Dự báo thời tiết nắng nóng hôm nay 6.4, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn tiếp tục cảnh báo nắng nóng sẽ lan rộng ở nhiều khu vực, nhiệt độ cao nhất có nơi trên 39 độ C.
Ngày hôm qua 5.4, khu vực Tây Bắc Bắc bộ, từ Nghệ An – TP.Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi – Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 36 – 38 độ, có nơi trên 38 độ C như các trạm: Mường Lay (Điện Biên) là 38,6 độ C; Yên Châu (Sơn La) 38,9 độ C; Con Cuông (Nghệ An) 38,3 độ C; Tuyên Hóa (Quảng Trị) 39 độ C; Sơn Hòa (Đắk Lắk) 39 độ C…
Ngoài ra, khu vực phía bắc cao nguyên Trung bộ và miền Đông Nam bộ có nắng nóng với nhiệt độ 35 – 36 độ C, có nơi trên 36 độ C.
Dự báo thời tiết ngày 6 – 7.4, khu vực từ Thanh Hóa – Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi – Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 – 38 độ C, có nơi trên 39 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 40 – 45%.
Khu vực phía bắc cao nguyên Trung bộ và miền Đông Nam bộ có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 – 36 độ C, có nơi trên 36 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 45 – 50%.
Trong ngày hôm nay 6.4, đồng bằng Bắc bộ xuất hiện nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 35 – 36 độ C, có nơi trên 36 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 50 – 55%.
Dự báo thời tiết Hà Nội nắng nóng, đêm không mưa, nhiệt độ thấp nhất 25 – 27 độ C, cao nhất từ 34 – 36 độ C.
Cũng theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, từ ngày 7.4, nắng nóng có khả năng mở rộng ra các tỉnh phía đông Bắc bộ với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 – 37 độ C, có nơi trên 38 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 50 – 55%. Dự báo đợt nắng nóng miền Bắc còn có khả năng kéo dài trong nhiều ngày tới.
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cảnh báo, do ảnh hưởng của nắng nóng và nắng nóng gay gắt kết hợp với độ ẩm trong không khí giảm thấp nên có nguy cơ xảy ra cháy nổ và hỏa hoạn ở khu vực dân cư do nhu cầu sử dụng điện tăng cao. Nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nền nhiệt độ cao.
Ngoài ra, nhiệt độ dự báo trong các bản tin nắng nóng và nhiệt độ cảm nhận thực tế ngoài trời có thể chênh lệch từ 2 – 4 độ C, thậm chí có thể cao hơn phụ thuộc vào các điều kiện mặt đệm như bê tông, đường nhựa.
Nguồn: https://thanhnien.vn/du-bao-thoi-tiet-nang-nong-ngay-64-co-noi-tren-39-do-c-185260406064503368.htm

Bộ Tài chính đang dự thảo nghị quyết của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù để đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư do sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính.
Tại dự thảo đề xuất nhiều quy định linh hoạt cho các trường hợp đặc biệt để tháo gỡ vướng mắc, rút ngắn thời gian thực hiện.
Đáng chú ý, dự thảo nghị quyết đã dành một mục quy định về xử lý nhà, đất dôi dư do sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp.
Với xử lý nhà, đất dôi dư trong một số trường hợp đặc biệt, dự thảo nêu với các cơ sở nhà, đất dôi dư do sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính, trên cơ sở đề xuất của cơ quan, tổ chức, đơn vị đang quản lý, cơ quan, người có thẩm quyền sẽ xem xét, quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật về tài sản công.
Việc chuyển giao được thực hiện theo nguyên trạng, bao gồm cả các trường hợp không có hoặc bị mất hồ sơ pháp lý về nhà, đất hay nhà, đất đã bố trí làm nhà ở hoặc bị lấn chiếm. Đồng thời không phải thực hiện thủ tục lấy ý kiến chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị có tài sản chịu trách nhiệm về tình trạng hồ sơ, hiện trạng nhà, đất khi chuyển giao và tiếp tục phối hợp với cơ quan chức năng địa phương để xử lý các vấn đề phát sinh sau khi bàn giao.
Với nhà, đất dôi dư được chuyển đổi công năng sang mục đích công cộng như vườn hoa, sân chơi hoặc các công trình phục vụ cộng đồng nhưng công trình hiện hữu không còn phù hợp, dự thảo cho phép cơ quan có thẩm quyền quyết định phá dỡ, hủy bỏ nhà, công trình gắn liền với đất để thực hiện phương án sử dụng mới.
Việc phá dỡ được thực hiện kể cả trong trường hợp tài sản vẫn còn khả năng sử dụng hoặc chưa hết thời gian khấu hao, hao mòn theo quy định.
Cơ quan soạn thảo đánh giá, nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tránh kéo dài do vướng mắc về giá trị tài sản còn lại.
Dự thảo đưa ra cơ chế linh hoạt với điều chỉnh quy hoạch. Trong đó với các cơ sở nhà, đất dôi dư được điều chuyển, chuyển giao hoặc chuyển đổi công năng để làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, công trình công cộng, quốc phòng, an ninh.
Với nội dung này, việc cập nhật, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch chuyên ngành liên quan sẽ được thực hiện sau khi đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Với các cơ sở nhà, đất dôi dư đã chuyển giao về địa phương, được xử lý theo hình thức giao đất, cho thuê đất, dự thảo quy định người được giao đất, cho thuê đất phải hoàn trả cho Nhà nước giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất tại thời điểm giao đất, cho thuê đất.
Quy định này áp dụng cả trong trường hợp tài sản đã bị phá dỡ trước khi giao đất, cho thuê đất hoặc trường hợp tài sản được bán cho chính người được giao, thuê đất.
Trường hợp tài sản chưa được theo dõi trên sổ kế toán, việc xác định giá trị còn lại sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về quản lý và khấu hao tài sản cố định.
Dự thảo nêu trường hợp nhà, tài sản gắn liền với đất được đầu tư xây dựng trên đất của tổ chức, cá nhân khác nhưng đơn vị đang quản lý không còn nhu cầu sử dụng.
Trong trường hợp chủ sử dụng đất có nhu cầu tiếp nhận lại tài sản, cơ quan quản lý sẽ ban hành quyết định bàn giao và tổ chức thực hiện bàn giao.
Tổ chức, cá nhân nhận tài sản có trách nhiệm hoàn trả giá trị còn lại theo sổ kế toán, trừ trường hợp là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang, cơ quan Đảng, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội không phải hoàn trả.
Trường hợp tổ chức, cá nhân có đất không có nhu cầu tiếp nhận tài sản, cơ quan quản lý được thực hiện thanh lý tài sản theo hình thức phá dỡ, hủy bỏ và bàn giao lại mặt bằng.
Việc thanh lý, xử lý vật tư, vật liệu thu hồi được thực hiện theo quy định tại Nghị định 186/2025 và Nghị định 52/2026 của Chính phủ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
TP Hà Nội đang giải phóng mặt bằng 1.428 dự án, trong đó có nhiều công trình giao thông lớn như 4 cầu vượt sông Hồng (Hồng Hà, Mễ Sở, Vân Phúc và Ngọc Hồi); khép kín các đường vành đai, mở rộng quốc lộ 1, 6... Lượng phế thải xây dựng phát sinh trên 10.000 tấn mỗi ngày, gấp 4-5 lần bình thường, bao gồm bêtông, gạch, đá, vữa, kim loại, gỗ, nhựa, kính, đất đào, bùn thải...
Khác với rác sinh hoạt, phế thải xây dựng được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp bởi phần lớn thành phần còn giá trị sử dụng sau khi được phân loại và xử lý phù hợp. Sau khi nghiền, sàng và xử lý, phế thải có thể trở thành cốt liệu cho nền đường, vật liệu san lấp mặt bằng, sản xuất gạch không nung, bêtông, vật liệu sản xuất cấu kiện xây dựng.
Theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện Chuyên ngành Xi măng bêtông (Viện Vật liệu xây dựng), khoảng 80% chất thải rắn đô thị đang bị chôn lấp, chỉ gần 17% được tái chế dưới dạng nghiền nhỏ để phục vụ san lấp hoặc vật liệu nền đường. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tiềm năng sử dụng của loại chất thải gồm đất đá, bêtông, gạch vụn.
Sử dụng vật liệu tái chế giúp giảm tình trạng khai thác đá, cát sông, đất đắp và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. "Trong bối cảnh nguồn cát và đá ngày càng khan hiếm, đây là nguồn nguyên liệu rất đáng giá", ông Hoan nói.
Hiện cốt liệu tái chế dùng để san lấp nền đường - loại giá trị thấp nhất, được bán từ 70.000 đến 100.000 đồng/tấn. Cốt liệu hạt, cát nghiền tái chế giá từ 150.000 đến 200.000 đồng/m3. Nếu Hà Nội tái chế được 10.000 tấn phế thải xây dựng để san lấp nền mỗi ngày, ít nhất có thể thu về khoảng 0,7-1 tỷ đồng.
Các nghiên cứu cho thấy vật liệu tái chế có giá thành thấp hơn khoảng 20% so với vật liệu tự nhiên. Tỷ lệ tái chế phế thải xây dựng có thể đạt trên 90% khối lượng đầu vào, riêng bêtông nhựa và bêtông xi măng có thể tái sử dụng gần như 100%, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới (Đại học Xây dựng).
Quan trọng hơn, nguồn vật liệu tái chế giúp thay thế nguồn vật liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt. Tại Hà Nội, hàng loạt công trình đang triển khai đều có nhu cầu lớn về cát vàng, cát xây, đất đắp. Đơn cử dự án vành đai 4 vùng Thủ đô thiếu khoảng 6 triệu m3 đất đắp và khối lượng lớn cát, đá xây dựng. Trong khi đó sản lượng khai thác tại các mỏ vật liệu ở Hà Nội không đủ, buộc nhà thầu phải mua vật liệu từ mỏ tại tỉnh Phú Thọ, tăng chi phí vận chuyển.
Công nghệ biến phế thải thành tiền
Thấy được tiềm năng của phế thải rắn xây dựng, ngành xây dựng đã nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm vật liệu xây dựng tái chế và ban hành cơ bản hệ thống tiêu chuẩn. Những nghiên cứu đầu tiên được triển khai từ năm 2007, do TS Lê Việt Hùng (Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện. Giai đoạn đầu, nhóm tập trung đánh giá khả năng nghiền, sàng phế thải xây dựng để tái chế thành vật liệu đầu vào cho vữa và bêtông.
Năm 2012, dự án sản xuất thử nghiệm "Hoàn thiện công nghệ tái chế phế thải phá dỡ công trình làm cốt liệu cho xây dựng" đã triển khai thành công dây chuyền sản xuất cốt liệu tái chế ở quy mô công nghiệp. Dây chuyền tạo ra cốt liệu tái chế từ phế thải phá dỡ (bêtông, tường xây gạch), cốt liệu nhỏ được sử dụng sản xuất gạch không nung, còn cốt liệu lớn có kích thước đến 40 mm được dùng thay đá dăm để sản xuất bêtông.
Tại Đại học Xây dựng, PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho biết giai đoạn 2012-2016, nhóm nghiên cứu của trường đã thực hiện hàng loạt đề tài nghiên cứu chuyên sâu về sử dụng cốt liệu tái chế thành đá dăm và cát để sản xuất vữa và bêtông xi măng chịu lực. Giai đoạn 2019-2021, nhóm tiếp tục sản xuất thử cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn từ phế thải bêtông trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy vật liệu tái chế có thể sử dụng trong các công trình.
Để đưa cốt liệu tái chế vào cuộc sống, các bộ ngành đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn. Năm 2023, tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13694 ra đời, quy định cấp phối vật liệu tái chế dùng làm lớp móng đường giao thông đô thị. TCVN 11969:2018 quy định cốt liệu lớn tái chế cho bêtông. Nhiều tiêu chuẩn liên quan vật liệu san lấp, tái chế bêtông nhựa, thiết kế hỗn hợp và thi công cũng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua giai đoạn 2020-2025.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện chuyên ngành Xi măng bê tông (Viện Vật liệu xây dựng), trở ngại của Hà Nội hiện không nằm ở công nghệ xử lý. Một số doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dây chuyền tái chế hiện đại, thậm chí có thiết bị nghiền di động xử lý ngay tại công trường. Tuy nhiên, đầu ra sản phẩm tái chế chưa ổn định. Nhiều chủ đầu tư và nhà thầu vẫn e ngại chất lượng, độ bền của sản phẩm.
Hà Nội cũng như phần lớn địa phương chưa có quy hoạch riêng cho chất thải rắn xây dựng hoặc quy hoạch vị trí thu gom, xử lý ngoài đê sông khiến doanh nghiệp khó thực hiện dự án. Đơn vị xử lý chất thải rắn công suất trên 500 tấn/ngày phải đánh giá tác động môi trường, phê duyệt báo cáo tác động và có giấy phép môi trường, hệ thống quan trắc tự động..., gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, chi phí sản xuất cao khiến một số doanh nghiệp e ngại đầu tư. Phần lớn phế thải hiện nay từ các công trình thường bị đổ lẫn bêtông, gạch, đất, kim loại và bùn thải. Khi đưa về xử lý, doanh nghiệp phải tốn thêm nhân công và chi phí phân loại. Theo tính toán của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu, chi phí sản xuất tái chế vật liệu đắp nền khoảng 100.000-110.000 đồng/tấn, bao gồm phí đầu tư thiết bị, nhân công sản xuất, chi phí phân loại...
Làm gì để khai thác tài nguyên phế thải xây dựng?
Để giải quyết bài toán chất thải rắn xây dựng, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải không quá phức tạp. Kế đó, cần có quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, quy định rõ trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép. Chủ nguồn thải phải chi trả đầy đủ chi phí xử lý.
Một giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Hiện Việt Nam đã có khung chính sách khuyến khích nhưng chưa đủ cụ thể và hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Theo ông Kiên, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày để bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Bên cạnh đó, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.
Dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản và Anh, ông Kiên cho biết các thành phố thường quy hoạch nhiều điểm tiếp nhận phế thải xây dựng. Đối với vật liệu đã được phân loại, các cơ sở tái chế thậm chí hỗ trợ chi phí vận chuyển hoặc trả tiền cho đơn vị thu gom. Ngược lại, vật liệu chưa được phân loại sẽ được đưa tới các cơ sở chuyên trách để phân loại và tái chế trước khi đưa vào sử dụng trở lại.
Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Song song với đó là các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ để nâng cao hiệu quả tái chế chất thải xây dựng, hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.
Chuyên gia Nguyễn Văn Hoan nhận định Hà Nội cần đồng thời mở rộng quy hoạch bãi tiếp nhận, siết kiểm soát đổ trộm, bắt buộc phân loại tại công trường và từng bước đưa vật liệu tái chế vào các dự án đầu tư công. Nếu không trong 5-10 năm tới thành phố sẽ đối mặt áp lực lớn về bãi đổ, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn vật liệu tự nhiên như cát, đá, đất san lấp.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Thủ tướng phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị tỉnh Khánh Hòa đến 2050

Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thừa lệnh Thủ tướng vừa ký quyết định phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Theo quyết định, quy mô lập quy hoạch gồm tổng diện tích tự nhiên lập quy hoạch khoảng 8.706,74km² và phần diện tích biển có ranh giới ngoài cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm một khoảng cách 6 hải lý.
Mục tiêu là xây dựng và phát triển Khánh Hòa là đô thị loại I và trở thành thành phố trực thuộc trung ương hiện đại, thông minh, xanh và bền vững; là cực tăng trưởng quan trọng của cả nước, đô thị biển - cửa ngõ quốc tế có sức cạnh tranh cao.
Theo tính chất quy hoạch, đô thị Khánh Hòa là đô thị biển có vị trí chiến lược quan trọng trong tổ chức không gian phát triển ven biển quốc gia, phát triển theo hướng hiện đại, thông minh, xanh, bền vững, hài hòa giữa đô thị với biển, đảo và vùng sinh thái tự nhiên, gắn với bảo tồn cảnh quan, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đặc khu Trường Sa, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Dự kiến đến năm 2030, tổng quy mô dân số đô thị Khánh Hòa là khoảng 2,7 - 2,8 triệu người, đến năm 2040 khoảng 3,7 - 3,8 triệu người; đến năm 2050 khoảng 5,0 - 5,1 triệu người.
Đô thị Khánh Hòa định hướng trở thành trung tâm tổng hợp về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và giao thương quốc tế của quốc gia, của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Là cực tăng trưởng và trung tâm động lực quan trọng của vùng; trung tâm phát triển kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ chất lượng cao, năng lượng sạch, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; có vai trò kết nối các hành lang kinh tế ven biển, liên vùng và quốc tế.
Đồng thời là trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế; hạt nhân phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, hội nghị - sự kiện của vùng và cả nước.
Yêu cầu đặt ra đối với quy hoạch Khánh Hòa sẽ chú trọng vào hình thành các cực tăng trưởng mới chuyên biệt, như đô thị sân bay, cảng biển, đổi mới sáng tạo… theo mô hình nén và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) để giảm tải cho trung tâm cũ, tạo động lực phát triển cân bằng và bền vững cho toàn đô thị.
Xử lý các mâu thuẫn, chồng chéo về không gian phát triển, hạ tầng kỹ thuật và mục tiêu sử dụng đất tại các khu vực giáp ranh giữa tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận cũ sau khi sáp nhập,
Phát triển hệ thống giao thông tích hợp lấy đường sắt tốc độ cao, sân bay (cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, Vân Phong, Thành Sơn) và hệ thống cảng biển nước sâu làm nòng cốt. Ưu tiên quy hoạch các khu vực chức năng xung quanh các đầu mối giao thông (mô hình TOD) để tối ưu hóa giá trị đất đai.
Định hình bản sắc đô thị "biển - sông - núi" thông qua việc thiết lập hệ thống hạ tầng xanh đa chức năng, bảo vệ cảnh quan vịnh và các hành lang sinh thái đặc thù.
Về định hướng kiến trúc, cảnh quan, nghiên cứu hình thành các trục không gian cảnh quan - du lịch - sinh thái kết nối từ vùng núi phía Tây (Khánh Vĩnh, Khánh Sơn) ra biển trên cơ sở các hành lang theo hệ thống sông chính của đô thị như sông Cái Nha Trang, sông Dinh...
Hệ thống cửa ngõ đô thị gắn với liên kết vùng được xác định qua các đầu mối chiến lược như sân bay quốc tế Cam Ranh, cảng Vân Phong, cảng Cà Ná và các tuyến kết nối chính với vùng Tây Nguyên (qua cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột).
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

