Nhiều người tránh uống nước trong bữa ăn vì lo làm loãng dịch vị dạ dày, trong khi một số khác lại có thói quen uống nước ngay trước hoặc sau khi ăn. Tuy nhiên, uống nước mỗi thời điểm đều đem lại những lợi ích nhất định.
Uống nước trước bữa ăn giúp tạo cảm giác no
Theo Times of India, uống một cốc nước khoảng 30 phút trước bữa ăn giúp cơ thể được bù nước. Khi cơ thể đủ nước, các hoạt động trao đổi chất và tiêu hóa cũng diễn ra hiệu quả hơn.
Uống nước trước bữa ăn có thể tạo cảm giác no hơn ở một số người, từ đó hỗ trợ kiểm soát lượng thức ăn tiêu thụ. Thói quen này có thể hữu ích với những người đang muốn giảm cân hoặc hạn chế ăn quá nhiều trong bữa chính.
Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý không nên uống quá nhiều nước ngay trước khi ăn vì có thể gây đầy bụng hoặc khó chịu, làm giảm cảm giác ngon miệng trong một số trường hợp.
Uống trong bữa ăn hỗ trợ tiêu hóa
Một số người cho rằng uống nước trong bữa ăn làm loãng dịch vị và cản trở tiêu hóa. Tuy nhiên, theo Healthline, hiện chưa có bằng chứng cho thấy uống nước trong bữa ăn gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các enzyme tiêu hóa hoặc làm giảm hiệu quả tiêu hóa thức ăn. Ngược lại, nước có thể giúp làm mềm thức ăn, hỗ trợ quá trình nhai và nuốt diễn ra thuận lợi hơn. Điều này đặc biệt có ích với người cao tuổi hoặc người thường gặp khó khăn khi nuốt thức ăn khô.
Nước và các loại đồ uống khác còn tham gia vào quá trình phân hủy thức ăn, giúp cơ thể hấp thu các chất dinh dưỡng hiệu quả hơn. Vì vậy, uống từng ngụm nước nhỏ trong bữa ăn được xem là thói quen an toàn đối với đa số người khỏe mạnh.
Uống nước sau bữa ăn hỗ trợ tiêu hóa
Sau bữa ăn, nước tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hóa. Trang Times of India chỉ ra nước giúp vận chuyển các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước đến các cơ quan và mô trong cơ thể. Còn theo Verywell Health, uống đủ nước còn hỗ trợ nhu động ruột hoạt động hiệu quả hơn, giúp thức ăn di chuyển thuận lợi qua đường tiêu hóa và giảm nguy cơ táo bón.
Một số người cũng cảm thấy dễ chịu hơn khi uống nước ấm sau bữa ăn. Nước ấm có thể giúp làm mềm thức ăn trong đường tiêu hóa, nhờ đó hỗ trợ quá trình tiêu hóa diễn ra thuận lợi.
Các chuyên gia cho rằng không có thời điểm nào được xem là tốt nhất để uống nước. Mỗi thời điểm đều có những lợi ích riêng tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể và thói quen sinh hoạt. Điều quan trọng hơn là duy trì đủ lượng nước mỗi ngày thay vì quá chú trọng vào việc phải uống trước, trong hay sau bữa ăn.
Mùa hè là thời điểm vải thiều vào mùa rộ. Loại quả này rất giàu vitamin C giúp bảo vệ tế bào và sửa chữa các mô tổn thương (mỗi khẩu phần chứa khoảng 52.3 mg). Các axit hữu cơ phong phú (như axit citric, arginine, tryptophan) có khả năng tăng cường quá trình trao đổi chất. Ngoài ra, vải còn chứa ion kali (khoảng 184.7 mg mỗi khẩu phần), có tác dụng hỗ trợ giải tỏa căng thẳng và làm dịu cảm giác lo âu.
3 mẹo để chọn vải thượng hạng
Muốn thưởng thức được những quả vải ngon, khâu chọn lựa đóng vai trò vô cùng quan trọng. Anh Cai Jinshu, chủ vườn vải "Zhenliyuan" tại vùng Đại Thụ, Cao Hùng (Đài Loan) - người từ lâu đã kiên trì theo đuổi phương pháp canh tác thân thiện với môi trường và thuận tự nhiên chia sẻ rằng vườn của anh đặc biệt áp dụng kỹ thuật "bọc túi chuyên dụng" cho quả. Phương pháp này không chỉ giúp chống tia cực tím, ngăn côn trùng cắn phá, mà còn tận dụng sự chênh lệch nhiệt độ để giúp thịt quả ngọt mọng hơn, đồng thời người ăn cũng ít bị cảm giác "bốc hỏa", nóng trong người.
Anh Cai cũng không ngần ngại chia sẻ "3 điểm mấu chốt" để nhận biết quả vải chất lượng cao:
Nguyên tắc 3 'không' khi ăn vải của chuyên gia
Chọn được vải ngon đã khó, biết cách ăn sao cho đúng lại càng quan trọng hơn. Chuyên gia dinh dưỡng Gao Minmin (Đài Loan) đã đúc kết ra nguyên tắc 3 "không":
Cơ thể tiêu hóa tinh bột, chuyển thành đường glucose và hấp thụ vào máu. Hoóc môn insulin từ tuyến tụy tiết ra sẽ đưa glucose từ máu vào tế bào. Tế bào sẽ sử dụng nguồn glucose này làm nhiên liệu hoạt động, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Sau bữa ăn tinh bột, đường huyết và insulin sẽ tăng. Đây là một quá trình sinh lý hoàn toàn bình thường, cho thấy cơ thể đang huy động năng lượng nhanh chóng.
Do đó, đường huyết tăng sau bữa ăn có tinh bột không phải là điều gây hại. Vấn đề chỉ xảy ra khi lượng tinh bột vượt quá nhu cầu hoặc khi cơ thể không sử dụng hết đường glucose, khiến phần dư thừa bị chuyển thành mỡ thừa.
Cơ thể người hoạt động theo nhịp sinh học. Nhịp sinh học sẽ ảnh hưởng đến cách xử lý đường glucose và calo trong ngày. Buổi sáng, cơ thể thường nhạy hơn với hoóc môn insulin, giúp xử lý glucose hiệu quả. Ngược lại, vào buổi tối, độ nhạy insulin giảm, khiến đường huyết sau ăn dễ tăng cao hơn.
Điều này có nghĩa là nếu ăn cùng một lượng tinh bột, cơ thể có thể xử lý tốt hơn vào ban ngày và kém hiệu quả hơn vào ban đêm. Đây là lý do vì sao thời điểm ăn lại ảnh hưởng đến nguy cơ tích mỡ.
Tuy nhiên, không phải cứ ăn tinh bột buổi tối là sẽ tăng cân và tích mỡ. Nguy cơ tích mỡ sẽ cao nếu ăn nhiều và ít vận động. Buổi tối là thời điểm cơ thể giảm hoạt động, nhu cầu năng lượng thấp hơn và khả năng xử lý glucose cũng kém hơn.
Vận động cũng ảnh hưởng lớn đến lượng đường glucose trong máu. Đường huyết thường lên đỉnh khoảng 30 đến 60 phút sau bữa ăn chính hoặc ăn nhẹ. Nếu đi bộ, vận động trong thời điểm này thì cơ bắp sẽ tận dụng hiệu quả đường glucose trong máu, tránh tình trạng glucose dư thừa và tích thành mỡ.
Cách đơn giản để hạn chế tích mỡ khi ăn tinh bột là phân bổ phần lượng tinh bột này theo nhịp sinh học và mức độ vận động của cơ thể. Buổi sáng và buổi trưa nên là thời điểm ăn phần lớn lượng tinh bột trong ngày. Đây là lúc cơ thể sử dụng calo hiệu quả nhất.
Nếu có tập luyện, người tập có thể ăn nhẹ với một lượng tinh bột vừa phải trước khi tập. Lượng tinh bột này sẽ cung cấp năng lượng để cơ bắp hoạt động hiệu quả. Sau buổi tập cũng có thể ăn tinh bột để cơ bắp phục hồi. Trong khi đó, buổi tối nên giảm lượng tinh bột, đặc biệt là tránh ăn nhiều vào sát giờ ngủ. Cách ăn tinh bột này giúp đồng bộ giữa lượng năng lượng nạp vào và khả năng sử dụng của cơ thể, từ đó hạn chế việc tích trữ mỡ thừa, theo Healthline.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC, cho biết trẻ vị thành niên là nhóm có tỷ lệ mang vi khuẩn não mô cầu ở vùng hầu họng cao gấp đôi so với dân số chung. Nhóm này vừa đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao, vừa tiềm ẩn nguồn lây trong cộng đồng.
Theo thống kê từ Bộ Y tế, đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 24 ca mắc bệnh não mô cầu, đáng lưu ý, trẻ dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số ca mắc. Bộ Y tế đã cảnh báo nguy cơ lây lan dịch trong cộng đồng, đặc biệt tại các môi trường tập trung đông trẻ em như trường học, nhà trẻ và khu vui chơi.
Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis cư trú ở vùng hầu họng của con người và lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần với dịch tiết chứa mầm bệnh. Khi hệ miễn dịch suy giảm hoặc niêm mạc hô hấp bị tổn thương, vi khuẩn có thể nhanh chóng xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng huyết tối cấp hoặc tấn công lên não gây viêm màng não.
Bác sĩ Chính cho biết não mô cầu gây 2 thể bệnh thường gặp là viêm màng não (chiếm hơn 50% các trường hợp bệnh do não mô cầu xâm lấn) hoặc nhiễm trùng huyết tối cấp (chiếm từ 5 - 20%). Đây là 2 thể bệnh chính, có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời với tốc độ diễn tiến rất nhanh, nhiều trường hợp ban ngày trẻ còn đi học nhưng chỉ sau vài giờ đã rơi vào tình trạng nguy kịch. Một số trường hợp ít gặp hơn bao gồm viêm phổi (chiếm từ 5 - 15%), viêm kết mạc, viêm tai giữa, viêm thanh môn, viêm khớp, viêm niệu đạo, viêm màng ngoài tim.
Các chuyên gia cho rằng trẻ dưới 15 tuổi đối mặt với "nguy cơ kép" khi vừa dễ mang vi khuẩn não mô cầu, vừa có nguy cơ diễn tiến nặng khi mắc bệnh. Theo Hội Y học dự phòng, tỷ lệ mang vi khuẩn ở nhóm này có thể lên tới 25 - 32%, cao nhất trong các độ tuổi, với nguy cơ mắc bệnh có thể gấp đôi dân số chung. Trong khi đó, thanh thiếu niên lại có nguy cơ lây lan cao trong môi trường tập thể như trường học, ký túc xá, sinh hoạt đông người.
Việt Nam đang lưu hành đồng thời 5 nhóm huyết thanh gây bệnh não mô cầu gồm A, B, C, Y và W. Bác sĩ Chính khuyến cáo tiêm chủng là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa và kiểm soát dịch não mô cầu. Tuy nhiên, mỗi loại vắc xin hiện nay chỉ phòng được một hoặc một số nhóm huyết thanh nhất định và không có miễn dịch chéo, nên việc phòng bệnh cần đặt ra yêu cầu bảo vệ toàn diện.
Để phòng bệnh, bác sĩ khuyến cáo cần thực hiện tốt các việc như:
Hiện các bệnh truyền nhiễm khác như tay chân miệng, sốt xuất huyết, cúm… cũng đang có xu hướng gia tăng. Sự lưu hành đồng thời của nhiều tác nhân gây bệnh không chỉ làm tăng nguy cơ lây lan trong cộng đồng mà còn khiến việc nhận diện sớm trở nên khó khăn, dễ nhầm lẫn triệu chứng ban đầu và làm chậm trễ can thiệp y tế kịp thời. Vì vậy, phòng bệnh không thể chờ đến khi có ca bệnh mà cần được thực hiện chủ động, từ sớm và đầy đủ để giảm nguy cơ dịch chồng dịch, bảo vệ an toàn cho trẻ và cộng đồng.