Hôm nay 23.6, Bộ GD-ĐT đăng tải dự thảo thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Nếu được ban hành, đây sẽ là lần đầu tiên Bộ GD-ĐT đưa vào chuẩn các chỉ số đặc thù cho các lĩnh vực pháp luật, sức khỏe, trong đó có những yêu cầu về điều kiện thực hành cho đào tạo y khoa.
Cụ thể, khoản 7 điều 6 của dự thảo quy định đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực pháp luật, lĩnh vực sức khỏe và các lĩnh vực đặc thù khác, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí chung quy định chung còn phải đáp ứng các chỉ số đặc thù tương ứng. Hầu hết các chỉ số đặc thù này đều liên quan tới yêu cầu về điều kiện được học thực hành của người học.
Cụ thể, với lĩnh vực sức khỏe, tỷ lệ người học được bố trí cơ sở thực hành theo chương trình đào tạo phải đạt 100%; tỷ lệ giảng viên thực hành hoặc lâm sàng có chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực đạt từ 80% trở lên; tỷ lệ giảng viên kiêm nhiệm từ cơ sở thực hành đạt từ 30% trở lên; tỷ lệ chương trình đào tạo có cơ sở thực hành được ký kết ổn định tối thiểu 5 năm đạt 100%…
Ngoài ra, yêu cầu các chỉ số về thực hành cũng được chia ra cho từng nhóm ngành trong lĩnh vực đào tạo sức khỏe.
Với nhóm ngành y khoa, y học cổ truyền, phục hồi chức năng, dự thảo thông tư yêu cầu tối thiểu 1 giường bệnh thực hành trên 10 người học; từ 95% người học trở lên được thực hành lâm sàng trên người bệnh thực; từ 70% giảng viên lâm sàng có trình độ sau đại học trở lên; 100% người học tham gia trực lâm sàng.
Với nhóm răng hàm mặt thì yêu cầu tối thiểu là 1 ghế nha khoa thực hành trên 10 người học; từ 90% người học trở lên thực hành lâm sàng trên bệnh nhân thực; 100% người học hoàn thành đủ số lượng ca điều trị bắt buộc.
Với nhóm điều dưỡng – hộ sinh phải có từ 30% điều dưỡng/hộ sinh trưởng tại cơ sở thực hành tham gia đào tạo; 100% người học hoàn thành đầy đủ thực tập chăm sóc người bệnh; từ 90% người học đạt chuẩn năng lực trước tốt nghiệp; 100% cơ sở thực hành đạt chuẩn.
Với nhóm dược học, 100% người học được thực hành tại nhà thuốc, cơ sở sản xuất, kiểm nghiệm hoặc phân phối thuốc; từ 50% giảng viên trở lên có kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp (tối thiểu 12 tháng); từ 90% người học đạt chuẩn năng lực hành nghề dược; từ 30% đề tài nghiên cứu có ứng dụng trong sản xuất hoặc kiểm nghiệm thuốc.
Với nhóm y tế công cộng, 100% người học được thực hành tại CDC, trung tâm y tế, cơ quan quản lý y tế hoặc chương trình sức khỏe cộng đồng; từ 80% người học tham gia điều tra dịch tễ hoặc dự án sức khỏe cộng đồng; từ 50% giảng viên có tối thiểu 12 tháng kinh nghiệm thực tiễn quản lý y tế/y tế công cộng; từ 30% đề tài nghiên cứu phục vụ chính sách y tế; từ 90% người học đạt chuẩn năng lực.
Với nhóm kỹ thuật y học, 100% người học được bố trí thực hành tại các cơ sở chuyên môn phù hợp; từ 90% thiết bị thực hành đáp ứng yêu cầu; từ 80% giảng viên thực hành có chứng chỉ hành nghề/chứng nhận chuyên môn; từ 90% người học đạt chuẩn năng lực; từ 80% học phần thực hành được triển khai trên thiết bị thực hoặc mô phỏng chuẩn hóa.
Đáng chú ý, một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo là tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu, thay cho phương thức quản lý chủ yếu dựa vào báo cáo hành chính như trước đây. Dữ liệu về người học, đội ngũ giảng viên, điều kiện bảo đảm chất lượng và kết quả hoạt động của cơ sở giáo dục đại học được đồng bộ trên hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS).
Đây là lần đầu tiên FPTU đạt được nhóm xếp hạng này, đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế của một trong những trường đại học có tốc độ thăng hạng nổi bật trên bảng xếp hạng quốc tế đánh giá mức độ đóng góp của các cơ sở giáo dục đại học đối với 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc.
Đáng chú ý, ở hạng mục Giáo dục chất lượng (SDG4), FPTU được xếp hạng 87 thế giới, thuộc Top 100 toàn cầu và đứng đầu Việt Nam. Đây là hạng mục phản ánh trực tiếp chất lượng đào tạo, khả năng tiếp cận giáo dục và những đóng góp của đại học đối với sự phát triển của người học. Kết quả này đưa FPTU vào nhóm các cơ sở giáo dục có ảnh hưởng nổi bật bậc nhất thế giới trong việc tạo ra cơ hội học tập, phát triển năng lực và thúc đẩy học tập suốt đời.
Chỉ sau 5 năm tham gia THE Impact Ratings, FPTU đã cải thiện thứ hạng từ nhóm 801-1000 năm 2022 lên nhóm 201- 300 năm 2026. Hành trình thăng hạng liên tục này phản ánh sự ghi nhận ngày càng rõ nét của cộng đồng học thuật quốc tế đối với những nỗ lực của nhà trường trong giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, kết nối cộng đồng và thúc đẩy phát triển bền vững.
Bên cạnh thành tích nổi bật về Giáo dục chất lượng, FPTU cũng đạt nhiều kết quả ấn tượng khác như xếp thứ 14 thế giới về Việc làm tốt và Tăng trưởng kinh tế (SDG8), thứ 9 thế giới về Tổ chức vững mạnh, an bình và công bằng (SDG16), thứ 69 thế giới về Phát triển Thành phố và Cộng đồng bền vững (SDG11).
Theo Performance Highlights Report của Times Higher Education, FPTU được ghi nhận có thành tích nổi bật trên các lĩnh vực cốt lõi của một trường đại học gồm giảng dạy, nghiên cứu, quản trị và phục vụ cộng đồng. Kết quả này cho thấy năng lực của nhà trường được đánh giá một cách toàn diện, không chỉ ở chất lượng đào tạo mà còn ở khả năng tạo ra những tác động tích cực đối với xã hội.
THE Impact Ratings là bảng xếp hạng toàn cầu do Times Higher Education thực hiện nhằm đánh giá mức độ đóng góp của các trường đại học đối với sự phát triển bền vững. Khác với các bảng xếp hạng tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hay học thuật, THE Impact Ratings đo lường tác động thực tế của đại học đối với người học, cộng đồng, môi trường, thị trường lao động và sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và những thay đổi sâu sắc của thị trường lao động toàn cầu, vai trò của đại học không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn là chuẩn bị cho người học năng lực thích ứng, học tập suốt đời và khả năng tạo ra giá trị cho xã hội. Tại FPTU, định hướng này được cụ thể hóa thông qua mô hình đào tạo đặt trải nghiệm thực tiễn, năng lực toàn cầu và trách nhiệm xã hội vào trung tâm. Sinh viên được tham gia học kỳ doanh nghiệp, trải nghiệm khởi nghiệp, các dự án liên ngành, chương trình quốc tế và nhiều hoạt động cộng đồng ngay trong quá trình học tập. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, nhà trường chú trọng phát triển tư duy đổi mới, năng lực tự học, khả năng thích ứng và tinh thần làm chủ của người học trong kỷ nguyên AI.
TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường, Trường đại học FPT chia sẻ: "Trong thế giới nhiều biến động và nhiều biến đổi bất lợi hiện nay, sứ mệnh quan trọng của trường đại học là đóng góp tích cực vào phát triển bền vững của cộng đồng, của đất nước và khu vực. Từ năm 2015, Liên hợp quốc đã đặt ra 17 mục tiêu phát triển bền vững nhằm gìn giữ hành tinh, xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng thông qua các hoạt động kinh tế, môi trường và xã hội. Tổ chức The Times Higher Education (THE) cũng xây dựng một khung chiến lược cho các trường đại học để tham gia các mục tiêu này, thông qua các hoạt động cụ thể có thể định lượng được để đóng góp vào phát triển bền vững của cộng đồng, của đất nước và khu vực. Việc Trường đại học FPT năm 2026 được ghi nhận trong Top 100 thế giới về Giáo dục chất lượng (SDG4) và thuộc nhóm 300 đại học có ảnh hưởng đến phát triển bền vững hàng đầu toàn cầu là sự ghi nhận đối với hướng đi mà nhà trường đã kiên định theo đuổi trong nhiều năm: đóng góp cho cộng đồng, cho xã hội thông qua các hoạt động mang tính cộng đồng của mình, và cung cấp hoạt động giáo dục chất lượng cao, đào tạo ra những con người sau này tham gia xây dựng thế giới phát triển bền vững dù làm việc ở bất cứ đâu và giữ bất cứ cương vị gì".
Với 5 cơ sở đào tạo tại Hà Nội, Đà Nẵng, Quy Nhơn, TP.HCM và Cần Thơ, FPTU đang góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao tới nhiều khu vực trên cả nước, đồng thời tạo ra những tác động tích cực đối với cộng đồng địa phương.
Trường THPT chuyên Đại học Sư phạm, Đại học Sư phạm Hà Nội, ngày 6/5 cho biết nhận gần 7.500 hồ sơ đăng ký thi lớp 10, tăng hơn 1.800 so với năm ngoái.
Trong đó, gần 2.100 em đăng ký lớp 10 chuyên Anh, đông gấp 2-7 lần so với các lớp khác. Với chỉ tiêu 70, tỷ lệ chọi lên tới 1/29,9. Năm ngoái, dù vẫn đứng đầu, song lớp chuyên Anh có tỷ lệ chọi "dễ thở" hơn, ở mức 1/23.
Lớp chuyên Sinh bất ngờ giữ vị trí thứ hai, với mức cạnh tranh 1/19,1, trong khi năm ngoái là 1/12,5; kế đó Ngữ văn với tỷ lệ chọi 1/15,8, Hóa học - 1/13,4, đều tăng nhẹ.
Ngược lại, Tin học trong top 2 là lớp đứng thứ hai năm ngoái về mức độ cạnh tranh (1/19) nhưng năm nay giảm một nửa, còn 1/8,1, Vật lý giảm từ 1/13,1 còn 1/10,5. Một trong những lý do là chỉ tiêu của hai lớp này đều tăng từ 35 lên 70.
Năm nay, trường chuyên Sư phạm tuyển 490 học sinh lớp 10, tăng 70 so với năm ngoái.
Thí sinh phải làm bốn bài thi trong hai ngày 4-5/6, gồm Toán, Văn, Tiếng Anh và môn chuyên trong hai ngày 4-5/6. Điểm xét tuyển tính riêng theo hai nhóm.
Một là nhóm thi chuyên Toán học, Tin học, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Địa lý, điểm xét tuyển là tổng môn Toán chung cộng môn chuyên nhân hệ số hai. Điểm Văn và Tiếng Anh chung chỉ là điều kiện.
Nhóm đăng ký lớp chuyên Văn, điểm xét là điểm Văn chung và Văn chuyên nhân hệ số hai. Cách tính này tương tự với lớp chuyên Anh (Anh chung, Anh chuyên).
Thí sinh không được cộng điểm ưu tiên, được xét theo từng lớp chuyên, lấy từ cao xuống thấp. Riêng lớp chuyên Địa lý, trường dự kiến dành 50% chỉ tiêu cho những em đăng ký lớp chuyên này, còn lại dành cho nhóm đăng ký chuyên khác nhưng không đỗ.
Năm ngoái, kỳ thi vào lớp 10 trường THPT chuyên Sư phạm có hơn 5.700 học sinh dự thi, đông nhất Hà Nội. Lớp chuyên Tin (thi bằng Toán), Văn, Anh cùng lấy 21/30 điểm, cao nhất trường THPT chuyên Đại học Sư phạm, còn thấp nhất là lớp Tin (thi bằng Tin) với 17 điểm.
Tại hội nghị đối thoại giữa công nhân lao động với lãnh đạo Đà Nẵng năm 2026, anh Lê Bản Thiện, đại diện Công ty giày Rieker Việt Nam thuộc Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, cho biết doanh nghiệp hiện có hơn 13.000 lao động, trong đó hơn 90% là nữ và phần lớn đang trong độ tuổi nuôi con nhỏ.
Theo anh Thiện, quanh khu công nghiệp hiện vẫn thiếu nhà trẻ, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Nhiều công nhân phải gửi con tại các điểm giữ trẻ tự phát, vừa tốn kém vừa thấp thỏm lo lắng.
"Điều khiến nhiều công nhân áp lực mỗi ngày không chỉ là công việc mà còn là tìm nơi gửi con. Nhiều anh chị em gửi con ở các điểm tự phát, ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý làm việc", anh Thiện nói.
Từ thực tế đó, công nhân kiến nghị thành phố sớm xây dựng thêm nhà trẻ và các khu sinh hoạt văn hóa ngay tại khu công nghiệp để người lao động có nơi gửi con an toàn, chi phí phù hợp.
Trước đó, tại một hội thảo về giáo dục mầm non, bà Helle Buchhave, trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, dẫn nghiên cứu tại các khu công nghiệp ở Đà Nẵng cho thấy 42% hộ thu nhập thấp không sử dụng dịch vụ giữ trẻ vì chi phí quá cao. Nhiều gia đình phải gửi con về quê cho ông bà chăm sóc hoặc buộc một trong hai vợ hoặc chồng phải nghỉ việc để ở nhà trông con.
Ông Nguyễn Minh Huy, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng, cho biết hiện Đà Nẵng có 4 nghị quyết liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục mầm non và các cơ sở mầm non tư thục tại khu công nghiệp.
Hiện sở được giao gộp 4 nghị quyết trên thành nghị quyết quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non tại địa bàn có khu công nghiệp.
Theo đó, con công nhân lao động sẽ được hỗ trợ 200.000 đồng/trẻ/tháng, thời gian hỗ trợ không quá 9 tháng/năm học. Các cơ sở giáo dục mầm non tư thục được hỗ trợ một lần 30 triệu đồng/cơ sở, để sửa chữa, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ chương trình giáo dục mầm non theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Ngoài ra, 760 giáo viên đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục sẽ được hỗ trợ 800.000 đồng/người/tháng.
"Toàn thành phố hiện có 12.316 trẻ là con công nhân thuộc diện được hỗ trợ. Kinh phí dự kiến cho năm học 2026-2027 khoảng 51 tỉ đồng, và sẽ được trình HĐND thành phố Đà Nẵng xem xét trong tháng 5", ông Huy cho hay.
Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết thành phố chia sẻ áp lực với các gia đình công nhân làm việc theo ca kíp, tăng ca về muộn nhưng khó tìm nơi trông trẻ phù hợp giờ giấc.
Hiện phần lớn trường mầm non công lập vẫn hoạt động theo giờ hành chính. Một số trường gần khu công nghiệp đã linh hoạt nhận trẻ sớm từ 6h15 - 17h30 để hỗ trợ phụ huynh công nhân.
Từ năm 2018, Đà Nẵng cũng đã triển khai mô hình trường mầm non nhận trẻ từ 6-18 tháng tuổi. Đến cuối năm học 2025-2026, toàn thành phố có 31 trường mầm non công lập nhận trẻ dưới 18 tháng tuổi.