Sáng 23/4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế: thu nhập cá nhân (TNCN), giá trị gia tăng (VAT), thu nhập doanh nghiệp và tiêu thụ đặc biệt.
Theo dự thảo luật, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ sẽ do Chính phủ quy định. Ủng hộ cách tiếp cận này, ông Nguyễn Duy Thanh, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cho rằng việc này sẽ tăng tính chủ động điều hành, phù hợp thực tế khi quy mô hộ kinh doanh rất đa dạng.
Tuy nhiên, ông cho rằng chưa rõ phương án điều chỉnh được Chính phủ tính toán thế nào. “Uỷ ban Kinh tế Tài chính đề nghị ngưỡng doanh thu chịu thuế từ 2 tỷ đồng, nhưng tôi đề xuất 3 tỷ đồng”, ông nói.
Ông phân tích, mức 3 tỷ đồng tương ứng với doanh thu 250 triệu đồng mỗi tháng. Theo tính toán của ông, sau khi trừ các chi phí như thuê mặt bằng, lãi suất, nhân công, hộ kinh doanh còn lợi nhuận khoảng 10%, tương đương 20 triệu đồng.
“Mức 20 triệu cho một gia đình có hai vợ chồng và hai con, chia ra khoảng 5 triệu đồng mỗi người là mức thu nhập khá thấp”, ông Thanh nói thêm.
Bên cạnh đó, ông đề xuất cần đưa ra tiêu chí, hoặc quy định mức doanh thu tối thiểu và tối đa được miễn thuế để đảm bảo ổn định, rõ ràng. Theo ông Thanh, các tiêu chí này gồm thu nhập bình quân đầu người, mức sống dân cư hoặc chỉ số giá tiêu dùng để Chính phủ có cơ sở điều chỉnh minh bạch, dự báo trước.
Tương tự, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế Tài chính của Quốc hội cũng cho rằng cần quy định khung chịu thuế với hộ kinh doanh từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng, sau đó Chính phủ sẽ xác định ngưỡng cụ thể trong mức này.
Ông Hiếu nhìn nhận cách làm này có thể giúp Quốc hội cũng được quyết định ngưỡng chịu thuế tối thiểu và tối đa. “Ngưỡng tối thiểu quá thấp sẽ gia tăng gánh nặng chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn nếu ngưỡng tối đa quá cao, chúng ta phải tính đến bài toán cân bằng giữa giảm gánh nặng chi phí và việc thu ngân sách”, ông nói. Theo ông Hiếu, ngưỡng miễn thuế quá cao cũng có thể dẫn đến tình trạng các cơ sở kinh doanh “không muốn lớn”.
Trong khi đó, bà Trịnh Thị Tú Anh, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị mức sàn ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh là 1 tỷ đồng, còn ngưỡng trần 2 tỷ. Theo bà, ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng hiện nay cao hơn khoảng 4 lần GDP bình quân đầu người – thấp hơn đáng kể so với thông lệ quốc tế.
Bà dẫn số liệu khảo sát tại một số nước có nền kinh tế quy mô tương đồng Việt Nam ở Đông Nam Á, châu Á cho thấy ngưỡng miễn thuế với khu vực kinh tế nhỏ từ 8 đến 15 lần GDP bình quân đầu người. Nếu áp dụng thông lệ này vào Việt Nam, bà Tú Anh ước tính ngưỡng chịu thuế là 1-1,9 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, bà đề nghị giảm chi phí tuân thủ cho người dân và hộ kinh doanh “như một yêu cầu bắt buộc trong thiết kế chính sách”. Theo bà, cơ quan thuế cần đơn giản hóa quy trình, cung cấp công cụ thật sự dễ dùng để người dân tiết kiệm thời gian.
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa đưa ra phương án áp dụng sắc thuế cố định với hộ kinh doanh có doanh thu 1-3 tỷ đồng. Với hộ thu trên 3 tỷ đồng một năm, ông nói cần “bồi dưỡng lên doanh nghiệp”.
Lắng nghe ý kiến của các đại biểu, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn dành khoảng 3 phút giải trình, làm rõ thêm các vấn đề. Theo phương án Bộ Tài chính trình Chính phủ, ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh dự kiến từ 1 tỷ đồng – tức cao gấp đối hiện tại.
Ông Tuấn nói rằng ngưỡng này đã được Bộ Tài chính “cân nhắc nhiều mặt và tính toán rất kỹ lưỡng tác động đến thu ngân sách, nhóm nộp thuế”.
Theo Bộ trưởng Tài chính, việc tăng gấp đôi ngưỡng miễn thuế dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 7.000 tỷ đồng. Trong đó, giảm thu từ hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ lần lượt khoảng 4.800 tỷ và 2.200 tỷ đồng. Dù vậy, ông nói sẽ tiếp tục cân nhắc kỹ, báo cáo trình Quốc hội.
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2022-2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, đóng góp khoảng 2% tổng thu ngân sách. Riêng năm ngoái, số thu thuế từ khu vực này đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ.
Không ồn ào, không vội vã nhưng dòng vốn Thái Lan vào Việt Nam lại bền bỉ và ngày càng mở rộng. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), tính đến cuối tháng 4-2026, doanh nghiệp Thái Lan có 804 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 15,4 tỉ USD - tăng đáng kể so với mức hơn 14 tỉ USD cuối năm 2024 mà Hiệp hội Doanh nghiệp Thái Lan tại Việt Nam (ThaiCham) công bố. Trong khối ASEAN, Thái Lan hiện chỉ đứng sau Singapore về quy mô đầu tư vào Việt Nam.
Dấu ấn rõ nét nhất của dòng vốn Thái là hàng loạt thương vụ quy mô lớn liên tiếp diễn ra trong những năm gần đây. Tiêu biểu nhất là ThaiBev - tập đoàn đồ uống hàng đầu Thái Lan - từng gây tiếng vang vào năm 2017 khi chi khoảng 4,8 tỉ USD để gián tiếp sở hữu 53,6% vốn Sabeco.
Đến năm 2025, Fraser and Neave (F&N) - thành viên trong hệ sinh thái ThaiBev - tiếp tục chi khoảng 6.000 tỉ đồng để nâng tỉ lệ sở hữu tại Vinamilk lên 24,99%.
Mới đây, trong cuộc gặp với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chủ tịch điều hành TCC Group kiêm Tổng giám đốc ThaiBev Thapana Sirivadhanabhakdi cho biết tập đoàn đang nghiên cứu triển khai thêm các lĩnh vực kinh doanh mới tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực bán lẻ, Tập đoàn BJC thuộc TCC Group vừa hoàn tất mua lại 100% cổ phần MM Mega Market Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc nội bộ, với giá trị khoảng 22,5 tỉ baht, tương đương hơn 717 triệu USD (khoảng 18.900 tỉ đồng).
Cũng trên thị trường bán lẻ, Central Retail thuộc Central Group hiện vận hành 43 đại siêu thị Go!, 16 siêu thị mini Go!, 9 siêu thị TOPS Market và 23 cửa hàng LanChi Mart trên toàn quốc.
Báo cáo tài chính quý 1-2026 của tập đoàn này cho thấy doanh thu từ Việt Nam đạt hơn 12.000 tỉ đồng, chiếm khoảng 23% tổng doanh thu và tăng 26% so với cùng kỳ năm trước - minh chứng rõ ràng cho tầm quan trọng của thị trường Việt Nam trong chiến lược khu vực của Central Retail.
Không dừng lại ở tiêu dùng và bán lẻ, vốn Thái còn thâm nhập sâu vào lĩnh vực công nghiệp và năng lượng. Sau hơn 30 năm hiện diện, Tập đoàn SCG đã đầu tư hơn 7 tỉ USD vào Việt Nam, vận hành 28 công ty và 50 nhà máy, tạo việc làm cho hơn 15.000 lao động. Những thương hiệu quen thuộc như nhựa Duy Tân, nhựa Bình Minh hay gạch men Prime đều nằm trong hệ sinh thái của SCG.
Trong lĩnh vực hóa dầu, Tổ hợp hóa dầu Long Sơn (LSP) - dự án trọng điểm của SCG - dù đang tạm dừng do ảnh hưởng từ chiến sự Trung Đông, vẫn đang đẩy nhanh dự án tích hợp thêm khí ethane với tổng vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD.
Trong lĩnh vực khu công nghiệp, Amata - có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 - hiện quản lý khoảng 3.000 ha đất công nghiệp, thương mại và dịch vụ trên cả nước, đồng thời cam kết rót thêm khoảng 1,5 tỉ USD vào các dự án khu công nghiệp tại Việt Nam.
Về năng lượng, nhiều doanh nghiệp Thái Lan như Gulf Energy, B.Grimm, Super Energy đang hiện diện ngày càng tích cực. Nổi bật nhất là Super Energy Corporation với tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỉ USD, hiện vận hành 9 nhà máy điện mặt trời và một dự án điện gió tại Gia Lai.
Theo báo cáo của công ty tư vấn Grant Thornton, các tập đoàn Thái Lan ngày càng xem Việt Nam là trụ cột tăng trưởng trong danh mục khu vực và là động lực dài hạn cho tiêu dùng và nâng cấp công nghiệp, trong bối cảnh kinh tế trong nước dần bão hòa.
Với những cam kết rót vốn liên tục và chiến lược mở rộng quy mô của các tập đoàn lớn, dòng vốn Thái Lan vào Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới - cho thấy sức hút ngày càng lớn của thị trường Việt Nam cũng như tham vọng dài hạn của các nhà đầu tư xứ chùa vàng.
Hôm 28/4, thị trường thế giới bất ngờ trước thông báo của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) về việc sẽ rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từ ngày 1/5.
Bộ trưởng Năng lượng Suhail Al Mazrouei cho biết quyết định đưa ra sau quá trình rà soát toàn diện chính sách sản xuất cũng như năng lực hiện tại và tương lai của đất nước, giúp UAE linh hoạt hơn trong ứng phó với biến động thị trường.
Các nguồn tin và giới phân tích cho biết, quyết định của UAE đã được cân nhắc trong thời gian dài, sau nhiều khác biệt về đường hướng của OPEC và quan hệ kinh tế, chính trị với các nước thành viên trong liên minh này.
Ông William F. Wechsler, Giám đốc cấp cao phụ trách các chương trình Trung Đông tại Atlantic Council (Wasington DC, Mỹ) kể lại hôm 28/4, một quan chức cấp cao Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã bình luận với ông về động thái rằng: "Đó là điều được chờ đợi từ lâu".
Chuyên gia cho biết ý định rời OPEC đã được thảo luận kín nhiều năm, cả trong nội bộ UAE cũng như giữa các quan chức UAE và Mỹ. Ông William từng là Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các hoạt động đặc biệt và chống khủng bố.
"Từ góc nhìn của Abu Dhabi, lợi ích quốc gia của họ đã khác biệt và có khả năng ngày càng xung đột với các thành viên khác của OPEC và OPEC+, trong đó đáng chú ý có Nga", ông bình luận.
Ông Kristian Coates Ulrichsen, nghiên cứu viên về Trung Đông tại Viện Baker, Đại học Rice (Texas, Mỹ) nhận định UAE đã phát tín hiệu về khả năng rời OPEC ít nhất 5 năm trước, khi bày tỏ quan điểm khác biệt Arab Saudi về cách điều hành chính sách dầu mỏ trước thềm hội nghị OPEC+ vào tháng 11/2020.
Rạn nứt trở nên rõ ràng tại cuộc họp của OPEC+ vào tháng 7/2021. Trong cả hai dịp, UAE muốn tăng sản lượng dầu - vốn đã bị OPEC cắt giảm mạnh trong đại dịch, nhưng Arab Saudi lại muốn giữ sản lượng thấp để neo giá cao.
Theo chuyên gia, một phần nguyên nhân nằm ở hoàn cảnh kinh tế khác nhau của hai nước. Arab Saudi phụ thuộc vào giá dầu cao để tạo nguồn thu ngân sách lớn phục vụ các dự án hạ tầng khổng lồ như chương trình Vision 2030. Trong khi, nền kinh tế UAE đa dạng hơn và ít phụ thuộc trực tiếp vào doanh thu dầu mỏ.
"Ở góc độ kinh tế, tăng trưởng của các quỹ đầu tư nhà nước UAE trong những năm gần đây phụ thuộc vào diễn biến kinh tế toàn cầu nhiều hơn là với giá dầu", ông William F. Wechsler, nêu ví dụ. Do đó, một số thành viên OPEC ưu tiên giá dầu cao còn UAE quan tâm nhiều hơn đến các rủi ro đối với kinh tế toàn cầu, vốn là yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận đầu tư của họ.
Về dài hạn, UAE muốn khai thác tối đa trữ lượng dầu mỏ trước khi nhu cầu đạt đỉnh và bắt đầu suy giảm do quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, Abu Dhabi tung ra gói đầu tư đến 150 tỷ USD, bao gồm mục tiêu mở rộng công suất sản xuất dầu từ mức 3,4 triệu thùng lên 5 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2027 và có thể cao hơn sau đó.
"Điều này phản ánh mong muốn khai thác tối đa trữ lượng và đưa dầu ra thị trường, tránh nguy cơ tài sản bị 'mắc kẹt' nếu nhu cầu toàn cầu giảm trong quá trình chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch", ông Kristian Coates Ulrichsen, nêu.
Nếu vẫn ở trong OPEC, UAE không thể tùy ý sản xuất thêm. Họ đang bị áp hạn hạch 3,2 triệu thùng mỗi ngày. "Trong nhiều năm, Abu Dhabi đã tìm cách thu lợi từ khoản đầu tư vào việc mở rộng năng lực sản xuất", Helima Croft, chuyên gia tại RBC Capital Markets, cho biết.
Theo ông Jorge Leon, Trưởng bộ phận phân tích địa chính trị của Rystad Energy, khi nhu cầu dầu đang tiến gần đến đỉnh, bài toán của các nhà sản xuất đang thay đổi rất nhanh. "Và việc chờ đến lượt trong một hệ thống hạn ngạch giống như bỏ lỡ cơ hội kiếm tiền", ông nói.
Ngoài ra, độc lập chính sách có thể mang lại lợi ích gián tiếp cho quan hệ với các đối tác quan trọng của UAE như Trung Quốc, ngay cả khi có nguy cơ làm giảm giá dầu toàn cầu ở mức độ nào đó. "Với nhu cầu kinh tế ngắn hạn, triển vọng tối đa hóa doanh thu năng lượng của UAE rõ ràng rất hấp dẫn", ông William nói.
Ngoài động lực kinh tế, quan hệ địa chính trị ở Vùng Vịnh cũng khiến UAE không còn mặn mà với OPEC. Dù vẫn đầu tư lớn vào nhau, khác biệt giữa UAE và nhà lãnh đạo OPEC là Arab Saudi ngày càng lớn.
Hai quốc gia từng hợp tác chống lại lực lượng phiến quân Houthi ở Yemen năm 2015. Nhưng liên minh đã rạn nứt và chuyển sang đổ lỗi nhau vào cuối tháng 12/2025, khi Arab Saudi ném bom một lô hàng mà họ cho là vũ khí vận chuyển tới Hội đồng Chuyển tiếp Miền Nam tại Yemen (STC) do UAE hậu thuẫn. Sự việc dẫn đến tranh cãi công khai, lan sang cả các chính sách khác biệt về Sudan.
Rạn nứt vẫn chưa được giải quyết thì xung đột Trung Đông nổ ra. Lần này, Iran nhắm mục tiêu vào UAE nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, kể cả Israel. Abu Dhabi chỉ trích phản ứng "yếu kém" của các đối tác vùng Vịnh. Và việc Iran - thành viên OPEC - chặn các tàu dầu qua eo biển Hormuz và yêu cầu thu phí đã dập tắt những luyến tiếc ở lại OPEC của UAE.
Ông Kristian Coates Ulrichsen đánh giá các phát biểu của những nhân vật có ảnh hưởng tại UAE cho thấy giới chức nước này theo dõi sát sao quốc gia nào đã hỗ trợ họ trong thời điểm khủng hoảng và quốc gia nào thì không.
"Quyết định rời OPEC phản ánh tính toán của Abu Dhabi rằng việc tiếp tục ở lại một tổ chức do Saudi chi phối không còn mang lại lợi ích", ông nói. Thậm chí, chuyên gia này dự báo UAE có khả năng xem xét lại các tư cách thành viên trong Liên đoàn Arab, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo hay cả Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh, khi các nước Trung Đông chuẩn bị cho một bối cảnh hậu chiến đầy bất định.
Ông William F. Wechsler dự báo UAE có khả năng sẽ củng cố hơn nữa mối quan hệ với Mỹ sau thời điểm 1/5. Nhưng trớ trêu, theo thời gian, động thái này cũng có thể củng cố quan hệ Mỹ-Arab Saudi, vì Riyadh sẽ gánh vác trách nhiệm lớn hơn trong việc ổn định giá dầu toàn cầu tại OPEC.
Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng vừa chủ trì hội nghị với các tập đoàn năng lượng và địa phương về bảo đảm cung cấp điện trong cao điểm mùa khô.
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh nắng nóng gay gắt trên diện rộng tại cả 3 miền khiến nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến, hệ thống điện quốc gia ghi nhận kỷ lục mới về sản lượng tiêu thụ và công suất phụ tải cực đại, gây áp lực lớn lên công tác vận hành hệ thống điện.
Tại cuộc họp, ông Nguyễn Anh Tuấn - Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thông tin, hệ thống điện đang vận hành trong điều kiện rất căng thẳng. Nhiều đường dây, trạm biến áp rơi vào tình trạng quá tải do nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong nắng nóng kéo dài.
Trước tình hình đó, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia và các tổng công ty điện lực được yêu cầu tăng cường lực lượng ứng trực, chuẩn bị sẵn sàng các kịch bản ứng phó sự cố, đồng thời phối hợp Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) trong điều hành phụ tải và vận hành hệ thống điện quốc gia.
Lãnh đạo EVN cũng cho biết đã chỉ đạo các tổng công ty điện lực làm việc với khách hàng lớn để triển khai các chương trình điều chỉnh phụ tải tự nguyện, khuyến khích dịch chuyển nhu cầu sử dụng điện ra khỏi khung giờ cao điểm buổi tối.
Tại hội nghị, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng yêu cầu các đơn vị khẩn trương cập nhật kịch bản điều hành hệ thống điện sát với thực tế 5 tháng đầu năm, đồng thời hoàn thành ma trận quản trị rủi ro về an ninh năng lượng và cung ứng điện trước ngày 30/5.
Bộ trưởng cũng yêu cầu các tập đoàn, đơn vị phát điện bảo đảm đủ than, khí, vật tư, hóa chất cho vận hành nhà máy điện; nâng cao độ khả dụng của tổ máy và chuẩn bị đầy đủ nhân lực, nhà thầu để xử lý nhanh các sự cố trong cao điểm mùa khô.
Đối với lưới điện truyền tải và phân phối, Bộ trưởng yêu cầu EVN tăng cường kiểm tra các đường dây, trạm biến áp có nguy cơ đầy tải. Đặc biệt, ông nhấn mạnh không được để xảy ra tình trạng cắt điện trong giai đoạn nắng nóng gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thời, lãnh đạo Bộ Công Thương yêu cầu ngành điện chủ động các phương án ứng phó với thời tiết cực đoan như dông lốc, sét và mưa lớn.
Bộ trưởng cũng yêu cầu cơ quan liên quan tập trung theo dõi, giám sát chặt chẽ tiến độ đầu tư các dự án nguồn điện, lưới điện trọng điểm có ý nghĩa quyết định đối với bảo đảm cung ứng điện; các công trình đường dây phục vụ nhập khẩu điện và giải tỏa công suất cho năng lượng tái tạo...
Bộ trưởng yêu cầu Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công khẩn trương triển khai đồng bộ Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên tất cả lĩnh vực.
Đồng thời, cơ quan này phải sớm xây dựng bộ KPI triển khai tiết kiệm điện dựa trên Chỉ thị 10 của Thủ tướng, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cùng Chương trình quốc gia giai đoạn 2019-2030 để làm căn cứ thực hiện thống nhất trên toàn quốc.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng yêu cầu các Sở Công Thương và đơn vị điện lực tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 10 về tăng cường tiết kiệm điện, khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà và tăng cường các chương trình điều chỉnh phụ tải.
Theo Bộ trưởng, trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh, ngoài các giải pháp kỹ thuật, việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và dịch chuyển phụ tải khỏi khung giờ cao điểm 18-23h là giải pháp trực tiếp và hiệu quả nhất hiện nay...