở thích chơi game trên máy tính được nam sinh duy trì thường xuyên như một cách giải trí. Nhưng đến giai đoạn nước rút, em gác lại một bên để tập trung học.
Quang Minh nói em ít đi học thêm, thời gian còn lại chủ yếu tự học và "cày" đề do thầy cô giao. Số lượng đề em làm ở mỗi môn "vô cùng đồ sộ".
"Chồng đề thi em làm trong quá trình ôn tập không thể bê được bằng hai tay, cao gần bằng giá sách", Minh kể.
Khi làm bài thi, chiến thuật của tân thủ khoa là làm theo nhiều lượt. Lượt một, em giải quyết đa số câu hỏi, câu nào vướng mắc sẽ lập tức bỏ qua để làm tiếp vào lượt hai, lượt ba. Sau khi hoàn thành, em kiểm tra lại toàn bộ bài làm để tránh sai sót.
Cô Nguyễn Thị Thu Hòa, giáo viên chủ nhiệm kiêm môn Vật lý của Minh, cho biết môn học thế mạnh và nổi trội nhất của nam sinh là Toán. Trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, nam sinh cũng dễ dàng đạt điểm 10 môn này.
Trong ba năm học THPT, Quang Minh không gò bó bản thân mà liên tục thử sức ở nhiều môn học. Lớp 10, em đạt giải nhì kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Tin học. Lớp 11, em tiếp tục chinh phục môn vật lý với giải nhì. Đến năm lớp 12, Minh lại mang về thêm giải ba môn Toán.
"Minh có khả năng tự học rất tốt, thông minh và tiếp thu nhanh. Em chịu khó chú ý nghe giảng, ham học hỏi qua sách báo, mạng, cũng như từ thầy cô và bạn bè", cô nói.
Nam sinh cho biết dự định đăng ký xét tuyển vào ngành Khoa học Máy tính (IT1) của Đại học Bách khoa Hà Nội.
"Em đam mê môn Tin học từ lâu rồi, năm lớp 4 em đã bắt đầu đi thi viết code", Minh chia sẻ.
10 chuyên đề ôn tập môn ngữ văn thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Đỗ Đức Anh, Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=W7H7OyRoCB4
Trong chuyên đề 4, Trạm văn thực chiến - Đọc hiểu văn bản nghị luận, giáo viên Đỗ Đức Anh giúp học sinh vận dụng lý thuyết đã học ở chuyên đề 3 để thực hành giải đề đọc hiểu một cách thành thạo, đúng hướng và đạt điểm tối đa. Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản nghị luận qua các đề thực tiễn.
Thực chiến sẽ giúp học sinh rút kinh nghiệm sâu sắc cho bản thân để làm tốt câu đọc hiểu văn bản nghị luận; Xác định đúng dạng câu hỏi để áp dụng chiến lược phù hợp; Luyện đề thực tế để thành thạo kỹ năng làm bài; Rèn khả năng đọc nhanh – hiểu sâu – trả lời chuẩn xác. Phân tích từng câu hỏi theo hướng tư duy thi thật giúp học sinh tối ưu hóa thời gian làm bài và nâng cao khả năng xử lý câu hỏi khó, phân hóa cao.
Trước đó, vào ngày 29.4, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 3 - Chinh phục 10 dạng câu hỏi đọc hiểu văn bản nghị luận. Tại đây, giáo viên Đỗ Đức Anh giúp học sinh hiểu rõ cấu trúc và đặc trưng văn bản nghị luận; Nắm chắc các dạng câu hỏi về luận đề, luận điểm – lý lẽ – thao tác lập luận - bằng chứng; Biết cách phân tích quan điểm và lập luận của tác giả; Có công thức trả lời ngắn gọn nhưng đủ ý và tránh các lỗi sai phổ biến khi làm đọc hiểu văn nghị luận.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, Quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 27.4 đến 2.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026