Ngày 15-5, Đại học Huế tổ chức hội nghị công tác đào tạo năm học 2025 – 2026 và định hướng phát triển giai đoạn 2026 – 2030 với chủ đề “Đổi mới công tác đào tạo, phát triển công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ phát triển vùng và quốc gia”.
Ngoài sự tham dự của các khoa, trường, đơn vị thành viên, hội nghị còn có sự góp mặt của các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ, đơn vị hợp tác tuyển dụng sinh viên của Đại học Huế.
Tại hội nghị, TS Bùi Văn Lợi, Phó giám đốc phụ trách Đại học Huế, cho biết Đại học Huế xác định giai đoạn 2026 – 2030 sẽ tập trung phát triển các ngành đào tạo mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, logistics, công nghệ sinh học và kinh tế số.
Trong năm học 2025 – 2026, Đại học Huế đã mở thêm nhiều ngành như khoa học dữ liệu, truyền thông quốc tế, công nghệ kỹ thuật điện – điện tử, kinh doanh quốc tế và vật lý kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng việc làm của xã hội trong tương lai.
Tại hội nghị, nhiều đơn vị thành viên cũng kiến nghị tăng đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, mở rộng cơ chế tự chủ tuyển sinh, nâng cấp cơ sở vật chất và hỗ trợ các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật trọng điểm đang gặp khó khăn trong tuyển sinh.
Đặc biệt, bài tham luận của ông Nguyễn Tuấn Huy – Phó Ban Công nghệ Tổng công ty Viễn thông MobiFone – được mọi người chú ý. Ông Huy cho biết Đại học Huế có nhiều thế mạnh để định hướng, phát triển, trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo AI.
Ông Huy cũng đề xuất việc Đại học Huế nghiên cứu thêm ngành chống lụt vào các trường đại học vì đây là ngành học đã từng được đào tạo tại nhiều trường đại học trên thế giới.
Theo ông Huy, ngành học này kết hợp giữa thủy lợi, tin học, trí tuệ nhân tạo…. Người học được đào tạo về việc sử dụng số liệu từ các điểm ngập trong thành phố, lưu lượng thoát nước, sử dụng AI, big data… để đưa ra mô hình dự báo ngập, mô phỏng mức độ ngập lụt và giải pháp để chống lụt diện rộng tại thành phố.
Ông Huy cho rằng hiện nay các trường đại học phải đáp ứng nhu cầu cụ thể của thực tế để đào tạo ra thế hệ sinh viên có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo giải quyết những vấn đề nan giải của xã hội như phòng chống thiên tai, quy hoạch đô thị…
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Thi tốt nghiệp THPT: Minh bạch tỷ lệ chọn môn để thấy rõ chất lượng giáo dục

Đây là chỉ số phản ánh sâu sắc hành vi học tập và chất lượng giáo dục, cần được công khai như một thông lệ chính thức.
Thực tế cho thấy điểm số cao chưa chắc đồng nghĩa với chất lượng cao. Nhiều địa phương đạt điểm trung bình ấn tượng, nhưng phần lớn học sinh (HS) lại tập trung vào những môn dễ đạt điểm, trong khi các môn có độ phân hóa cao như ngoại ngữ hay khoa học tự nhiên (KHTN) có tỷ lệ dự thi thấp. Khi đó, điểm số không còn phản ánh đầy đủ năng lực HS mà bị chi phối bởi chiến lược lựa chọn môn thi.
Vì thiếu dữ liệu về tỷ lệ chọn môn nên việc so sánh giữa các địa phương dễ rơi vào tình trạng khập khiễng. Năm 2025 là một ví dụ điển hình: Nghệ An đạt điểm trung bình 6,52, xếp thứ 1; Hà Tĩnh 6,48, xếp thứ 2; Thanh Hóa 6,31, xếp thứ 7; trong khi TP.HCM đạt 6,29, xếp thứ 8. Nếu chỉ nhìn vào thứ hạng, có thể cho rằng các địa phương đứng trên có chất lượng giáo dục cao hơn TP.HCM. Tuy nhiên, TP.HCM lại có tỷ lệ HS chọn tiếng Anh và các môn KHTN cao hơn đáng kể, đồng nghĩa với việc HS phải đối mặt với đề thi có độ khó và tính phân hóa cao hơn. Vì vậy, điểm số chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong tương quan với tỷ lệ chọn môn; nếu tách rời, mọi kết luận đều thiếu cơ sở khoa học.
Một vấn đề đáng lo ngại hơn là việc lựa chọn môn thi đang tác động ngược trở lại mục tiêu giáo dục. Chương trình GDPT mới hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực, nhưng trong thực tế, tâm lý "chọn an toàn để đỗ" lại chi phối mạnh mẽ quyết định của HS. Hệ quả là HS có xu hướng né tránh môn khó, ưu tiên môn dễ; nhà trường và địa phương cũng vô hình trung chạy theo thành tích; từ đó làm lệch hướng mục tiêu giáo dục ngay từ khâu lựa chọn môn học.
Khi việc học bị dẫn dắt bởi thi cử, mục tiêu phát triển toàn diện khó được thực hiện trọn vẹn. Điều này thể hiện rõ qua số liệu tại Hội thảo khoa học về giáo dục STEM ngày 21.3, Bộ GD-ĐT cho biết có khoảng 60 - 65% HS lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội (KHXH) để học ở cấp THPT. Sự mất cân đối này kéo dài sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực KH-CN và kỹ thuật, đi ngược yêu cầu phát triển của kỷ nguyên vươn mình.
Trong bối cảnh như trên, việc công khai tỷ lệ các môn tự chọn không nhằm phê phán hay tạo áp lực cho địa phương, trường học mà để nhìn thẳng vào thực tế. Dữ liệu này giúp nhận diện rõ hành vi học tập của HS, phát hiện xu hướng trong lựa chọn và từ đó đánh giá đúng bản chất chất lượng giáo dục. Đây chính là "tấm gương" phản chiếu trung thực hơn so với các bảng điểm đơn thuần.
Khi dữ liệu được minh bạch, xã hội sẽ hiểu đúng hơn về kết quả thi; nhà quản lý có thêm căn cứ để điều chỉnh chính sách; còn các địa phương buộc phải nhìn lại chiến lược giáo dục của mình. Quan trọng hơn, minh bạch dữ liệu tạo ra một áp lực tích cực, thúc đẩy cải tiến từ bên trong thay vì chạy theo thành tích bề nổi.
Ở tầm vĩ mô, tỷ lệ chọn môn còn là công cụ dự báo quan trọng. Nếu HS ít chọn ngoại ngữ, cần xem lại cách dạy, học và thi môn này. Nếu các môn KHTN ít được lựa chọn, đó là dấu hiệu cảnh báo thiếu hụt nguồn nhân lực STEM trong tương lai. Ngược lại, khi HS tập trung quá nhiều vào một nhóm môn, nguy cơ mất cân đối nhân lực sẽ gia tăng. Khi đó, dữ liệu không chỉ là thống kê, mà trở thành cơ sở để hoạch định và điều chỉnh chiến lược phát triển quốc gia.
Trong xu hướng chuyển từ "dạy cái gì" sang "phát triển năng lực gì", minh bạch dữ liệu là yêu cầu tất yếu. Công khai tỷ lệ chọn môn không làm xấu đi hình ảnh giáo dục, mà ngược lại góp phần củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực cải cách. Đây cần được xem là bước đi không thể né tránh.
Đã đến lúc việc công bố tỷ lệ HS chọn các môn tự chọn ở các địa phương trở thành thông lệ hằng năm, đi kèm với công bố điểm thi và được phân tích sâu theo từng địa phương, từng trường học. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể trả lời một cách trung thực câu hỏi: Giáo dục đang phát triển thực chất hay chỉ đẹp trên bảng điểm?
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều nay 16.4, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, chủ trì buổi làm việc với lãnh đạo các phường, khu vực phía nam thành phố gồm Tam Kỳ, Bàn Thạch, Hương Trà, Quảng Phú về tình hình kinh tế - xã hội, thảo luận nhiều nội dung quan trọng liên quan đến quy hoạch phát triển đô thị và hạ tầng. Đáng chú ý, có đề xuất nghiên cứu dịch chuyển Làng đại học Đà Nẵng về khu vực phía nam, gắn với không gian đô thị cũ của Tam Kỳ.
Theo đại diện Sở GD-ĐT thành phố Đà Nẵng, việc bố trí lại hệ thống cơ sở giáo dục, y tế trong khu vực đô thị cũ đã nằm trong định hướng quy hoạch tổng thể của thành phố từ nhiều giai đoạn trước. Nội dung này từng được nghiên cứu và đề xuất, hiện tiếp tục được rà soát để hoàn thiện trong quá trình lập quy hoạch chung.
Đáng chú ý, việc hình thành một làng đại học mới ở phía nam được đặt trong bối cảnh Đà Nẵng đang đối mặt với áp lực quá tải về hạ tầng đào tạo, đặc biệt tại khu vực trung tâm.
Phương án dịch chuyển hoặc mở rộng không gian đào tạo ra vùng ven được xem là hướng đi nhằm phân bổ lại mật độ dân cư sinh viên, đồng thời tạo dư địa phát triển đô thị mới.
Sở GD-ĐT cũng đang báo cáo chủ trương với cấp có thẩm quyền để xem xét triển khai nghiên cứu sắp xếp lại hệ thống các trường cao đẳng, cơ sở đào tạo nghề nhằm nâng cao hiệu quả vận hành. Theo đại diện Sở GD-ĐT, hiện một số trường cao đẳng trên địa bàn đang được nghiên cứu hợp nhất để tối ưu nguồn lực. Đồng thời, thủ tục sáp nhập Trường đại học Quảng Nam vào hệ thống Đại học Đà Nẵng cũng đang được triển khai theo quy định.
Việc tái cấu trúc này được nhấn mạnh phải đảm bảo chất lượng đào tạo, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân và phù hợp định hướng phát triển dài hạn của thành phố.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Trần Nam Hưng, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, cho biết khu vực quy hoạch phía nam đã có những nền tảng nhất định, đặc biệt là định hướng phát triển các lĩnh vực y tế, dược và hạ tầng đô thị.
Ông Hưng cho hay, thành phố đã chuẩn bị một số yếu tố ban đầu để thu hút đầu tư. Nhiều nhà đầu tư cũng đã quan tâm, nghiên cứu khu vực này; vấn đề còn lại chủ yếu là rà soát, đánh giá lại và hoàn thiện các điều kiện cần thiết. Nếu tiếp tục duy trì động lực phát triển như hiện nay, nhà đầu tư sẽ nhanh chóng tham gia.
Theo ông Hưng, trong định hướng dài hạn, việc đưa Làng đại học Đà Nẵng vào phía nam thành phố là phương án đúng đắn, mang tính chiến lược. Việc này nhằm giải quyết tình trạng quá tải trong đào tạo, tạo môi trường học tập thuận lợi cho sinh viên ở trung tâm thành phố, mở ra không gian phát triển thương mại, dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao, logistics…
Ông Hưng cũng cho rằng, tiềm năng phát triển khu vực là rất lớn, đặc biệt khi kết nối hạ tầng giao thông được hoàn thiện. "Cần đẩy nhanh triển khai quy hoạch, đặc biệt là đưa làng đại học vào phía nam thành phố và hạ tầng đi kèm để thu hút đầu tư. Phải có cơ chế, nguồn lực rõ ràng để các địa phương chủ động phát triển và triển khai dự án", ông nói.
Đồng quan điểm, ông Phan Thái Bình, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, cũng cho rằng việc đưa Làng đại học Đà Nẵng vào phía nam thành phố là phương án phù hợp. Việc quy hoạch làng đại học là định hướng đã được đặt ra từ lâu, nhưng quá trình triển khai còn chậm. Thành phố cần sớm đưa nội dung này vào thực tế, vừa giải quyết tình trạng quá tải hiện nay, vừa tạo môi trường học tập thuận lợi cho sinh viên.
Ông Bình nhấn mạnh, khó khăn hiện nay không phải ở quỹ đất mà chủ yếu là thiếu hạ tầng, nhất là đường giao thông. Do đó, cần tập trung nguồn lực để giải quyết điểm nghẽn này. Việc phát triển làng đại học không chỉ phục vụ giáo dục mà còn mở ra không gian phát triển cho các lĩnh vực khác.
Hiện nay, nhiều dự án, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục và đô thị đã có sẵn nền tảng nghiên cứu và chuẩn bị từ trước. Theo ông Bình, thành phố cần rà soát, đánh giá lại để sớm triển khai.
Phát biểu kết luận tại buổi làm việc, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, cho biết thành phố thống nhất chủ trương từng bước nghiên cứu bố trí các cơ sở giáo dục, y tế và đặc biệt là định hướng phát triển không gian liên quan đến khu vực Làng đại học Đà Nẵng về phía nam, nhằm tạo động lực phát triển mới và phân bổ lại không gian đô thị một cách hợp lý.
Ông cũng dẫn chứng, hiện nay thành phố Hà Nội đang đưa các trường đại học ra những khu vực vùng ven, nhằm giảm áp lực cho nội thị.
Tuy nhiên, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng nhấn mạnh việc triển khai phải dựa trên quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt, bảo đảm tính đồng bộ về hạ tầng, quỹ đất và các điều kiện vận hành. Các sở, ngành liên quan (xây dựng, y tế, văn hóa) cần khẩn trương phối hợp rà soát, tham mưu phương án cụ thể để báo cáo thành phố xem xét quyết định.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cuối tuần trước, Hà Nội phê duyệt đề án phát triển theo hướng tiệm cận "chuẩn quốc tế" với hai trường THPT chuyên Chu Văn An và Hà Nội - Amsterdam, ngay lập tức gây bàn luận trên các diễn đàn.
TS Nguyễn Quang Minh, chuyên gia giáo dục quốc tế và là Giám định viên Hội đồng các trường Quốc tế (CIS), cho rằng đây là hướng đi cần thiết.
Ông đánh giá đề án của hai trường có sự học hỏi từ các mô hình đào tạo tài năng ở Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Anh, song không sao chép máy móc mà vẫn giữ "tinh thần trường công" với ngân sách nhà nước làm nền tảng.
Các mục tiêu như tăng cường nghiên cứu khoa học, trí tuệ nhân tạo, học tập dự án và hội nhập học thuật quốc tế là phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.
Chuyên gia cũng đánh giá cao việc sử dụng khái niệm "tiệm cận quốc tế", thay vì ngay lập tức khẳng định sẽ trở thành một "trường chuẩn quốc tế".
"Đây là cách tiếp cận thận trọng và thực tế, bởi giáo dục quốc tế không chỉ là câu chuyện chương trình hay chứng chỉ, mà là cả một hệ sinh thái học thuật, văn hóa và quản trị cần thời gian dài để hình thành", ông Minh nói.
Điểm gây tranh luận nhất nằm ở tiêu chí cụ thể của trường chuyên Chu Văn An. Trường này đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 có ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia và 80 em nhận học bổng quốc tế. Trường cũng tổ chức các hoạt động để hỗ trợ học sinh làm quen, chuẩn bị cho các kỳ thi, chương trình chuẩn hóa quốc tế như SAT, ACT, AP, IB... - vốn được nhiều đại học trên thế giới dùng như một tiêu chí xét tuyển đầu vào.
Theo ông Quang Minh, một ngôi trường xuất chúng không phải là nơi "dạy học sinh vào Harvard", mà là nuôi dưỡng học sinh có nền tảng tư duy, năng lực nghiên cứu, khả năng tự học và thích nghi, để các em có đủ năng lực "vào Harvard".
Lãnh đạo một trường THPT chuyên ở phía Nam nhìn nhận rằng việc du học, thi chứng chỉ SAT, AP... nên là kế hoạch của học sinh và gia đình, không nên là mục tiêu của trường chuyên.
Ông dẫn lại nhiệm vụ của trường chuyên được đề cập trong Luật Giáo dục, đó là phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong các môn học, tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
"Học sinh trường chuyên đi du học không phải là điều xấu nhưng không nên dùng nguồn lực nhà nước để thúc đẩy điều đó", ông nói.
Bởi dù còn hạn chế, trường chuyên đã và đang được ưu tiên hơn về ngân sách, đội ngũ giáo viên giỏi và những chính sách khác trong hệ thống giáo dục công lập nói chung.
"Việc phân bổ thêm ngân sách để tạo bệ phóng "tiếp cận quốc tế" cho một bộ phận nhỏ vốn đã được đầu tư nhiều hơn là thiếu công bằng cho số đông".
PGS. TS quản lý giáo dục Trương Đình Thăng, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, cũng cảnh báo các mục tiêu "quốc tế hóa" có thể trở thành một cuộc đua thành tích, xem trường nào có nhiều học sinh đạt chứng chỉ, nghiên cứu khoa học... hơn. Khi đó, mô hình mới rất dễ lại đặt trọng tâm vào luyện thi, tăng áp lực cho học trò.
Ở chiều ngược lại, ông Đàm Quang Minh, Đồng chủ tịch khối Phổ thông, Tập đoàn giáo dục EQuest, thấy rằng cần đặt những tiêu chí về du học, chứng chỉ trong tổng thể định hướng hội nhập quốc tế của trường chuyên Chu Văn An.
Theo ông, đề án này theo đuổi mô hình tương tự một số trường công ở Singapore, khi triển khai các chương trình như tú tài quốc tế IB để học sinh tiếp cận chuẩn đầu ra toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam hiện chưa có đại học nào vào top 200 thế giới, nên học sinh "chỉ có lựa chọn du học" nếu muốn vào các trường như vậy.
Ông Minh cũng đánh giá cao việc đề án nhấn mạnh hỗ trợ học bổng cho học sinh khó khăn, để các em được tiếp cận chương trình quốc tế.
"Làm được điều này, các chương trình như IB sẽ không còn là đặc quyền của những gia đình giàu có", ông nói.
Dù có góc nhìn khác nhau, các chuyên gia đều cho rằng hai trường nên thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về chương trình, đội ngũ và tăng cường hợp tác quốc tế.
TS Nguyễn Quang Minh thấy cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực học thuật và nghiên cứu thực chất, bổ sung các chỉ số về sức khỏe tinh thần để bảo vệ học sinh, giúp các em phát triển toàn diện.
Đây cũng là quan điểm của PGS Trương Đình Thăng. Ông lưu ý các trường cân bằng giữa học thuật đỉnh cao và sức khỏe tinh thần của học sinh, hội nhập quốc tế và trách nhiệm đất nước, đào tạo cá nhân xuất sắc và xây dựng tinh thần phụng sự cộng đồng.
Các chuyên gia kỳ vọng hai đề án không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo của trường chuyên công lập, mà còn mở thêm cơ hội để học sinh Việt Nam tiếp cận môi trường học thuật và chuẩn đầu ra quốc tế ngay trong nước.
Tin Gốc: Vnexpress

