Số liệu thống kê cho thấy có sự tương quan giữa lượng tài khoản chứng khoán mở mới hằng tháng và diễn biến VN-Index từ năm 2019 đến nay.
Ví dụ, nửa cuối năm 2021 đến đầu năm 2022, số tài khoản mở mới đạt đỉnh cao nhất lịch sử, đúng giai đoạn VN-Index ở vùng 1.400 – 1.500 điểm. Khi thị trường giảm khoảng 40% trong 8 tháng tiếp theo, lượng mở mới cũng giảm theo. Và khi thị trường hồi phục, lượng mở mới tăng trở lại.
Sang đến năm 2024, thị trường ghi nhận thêm khoảng 2 triệu tài khoản mới. Theo thống kê của FiinTrade, nhà đầu tư cá nhân mua ròng hơn 77.700 tỉ đồng trên sàn HoSE trong năm 2024. Giai đoạn mua ròng đỉnh điểm rơi vào tháng 5 và tháng 6, khi VN-Index tiếp cận ngưỡng 1.280 – 1.300 điểm – vùng đỉnh ngắn hạn của năm.
Năm 2025, con số mở mới tiếp tục tăng lên gần 2,6 triệu tài khoản, đưa tổng số lên hơn 11,8 triệu, trong bối cảnh VN-Index lập đỉnh lịch sử 1.784 điểm.
Dragon Capital nhận định nhà đầu tư cá nhân không dẫn dắt mà thường chạy theo xu hướng. Dòng tiền có xu hướng đến sau khi thị trường đã tăng và rút đi sau khi đã giảm.
Trong tài chính hành vi, hiện tượng này được gọi là hành vi bầy đàn – xu hướng ra quyết định dựa trên hành động của người xung quanh thay vì phân tích độc lập. Ở thị trường có hơn 80% giao dịch đến từ cá nhân, hành vi bầy đàn có thể tạo ra vòng lặp tự củng cố.
Khi nhiều người mua khiến giá tăng, giá tăng xác nhận quyết định mua, dẫn đến nhiều người mua thêm cho đến khi dòng tiền mới cạn kiệt và vòng lặp đảo chiều.
Đây là xu hướng mà hầu hết nhà đầu tư nhận ra ở chính mình, dù không phải lúc nào cũng thừa nhận. Hãy hình dung hai cổ phiếu mua cùng một thời điểm. Cổ phiếu A tăng 20%, nhà đầu tư bán ngay với tâm lý “chốt chắc ăn”. Cổ phiếu B giảm 30%, nhà đầu tư giữ lại, chờ “về bờ”.
Một năm sau, mã A tiếp tục tăng thêm 40%, trong khi mã B vẫn nằm ở vùng giá thấp. Danh mục lúc này nghiêng hoàn toàn về phía mã kém chất lượng, vì mã tốt đã bị loại khỏi danh mục từ sớm.
Gốc rễ của xu hướng này nằm ở đặc tính rất cơ bản của tâm lý con người là nỗi đau mất mát thường mạnh gấp khoảng 2 lần niềm vui từ lợi nhuận tương đương.
Khi nhìn vào một cổ phiếu đang lãi 20%, cảm giác “nếu không chốt bây giờ, lợi nhuận có thể mất” thắng cảm giác “nếu giữ tiếp, lợi nhuận có thể tăng thêm”. Và khi nhìn vào cổ phiếu đang lỗ 30%, cảm giác “chưa bán thì chưa lỗ” mạnh hơn lý trí “nên cắt lỗ để bảo toàn vốn”.
Dragon Capital cho biết đây là cách bộ não được thiết kế qua hàng triệu năm tiến hóa để bảo vệ nguồn lực. Nhưng trên thị trường tài chính, bản năng này thường dẫn đến kết quả không tối ưu.
Quỹ đầu tư này nhận định dư nợ cho vay ký quỹ phản ánh mức độ sẵn sàng sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư, tức là mức độ tự tin của thị trường. Xu hướng này thường khá nhất quán. Nhà đầu tư có xu hướng tăng đòn bẩy sau khi thị trường đã tăng và giảm đòn bẩy sau khi thị trường đã giảm – đi ngược với lý thuyết tối ưu.
Trong tài chính hành vi, xu hướng này gọi là thiên lệch do thông tin gần nhất – khi nhà đầu tư đánh giá quá cao những gì vừa xảy ra. Ba tháng thị trường điều chỉnh liên tục có thể tạo ra cảm giác thị trường sẽ điều chỉnh mãi, dù dữ liệu dài hạn cho thấy điều ngược lại. Ba tháng tăng liên tục có thể tạo ra cảm giác “lần này khác”, dù mọi chu kỳ đều có sự điều chỉnh.
Trong sự kiện đại dịch năm 2020, những nhà đầu tư bắt đầu đầu tư định kỳ từ ba đến sáu tháng trước đáy, tức là khi tin tức tiêu cực nhất, khi bản năng bảo “đừng mua” lại đạt kết quả cao hơn so với những người bắt đầu đúng tháng đáy.
Nói cách khác, xu hướng “thiên lệch do thông tin gần nhất” thường thúc giục nhà đầu tư dừng lại đúng lúc có thể nên tiếp tục.
Sáng 13-5, tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance tổ chức tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68”.
Phát biểu tại tọa đàm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhận định thành tựu lớn nhất của Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách.
Cụ thể, hàng loạt nghị quyết, văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thực thi, xử lý vướng mắc pháp lý và điều chỉnh quy định theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân.
Ông đánh giá trong giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo ra sự hứng khởi rất lớn trong khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp kỳ vọng và chờ đợi vào bước đột phá chính sách xuất hiện và tâm lý này vẫn còn hiện hữu.
“Tuy nhiên nếu nhìn kỹ hơn vào thực tế, sự hứng khởi đó dường như tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp lớn”, ông Bình nhận định.
Ông lấy ví dụ hàng loạt dự án quy mô hàng trăm nghìn tỉ đồng của các tập đoàn Vingroup hay Sungroup liên tiếp được khởi công, cho thấy tác động tích cực của chính sách với khu vực doanh nghiệp lớn.
Ở chiều ngược lại, khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức không khí tích cực ban đầu dần thay thế bởi tâm lý lo âu. Điều này xuất phát từ những lo ngại liên quan đến thuế, kiểm tra hàng giả, hàng nhái hay hoạt động thanh tra, kiểm tra.
TS Lê Duy Bình cho biết do hạn chế về thể chế, quy định pháp luật, quá trình triển khai Nghị quyết 68 xuất hiện những phản ứng ngược ngoài mong muốn.
Ông lấy ví dụ chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn nặng tư duy coi các chủ thể này là “đối tượng quản lý”, thay vì xem họ là đối tác hay khách hàng trong quá trình quản trị quốc gia.
TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cũng đánh giá hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68 đang lan tỏa không đồng đều. Ban đầu cộng đồng doanh nghiệp khá hào hứng, nhưng theo thời gian tâm lý tích cực đã giảm dần. Khảo sát của Ban IV cho thấy khoảng 7/10 doanh nghiệp được hỏi vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
“Doanh nghiệp lớn vui hơn doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vui hơn hộ kinh doanh. Chúng ta cần lan tỏa niềm vui đến toàn bộ nếu không sẽ tạo ra sự méo mó”, ông chia sẻ.
Ông cho rằng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi tác động được tới lớp doanh nghiệp ở phía dưới, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn.
Ông Bùi Thanh Minh cũng lưu ý dư luận đang đặt quá nhiều kỳ vọng vào riêng Nghị quyết 68, trong khi cải cách thể chế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi là quá trình dài hạn, không thể giải quyết chỉ trong vài tháng.
Theo ông Minh, vấn đề cốt lõi nằm ở tư duy thiết kế cải cách. Nếu chỉ nhìn từng vấn đề riêng lẻ mà thiếu góc nhìn tổng thể thì càng cải cách càng không tạo được tác động thực chất, thậm chí còn khiến doanh nghiệp khó khăn hơn.
“Nghị quyết 68 không chỉ hướng tới tăng số lượng doanh nghiệp, mà còn phải nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”, ông nói.
Ông cho biết sau khi nghị quyết được ban hành, Chính phủ và Quốc hội đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa chính sách. Tuy nhiên nhiều chính sách quan trọng vẫn triển khai chậm. Trong khi áp lực từ thương mại quốc tế, đặc biệt yêu cầu chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn phát triển bền vững, đang tạo sức ép rất lớn lên cộng đồng doanh nghiệp.
TS Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, cho rằng niềm tin của doanh nghiệp đang bị xói mòn không hẳn do khó khăn thị trường, mà từ các biện pháp can thiệp hành chính và thay đổi chính sách điều hành.
Thực tế, doanh nghiệp và người dân có xu hướng chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác. Điều này không đơn thuần là hành vi đầu tư, mà phản ánh tâm lý muốn giữ tài sản trong bối cảnh niềm tin đối với môi trường kinh doanh suy giảm.
Vị chuyên gia cho rằng để thị trường vận hành hiệu quả hơn, điều cần thiết không phải là ban hành thêm thật nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà là giảm bớt các can thiệp hành chính không cần thiết, tạo ra môi trường ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp.
Hơn một tháng trước, khi giá cà phê giảm về quanh 84.000 đồng một kg, chị Hoàng Oanh (Đăk Lăk) quyết định bán hết 5 tấn hàng tồn. Chị lo Brazil sắp vào vụ, nguồn cung tăng sẽ kéo giá xuống sâu hơn. Nay giá tăng trở lại, tiến sát 100.000 đồng một kg, chị Oanh chỉ biết tiếc vì không còn cà phê để bán.
"Lúc đó tôi sợ giá rơi về 70.000 đồng một kg nên quyết định bán ngay dù chưa cần tiền", chị nói.
Không riêng chị Oanh, nhiều nông dân Tây Nguyên đã bán phần lớn lượng cà phê tồn kho khi giá giảm mạnh hồi đầu tháng 6. Đợt tăng giá lần này vì thế diễn ra trong bối cảnh lượng hàng còn lại trong dân không nhiều.
Ghi nhận trong phiên sáng ngày 15/7, giá cà phê tại Gia Lai, Đăk Lăk và Đăk Nông đồng loạt tăng thêm 1.200 đồng một kg so với một ngày trước đó, chạm mốc 97.300 đồng một kg. So với 84.300 đồng một kg, mức đáy hai năm được ghi nhận vào ngày 10/6, mặt hàng này đã phục hồi khoảng 15,4% và tiến sát mốc 100.000 đồng một kg.
Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, giá cà phê tăng do nhiều yếu tố cùng lúc, từ lo ngại về thời tiết, nguồn cung đến hoạt động đầu cơ trên các sàn giao dịch hàng hóa.
Ông cho biết, trước đây thị trường lo ngại mưa bão tại Brazil làm chậm tiến độ thu hoạch. Tuy nhiên, đến nay vụ thu hoạch tại quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới nhìn chung vẫn thuận lợi. Giới đầu tư vẫn theo dõi nguy cơ khô hạn do biến đổi khí hậu và khả năng El Nino quay trở lại vào cuối năm nay hoặc năm sau, khiến tâm lý lo ngại về nguồn cung chưa hạ nhiệt.
"Yếu tố tác động lớn nhất hiện nay là giao dịch trên các sàn hàng hóa. Các quỹ đầu cơ liên tục mua vào, bán ra khiến giá biến động rất mạnh", ông Hải nói.
Khi giá giảm về vùng 84.000-85.000 đồng một kg hồi đầu tháng 6, nhiều nông dân đã bán mạnh. Đến khi giá phục hồi, lượng hàng còn lại không đáng kể. "Bà con thấy giá lên thì có xu hướng giữ hàng, nhưng thực tế tồn kho trong dân hiện không còn nhiều", ông nói thêm. Ngoài ra, chi phí logistics và vận chuyển quốc tế tăng cũng góp phần hỗ trợ mặt bằng giá.
Theo dữ liệu từ sàn ICE London được Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), tính đến cuối tháng 6, lượng tồn kho cà phê robusta được chứng nhận đạt 4.053 lô (tức 40.530 tấn). Mặc dù con số này thể hiện xu hướng hồi phục nhẹ từ mức đáy hai năm (3.631 lô ghi nhận vào giữa tháng 5), dự trữ hạt robusta toàn cầu nhìn chung vẫn duy trì ở ngưỡng rất thấp.
Báo cáo của VNCommodities và MXV cho thấy nguồn cung tháng 6 tiếp tục thắt chặt do lượng hàng nội địa của Việt Nam giảm vào cuối niên vụ, cùng tỷ lệ hạt đạt chuẩn xuất khẩu ở mức thấp. Bên cạnh đó, tình trạng mưa trái mùa làm gián đoạn thu hoạch trái cà phê tại Brazil cũng vô hình trung đẩy giá giao dịch trên sàn New York tăng mạnh, tạo áp lực liên thông lên toàn bộ thị trường. Điều này khiến lượng hàng đủ tiêu chuẩn đưa lên sàn đấu giá quốc tế vẫn rất hạn chế, giữ tồn kho ICE ở mức thắt chặt nghiêm trọng.
Biến động trên các sàn giao dịch cũng cho thấy dòng tiền đầu cơ đang tác động mạnh đến giá cà phê. Kết thúc phiên giao dịch đêm 14/7 và rạng sáng 15/7 (giờ Việt Nam), giá robusta giao tháng 9 trên sàn London tăng 15 USD, lên 3.849 USD một tấn. Trong phiên, có thời điểm giá vọt lên 4.033 USD, tăng gần 200 USD so với phiên trước.
Trong khi đó, giá hạt arabica giao cùng kỳ hạn trên sàn New York giảm gần 90 USD, xuống còn 7.190 USD một tấn sau khi có lúc tăng lên 7.770 USD. Biên độ dao động lớn cho thấy giá cà phê hiện chịu tác động đáng kể từ dòng vốn đầu cơ và hoạt động của các quỹ đầu tư tài chính, thay vì chỉ phản ánh yếu tố cung - cầu.
Ông Hải cho rằng rất khó dự báo liệu giá cà phê có vượt mốc 100.000 đồng một kg hay không, bởi còn phụ thuộc diễn biến trên các sàn giao dịch quốc tế.
Về dài hạn, thách thức lớn nhất của ngành nông sản, trái cà phê Việt là Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), dự kiến áp dụng từ cuối năm 2026. Theo quy định này, cà phê xuất khẩu vào EU phải chứng minh không liên quan đến hoạt động phá rừng mới được bán trên thị trường.
EU hiện là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới, đồng thời là nước xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 40% kim ngạch. Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có rủi ro thấp trong thực thi EUDR. Thực tế, một số nhà nhập khẩu châu Âu đã thử nghiệm mua cà phê đáp ứng tiêu chuẩn này với giá cao hơn thị trường khoảng 50 USD một tấn, tạo thêm động lực cho doanh nghiệp và người sản xuất.
Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi với CNBC, tỷ phú Warren Buffett đã thẳng thắn cảnh báo về xu hướng đầu cơ quá mức và chi phí khổng lồ đổ vào cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI).
Nhà đầu tư 95 tuổi nhận định việc săn tìm tài sản giá trị đang rất khó khăn khi thị trường ngày càng ưa chuộng các hoạt động mang tính đánh bạc hơn đầu tư thực thụ.
Ngoại lệ mang tên Alphabet
Chủ tịch Berkshire Hathaway cho rằng việc tìm kiếm các thương vụ hấp dẫn đã bế tắc từ lâu khi thị trường nghiêng hẳn về phía giới đầu cơ. Theo ông, kiếm tiền bằng cách nương theo tâm lý đầu cơ của đám đông dễ dàng hơn nhiều so với việc đào tạo các nhà đầu tư giá trị.
Ông Adam Schwartz, Giám đốc đầu tư của Black Bear Value Partners, nhận định với Business Insider rằng Buffett không khuyên né AI. "Buffett không phải cảnh báo nhà đầu tư tránh xa AI mà là phải cẩn trọng khi đầu cơ trở thành lực lượng chính quyết định giá tài sản", ông nói.
Nhà đầu tư huyền thoại đặc biệt băn khoăn trước việc các ông lớn công nghệ như Meta, Microsoft và Alphabet chi hàng trăm tỷ USD cho hạ tầng AI. Ông gọi đây là cuộc chơi bắt buộc, làm xói mòn dòng tiền từng dùng để mua lại cổ phiếu, buộc họ phải huy động vốn bên ngoài và đối mặt nguy cơ đầu tư không hiệu quả.
Bất chấp những e ngại về AI, Warren Buffett lại gây bất ngờ khi tiết lộ chính ông là người quyết định rót vốn lớn vào Alphabet từ năm ngoái.
Cụ thể, tính đến cuối tháng 3, Berkshire sở hữu gần 58 triệu cổ phiếu Alphabet, tương đương 20,5 tỷ USD. Đến tháng 6, tập đoàn tiếp tục chi thêm 10 tỷ USD thông qua một đợt phát hành riêng lẻ. Thương vụ nâng tổng giá trị danh mục Alphabet lên gần 31 tỷ USD, đưa công ty này thành khoản đầu tư lớn thứ 3 của tập đoàn, vượt qua cả Coca-Cola và chỉ đứng sau Apple cùng American Express.
Nhiều người từng nghĩ đây là dấu ấn của người kế nhiệm Greg Abel, nhưng Buffett xác nhận chính ông đã đưa ra quyết định sau khi thảo luận với cộng sự. "Tôi cho rằng Alphabet có nhiều khả năng là người chiến thắng hơn khoảng 90-95% số doanh nghiệp đang được phố Wall quảng bá", nhà đầu tư huyền thoại Buffett nhận định.
Triết lý "sinh lời trên vốn" đứng sau thương vụ tỷ USD
Sự mâu thuẫn này khiến giới chuyên gia bất ngờ. Ông Brett Gardner, tác giả cuốn sách "Buffett's Early Investments", nhận định rằng việc đặt cược vào Alphabet đòi hỏi tầm nhìn rất rõ về biên lợi nhuận từ AI. Ông Gardner suy đoán có thể Buffett tin rằng nếu cuộc đua AI thất bại, Alphabet hoàn toàn có thể cắt giảm chi phí để nhanh chóng quay lại làm cỗ máy in tiền tối ưu như trước.
Giải thích về lựa chọn này, Buffett nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ suất sinh lời trên vốn mà không phụ thuộc vào đòn bẩy tài chính. Ông cho rằng giới phân tích phố Wall thường chỉ chăm chăm vào kết quả kinh doanh ngắn hạn của quý tiếp theo thay vì chỉ số cốt lõi đánh giá chất lượng doanh nghiệp này.
Ông lấy ví dụ American Express duy trì tỷ suất sinh lời trên vốn trên 30% mà không chịu rủi ro cao, vượt xa mức 13-14% của các ngân hàng thông thường. Bí quyết đầu tư của ông không phải là tìm kiếm các doanh nghiệp thời thượng, mà là tìm những cái tên có khả năng sinh lời bền bỉ.
Buffett thừa nhận từng mắc sai lầm khi né tránh cổ phiếu công nghệ do mô hình ít tài sản vật chất trước đây. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng bất kỳ doanh nghiệp thành công nào cũng phải đối diện với thách thức đào thải.
Tương tự câu chuyện Henry Ford từng thống trị thị trường với mẫu Model T huyền thoại nhưng cuối cùng vẫn bị General Motors vượt mặt, câu hỏi lớn nhất không phải là doanh nghiệp hôm nay tuyệt vời thế nào, mà là họ có thể duy trì được điều đó trong bao lâu.
Dù vậy, với Apple - khoản đầu tư lớn nhất của tập đoàn, Buffett khẳng định vẫn đặt trọn niềm tin và hiểu rõ doanh nghiệp này hơn bao giờ hết bất chấp những tranh chấp pháp lý gần đây với OpenAI. "Bây giờ tôi còn hiểu về Apple nhiều hơn so với những năm trước", nhà đầu tư nói.