BTS: The Return do nhà làm phim người Mỹ gốc Việt Bảo Nguyễn đạo diễn, theo chân nhóm trong lần tái xuất sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Đạo diễn nói về quá trình thực hiện tác phẩm và trải nghiệm làm việc với một trong những nhóm nhạc hàng đầu Kpop.
– Cơ duyên nào đưa anh đến với vị trí chỉ đạo tác phẩm?
– Tôi lần đầu biết đến BTS khi sinh sống và làm việc tại Việt Nam, trước năm 2018. Nhóm có nhiều người hâm mộ là các bạn trẻ, và tôi có thể cảm nhận tầm ảnh hưởng của họ như một hiện tượng văn hóa. Năm 2020, tôi định xem concert của họ tại Rose Bowl (thành phố Pasadena, Mỹ) nhưng buổi diễn bị hủy vì đại dịch. Đến khi trực tiếp theo dõi họ ở SoFi Stadium (Los Angeles) vào tháng 11/2021, tôi choáng ngợp bởi quy mô sân khấu và tình cảm giữa BTS và cộng đồng fan ARMY (*). Với tôi, điều đó mang màu sắc huyền thoại.
Khi quan sát họ, tôi chợt liên tưởng đến sử thi Odyssey, câu chuyện về nỗi nhớ, sự xa cách và hành trình trở về. Qua cách nhìn đó, BTS giống như nhân vật Odysseus, còn ARMY như Penelope – chờ đợi thần tượng sau thời gian nhập ngũ. Nhiều lần, tôi cứ băn khoăn về suy nghĩ đó.
Tôi từng chia sẻ ý tưởng này với hãng thu âm, nhưng khi đó việc triển khai khá khó khăn, bởi nghĩa vụ quân sự là điều bắt buộc tại Hàn Quốc. Vài năm sau, công ty quản lý HYBE chủ động liên hệ, hỏi tôi có muốn ghi lại giai đoạn sản xuất album không. Tôi nhận lời, coi đó là niềm vinh dự ở thời điểm đó.
– Anh mang đến điều gì về BTS mà công chúng chưa từng thấy trước đó?
– Công việc đạo diễn cho tôi cơ hội nhìn BTS từ góc độ mới, với sự tò mò và tôn trọng. Tôi không đặt mục tiêu tạo ra một bức chân dung “cuối cùng” về BTS hay bao quát các nghệ sĩ. Điều tôi quan tâm là bảy nghệ sĩ sẽ trở lại như thế nào với album mới.
Trong phim, điều mọi người có thể cảm nhận rõ là “sự trở về”. Họ gắn kết trong âm nhạc, đồng thời mở ra một chương mới trong đời sống nghệ sĩ của BTS. Đó là lý do tôi ít quan tâm đến hình ảnh bề ngoài mà tập trung nhiều hơn vào giai đoạn làm việc và phát triển sự nghiệp. Thay vì quan sát họ như những biểu tượng người khác không thể chạm tới, tôi đặt nhóm nhạc trong trạng thái vận động, nơi họ sinh hoạt cùng nhau. Đôi lúc, các thành viên hoài nghi về con đường họ chọn, nhưng sau tất cả, họ vẫn tìm thấy sự gắn kết.
– Trong quá trình hợp tác, anh ấn tượng điều gì nhất về nhóm?
– Khi bắt đầu dự án, tôi nghĩ mình sẽ được thấy một “cỗ máy Kpop” vận hành trơn tru, trong đó công ty quản lý lên chiến lược “từ A đến Z” cho nghệ sĩ, nhưng thay vào đó, bảy người tham gia các khâu sản xuất ca khúc, có quan điểm riêng và sẵn sàng tranh luận. Họ cho tôi thấy phía sau các bài hát là sự nghiêm túc, những băn khoăn và nỗ lực chăm chút cho tác phẩm.
Một trong những điều khiến tôi nhớ nhất là cách họ cân nhắc khi đưa yếu tố truyền thống Hàn Quốc vào âm nhạc, tiêu biểu là việc sử dụng giai điệu dân ca Arirang. J-Hope và Jimin rất hào hứng với đoạn nhạc mẫu, còn V (tên thật là Kim Tae Hyung) lại dè dặt hơn. Sau đó, RM tham gia, góp thêm góc nhìn cho cuộc thảo luận.
Các nghệ sĩ không coi văn hóa chỉ là yếu tố trang trí mà luôn cân nhắc vai trò của nó như một phần cốt lõi trong cách họ sáng tạo và thể hiện bản thân. Họ ý thức rõ áp lực khi mang hình ảnh Hàn Quốc ra quốc tế, nên mỗi lựa chọn đều hướng tới việc giữ trọn tinh thần đó một cách chân thành. BTS mang vị thế nghệ sĩ toàn cầu nhưng đồng thời giữ bản sắc Hàn Quốc qua ngôn ngữ và đời sống cảm xúc.
– Đâu là thử thách lớn nhất trong lúc làm phim?
– Khó khăn của êkíp là làm sao tạo được sự tin cậy với nhân vật trong môi trường làm việc nhiều áp lực. Ngay từ đầu, tôi chia sẻ rõ lý do muốn thực hiện tác phẩm. Theo thời gian, sự tin tưởng được hình thành khi họ nhận ra tôi không khai thác những chi tiết gây sốc hay phóng đại đời tư, cũng không tập trung vào việc soi xét sai sót. Chúng tôi phải giữ khoảng cách đủ gần để quan sát bảy người, nhưng không được can thiệp hay làm gián đoạn dòng cảm xúc khi các nghệ sĩ sáng tác.
Ở giai đoạn hậu kỳ, thách thức chuyển sang việc cân bằng giữa tính chân thực của phim tài liệu và cách kể điện ảnh. Chúng tôi bám sát những giây phút đời thường, nhưng đồng thời chủ động xây dựng nhịp điệu, cấu trúc và các tuyến cảm xúc để tạo nên tổng thể. Êkíp chọn những chất liệu mang lại hiệu quả cảm xúc mạnh nhất, phản ánh nỗ lực của nhóm, nhất là các phân đoạn về việc sáng tác ca khúc Body to Body và Swim.
– Sau “BTS: The Return”, định hướng sắp tới của anh là gì?
– Hiện tôi phát triển một vài dự án ở mảng phim tài liệu lẫn phim truyện, xoay quanh những chủ đề tôi quan tâm như bản sắc văn hóa, sự chuyển biến của xã hội và đời sống cảm xúc phía sau những nhân vật nổi tiếng. Tôi luôn tìm kiếm câu chuyện mang tính riêng tư nhưng chạm đến vấn đề lớn của thế giới. Thay vì bó hẹp phạm vi chủ đề, tôi chọn tiếp cận đa dạng đề tài, bởi tôi tin văn hóa đại chúng là tấm gương phản chiếu chân thực bản sắc con người.
– Anh đặt ra những tiêu chuẩn nào khi theo đuổi dòng phim tài liệu?
– Với nhà làm phim nói chung, điều quan trọng nhất là bắt đầu từ những thứ gần gũi, bằng sự tò mò, khả năng quan sát và tính kiên nhẫn. Hãy học cách lắng nghe không chỉ lời nói mà cả những gì nằm phía sau. Đồng thời, hãy luôn trung thực và học cách xây dựng niềm tin với nhân vật. Nếu thiếu hai điều này, bạn có thể tiếp cận thứ mình muốn kể, nhưng khó chạm tới sự thật.
Kỹ thuật làm nghề cũng rất quan trọng, từ cách kể chuyện, hình ảnh, âm thanh đến cấu trúc đều cần được đầu tư nghiêm túc. Hãy xem phim, đọc sách, tìm hiểu nhiếp ảnh, âm nhạc, tiếp cận nhiều loại hình nghệ thuật để nuôi dưỡng góc nhìn.
Riêng với các đạo diễn Việt Nam, bạn không cần cố “giảm yếu tố Việt” của tác phẩm để dễ tiếp cận khán giả quốc tế. Ngược lại, càng cụ thể và chân thật với văn hóa, bộ phim càng có khả năng chạm tới cảm xúc. Người xem không tìm kiếm những điều chung chung mà họ bị cuốn hút bởi lòng chân thành và sự rõ ràng về bản sắc.
Tôi không muốn chỉ kể về con người mà muốn đồng hành với họ. Nguyên tắc đó giúp tôi luôn giữ sự cẩn trọng, trách nhiệm và tinh thần hợp tác. Khi ai đó cho phép bạn bước vào những phần mong manh trong đời sống và cảm xúc của họ, bạn cần đáp lại niềm tin ấy bằng sự cân nhắc kỹ lưỡng trong từng quyết định.
(*): Viết tắt của Adorable Representative M.C. for Youth, tên cộng đồng người hâm mộ nhóm nhạc BTS.
Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng (DANAFF) lần thứ tư diễn ra từ ngày 28/6 đến 4/7 với thông điệp Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới, do UBND TP Đà Nẵng và Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam phối hợp tổ chức. Năm nay, một số gương mặt của Hollywood góp mặt ở sự kiện, trong đó có minh tinh Jane Seymour, 75 tuổi, nổi tiếng với vai Bond Girl trong Live and Let Die (1973).
Trong khuôn khổ chương trình, bà giảng dạy lớp chuyên đề về diễn xuất. Jane Seymour cho rằng liên hoan là dịp để điện ảnh Việt kết nối các nhà làm phim quốc tế, từ đó đưa nhiều câu chuyện mang bản sắc văn hóa đến với khán giả toàn cầu.
Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng (DANAFF) lần thứ tư diễn ra từ ngày 28/6 đến 4/7 với thông điệp Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới, do UBND TP Đà Nẵng và Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam phối hợp tổ chức. Năm nay, một số gương mặt của Hollywood góp mặt ở sự kiện, trong đó có minh tinh Jane Seymour, 75 tuổi, nổi tiếng với vai Bond Girl trong Live and Let Die (1973).
Trong khuôn khổ chương trình, bà giảng dạy lớp chuyên đề về diễn xuất. Jane Seymour cho rằng liên hoan là dịp để điện ảnh Việt kết nối các nhà làm phim quốc tế, từ đó đưa nhiều câu chuyện mang bản sắc văn hóa đến với khán giả toàn cầu.
Một trong những nghệ sĩ gây chú ý với khán giả nhất là tài tử Hàn Ji Chang Wook. Đây là lần hiếm hoi nghệ sĩ tham dự sự kiện điện ảnh tại Việt Nam.
Diễn viên 39 tuổi, nổi lên nhờ vai diễn trong phim Cười lên Dong Hae - một trong những tác phẩm ăn khách nhất tại Hàn Quốc nửa đầu năm 2011. Anh ghi dấu ấn nhờ vẻ điển trai cùng khả năng diễn xuất. Hai năm sau, vai hoàng đế Ta Hwan trong Hoàng hậu Ki là bệ phóng đưa anh trở thành sao hạng A với nhiều giải thưởng lớn.
Một trong những nghệ sĩ gây chú ý với khán giả nhất là tài tử Hàn Ji Chang Wook. Đây là lần hiếm hoi nghệ sĩ tham dự sự kiện điện ảnh tại Việt Nam.
Diễn viên 39 tuổi, nổi lên nhờ vai diễn trong phim Cười lên Dong Hae - một trong những tác phẩm ăn khách nhất tại Hàn Quốc nửa đầu năm 2011. Anh ghi dấu ấn nhờ vẻ điển trai cùng khả năng diễn xuất. Hai năm sau, vai hoàng đế Ta Hwan trong Hoàng hậu Ki là bệ phóng đưa anh trở thành sao hạng A với nhiều giải thưởng lớn.
Tài tử Hàn Quốc Park Sung Woong diện vest trên thảm đỏ, là năm thứ hai liên tiếp anh góp mặt tại sự kiện. Diễn viên nói thích ẩm thực Việt Nam, nhất là phở.
Tài tử Hàn Quốc Park Sung Woong diện vest trên thảm đỏ, là năm thứ hai liên tiếp anh góp mặt tại sự kiện. Diễn viên nói thích ẩm thực Việt Nam, nhất là phở.
Từ trái qua: Ba nghệ sĩ gạo cội của điện ảnh Việt gồm Nghệ sĩ Nhân dân Lê Khanh, Như Quỳnh và Hoàng Cúc trên thảm đỏ.
Từ trái qua: Ba nghệ sĩ gạo cội của điện ảnh Việt gồm Nghệ sĩ Nhân dân Lê Khanh, Như Quỳnh và Hoàng Cúc trên thảm đỏ.
Diễn viên Thiên Tú diện váy dạ hội tông xanh. Cô từng thủ vai bé Ngô, con gái thứ hai của cô Dần (Trương Ngọc Ánh đóng) trong Áo lụa Hà Đông, Huyền thoại bất tử, Dành cho tháng Sáu. Sắp tới, cô đóng cặp Tuấn Trần trong phim Hộ linh tráng sĩ của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, dự kiến ra rạp tháng 9.
Diễn viên Thiên Tú diện váy dạ hội tông xanh. Cô từng thủ vai bé Ngô, con gái thứ hai của cô Dần (Trương Ngọc Ánh đóng) trong Áo lụa Hà Đông, Huyền thoại bất tử, Dành cho tháng Sáu. Sắp tới, cô đóng cặp Tuấn Trần trong phim Hộ linh tráng sĩ của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, dự kiến ra rạp tháng 9.
Êkíp phim Bẫy tiền từ trái qua: đạo diễn Oscar Dương, diễn viên Tam Triều Dâng và Liên Bỉnh Phát.
Êkíp phim Bẫy tiền từ trái qua: đạo diễn Oscar Dương, diễn viên Tam Triều Dâng và Liên Bỉnh Phát.
Đoàn phim Mưa đỏ, với đạo diễn Đặng Thái Huyền (giữa) cùng dàn diễn viên.
Đoàn phim Mưa đỏ, với đạo diễn Đặng Thái Huyền (giữa) cùng dàn diễn viên.
Tài tử Hàn Jung Il Woo (phải) cùng êkíp phim Mang mẹ đi bỏ. Diễn viên cho biết thích đến Việt Nam du lịch, yêu mến con người và văn hóa nơi đây. Khi nhận được lời mời góp mặt trong dự án hợp tác Việt - Hàn, anh học phát âm, nhờ bạn diễn hướng dẫn và đề xuất đổi thoại sang tiếng Việt để gần gũi với khán giả. Anh kỳ vọng ngành điện ảnh hai nước có thêm nhiều cơ hội hợp tác.
Tài tử Hàn Jung Il Woo (phải) cùng êkíp phim Mang mẹ đi bỏ. Diễn viên cho biết thích đến Việt Nam du lịch, yêu mến con người và văn hóa nơi đây. Khi nhận được lời mời góp mặt trong dự án hợp tác Việt - Hàn, anh học phát âm, nhờ bạn diễn hướng dẫn và đề xuất đổi thoại sang tiếng Việt để gần gũi với khán giả. Anh kỳ vọng ngành điện ảnh hai nước có thêm nhiều cơ hội hợp tác.
Theo AFP, dù bài hát chính thức của giải đấu do Shakira thể hiện tạo sức hút lớn, các cổ động viên trên toàn thế giới vẫn không ngừng sử dụng AI để sản xuất hàng loạt ca khúc dành riêng cho đội tuyển họ yêu thích. Những sản phẩm này nhanh chóng lan tỏa trên TikTok, YouTube và Instagram, thu hút tương tác.
Xu hướng được cho là bắt đầu từ ca khúc Imbattables của Crystalo - người được Spotify mô tả là "nhà sáng tạo âm nhạc AI hàng đầu của Pháp". Anh sản xuất bài hát mở đầu bằng cấu trúc đối đáp, nhắc tên Kylian Mbappé cùng các ngôi sao của đội tuyển quốc gia, trên nền giai điệu giàu năng lượng. Ngoài ra, AI còn tạo bài Light Up the World do nhóm nhạc ảo Coda Global Ensemble thể hiện, để cổ vũ tuyển Pháp.
Sau đó, một ca khúc dành cho đội tuyển Brazil xuất hiện, sử dụng mô-típ đọc tên cầu thủ trên nền nhạc phonk - thể loại hip hop đang thịnh hành. Nhà sản xuất Guilherme Maia (nghệ danh M4IA) cho biết anh kết hợp các yếu tố sáng tạo cá nhân với trí tuệ nhân tạo để xây dựng ca khúc. Hàng loạt bài hát dành cho Bồ Đào Nha, Argentina, Đức và nhiều quốc gia khác tiếp tục được giới thiệu trên các nền tảng âm nhạc và mạng xã hội.
Tuy nhiên, người nghe đánh giá các ca khúc này na ná nhau. Nhiều bài hát bắt chước ca khúc của Guilherme Maia, sử dụng phần beat phong cách nhạc phonk, liệt kê tên các cầu thủ rồi kêu gọi niềm tin dành cho ngôi sao của đội, chi tiết thường được gắn với những nhân vật như Cristiano Ronaldo của Bồ Đào Nha hay Lionel Messi của Argentina.
Nhà sản xuất Guilherme Maia, tác giả ca khúc cổ vũ đội tuyển Brazil, tỏ ra hào hứng với những khả năng mà AI mở ra cho sản xuất âm nhạc. Tuy nhiên, anh cho rằng nhiều fan đang cố chạy theo xu hướng và thừa nhận công nghệ này đặt ra những câu hỏi mới về quyền tác giả và bản quyền.
"Trong âm nhạc có những quy tắc rõ ràng. Bạn không thể đơn giản sao chép tác phẩm của người khác hoặc sử dụng các đoạn âm thanh mà không xin phép, ngay cả khi có AI tham gia", anh nêu quan điểm. Maia khẳng định anh tự xây dựng ca khúc và chỉ sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ tạo ra một số yếu tố, không yêu cầu AI sáng tác toàn bộ bài hát chỉ bằng một câu lệnh.
Trang Africanews đặt ra câu hỏi về bản sắc âm nhạc và văn hóa khi sử dụng AI để sáng tác các ca khúc về bóng đá. "Trong nhiều thập niên, các ca khúc chủ đề World Cup đã giúp các quốc gia thể hiện cá tính và tinh thần đoàn kết, trải dài từ reggae, pop đến Latin và Afrobeat. Nếu ngày càng có nhiều ca khúc được chắp vá bởi các thuật toán thay vì viết bởi những nhạc sĩ am hiểu sâu sắc các nền văn hóa đó sáng tác, kết quả sẽ là những âm thanh rập khuôn, làm lu mờ tiếng nói bản địa", Africanews viết.
Jason Palamara, trợ lý giáo sư công nghệ âm nhạc tại Đại học Indiana, Mỹ, cho rằng cách các mô hình AI hiện nay còn khoảng trống ở việc không ghi nhận rõ ràng công lao của nghệ sĩ, nếu tác phẩm của họ được dùng để huấn luyện hệ thống. Ngoài ra, chúng thường để lộ nhược điểm về âm thanh hoặc nội dung thiếu nhất quán. Chẳng hạn, bài hát do người hâm mộ làm cho Bồ Đào Nha lại được hát với giọng Brazil hay phiên bản dành cho Colombia lại phát âm tên James Rodríguez theo kiểu tiếng Anh thay vì tiếng Tây Ban Nha. Palamara nhận xét các ca khúc cổ vũ bóng đá của AI tinh giản, không phải sản phẩm có chiều sâu, kết cấu phong phú.
Tuy vậy, Morgan Hayduk, đồng CEO của công ty phần mềm bản quyền âm nhạc Beatdapp (Canada), cho rằng những người nghe các bài hát cổ vũ World Cup thường không tìm kiếm sự phức tạp về mặt nghệ thuật. "Họ thích âm nhạc, và thích cả việc nó được tạo ra từ một mô hình ngôn ngữ chứ không phải từ một nhạc sĩ", Morgan Hayduk nói.
Ông cho rằng những ca khúc "ăn liền" dễ hát theo, dễ lan truyền trên khán đài hoặc dùng trong quảng cáo, là một minh chứng rõ ràng về sức ảnh hưởng của âm nhạc do AI tạo ra ở giai đoạn hiện tại.
Sau khi ra mắt, Phi công siêu đẳng Maverick (Top Gun: Maverick) nhanh chóng trở thành hiện tượng toàn cầu với doanh thu 1,49 tỉ USD, đồng thời giữ vị trí phim ăn khách nhất trong sự nghiệp của Tom Cruise.
Phim do Joseph Kosinski đạo diễn còn được xem là một trong những phim góp phần kéo khán giả trở lại rạp chiếu sau giai đoạn ngành điện ảnh chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19.
Đằng sau hơn 2 tiếng nghẹt thở trên màn ảnh là quá trình sản xuất được mô tả khắc nghiệt và cầu toàn bậc nhất của Hollywood.
Một trong những câu chuyện được nhắc nhiều nhất liên quan đến cảnh chơi bóng bầu dục trên bãi biển - phân đoạn gây chú ý nhờ hình ảnh dàn diễn viên với thể hình săn chắc dưới ánh hoàng hôn.
Theo nam diễn viên Glen Powell, cả đoàn từng nghĩ đã hoàn thành cảnh quay này nên cùng nhau ăn mừng bằng đồ ăn nhanh và bia.
Tuy nhiên chỉ một tuần sau, Tom Cruise yêu cầu quay lại vì cảm thấy phiên bản đầu tiên chưa đủ tốt. Điều đó khiến toàn bộ dàn diễn viên nam tức tốc tập luyện để lấy lại vóc dáng như trước.
Glen Powell cho biết giữa các diễn viên tồn tại sự cạnh tranh tích cực về ngoại hình, vì ai cũng muốn xuất hiện ấn tượng nhất trên màn ảnh.
"Các phòng gym lúc nào cũng chật kín người từ sáng đến đêm. Đó là một mức độ bất an về ngoại hình mà bạn chưa từng thấy bao giờ đâu" - Glen Powell nói.
Ngoài ra, Tom Cruise còn trực tiếp tham gia xây dựng chương trình huấn luyện bay dành cho dàn diễn viên. Nhà sản xuất Jerry Bruckheimer tiết lộ ê kíp đã trải qua 3 tháng đào tạo cường độ cao cùng Hải quân Mỹ trước khi bước vào ghi hình.
Các diễn viên được học cách điều khiển máy bay hạng nhẹ để làm quen với không gian trên không, sau đó tiếp tục tập với máy bay phản lực L-39, trước khi tham gia các chuyến bay trên tiêm kích F/A-18.
Toàn bộ cảnh quay trong buồng lái đều được thực hiện trên máy bay thật, thay vì dựng phông xanh hay sử dụng kỹ xảo hoàn toàn. Đạo diễn Joseph Kosinski tiết lộ một số cảnh quay được thực hiện ở độ cao hơn 11.000 mét, với tốc độ có lúc lên tới khoảng 600 dặm mỗi giờ.
Để có được những thước phim xuất hiện trên màn ảnh, đoàn phim đã ghi hình suốt 14 tiếng liên tục chỉ để chọn ra khoảng 1 phút tư liệu đạt yêu cầu. Tổng cộng, ê kíp thực hiện hơn 813 giờ quay phim, con số vượt tổng thời lượng của cả ba phần The Lord of the Rings cộng lại.
Phi công siêu đẳng Maverick hiện đang chiếu tại rạp.