Ngân hàng Nhà nước giảm nhẹ tỷ giá trung tâm 1 đồng, xuống 25.134 đồng/USD. Các ngân hàng thương mại giảm nhẹ giá USD, Vietcombank mua vào còn 26.130 – 26.160 đồng, bán ra 26.390 đồng; ACB mua vào 26.150 – 26.180 đồng, bán ra 26.390 đồng; Vietinbank mua vào 26.150 đồng, bán ra 26.390 đồng…
Sau đà tăng, các ngân hàng giảm nhẹ. Tại Vietcombank, giá EUR giảm 26 đồng, còn 29.849 – 30.150 đồng, bán ra 31.422 đồng; bảng Anh giảm 40 đồng, mua vào 34.482 – 34.831 đồng, bán ra 35.946 đồng; đô la Úc giảm 100 đồng, mua vào 18.270 – 18.454 đồng, bán ra 19.045 đồng…
Giá USD thế giới tăng nhẹ, chỉ số USD-Index thêm 0,1 điểm, lên 99,19 điểm. Đồng USD tăng khi tin lãnh tụ tối cao Iran ban hành chỉ thị cấm xuất khẩu uranium làm giàu của nước này. Giá năng lượng tăng do chiến sự tại Trung Đông có nguy cơ đẩy giá tiêu dùng và lạm phát tại Mỹ tăng cao, từ đó có thể khiến Cục Dự trữ liên bang (Fed) tăng lãi suất. Điều này đã hỗ trợ đồng USD, vốn có tương quan với lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ và cũng được hưởng lợi từ nhu cầu trú ẩn an toàn.
Triển vọng tăng trưởng kinh tế Mỹ mạnh hơn củng cố thêm khả năng Fed thắt chặt chính sách tiền tệ, qua đó hỗ trợ đồng bạc xanh, trong khi đó nhiều nền kinh tế khác trên thế giới đối mặt với triển vọng suy yếu hơn và chịu tác động lớn hơn từ chi phí năng lượng tăng cao. Các chỉ số PMI yếu tại châu Âu, Anh và Nhật Bản vừa công bố càng làm gia tăng tâm lý lo ngại, qua đó hỗ trợ đồng USD nhờ triển vọng tương đối tích cực hơn của kinh tế Mỹ.
Các ngoại tệ khác tăng giảm trái chiều. Đồng EUR giảm 0,03%, xuống còn 1,1624 USD, còn yen Nhật giảm 0,01% so với USD, xuống 158,92 yen/USD. Trong khi bảng Anh tăng 0,07%, lên mức 1,3441 USD.
Tin Gốc: Thanh Niên

Lúc 8 giờ 31 hôm nay 21.4, giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết ở mức 168,5 - 171,5 triệu đồng, tăng 200.000 so với chốt ngày 20.4.
So với mức giá đầu ngày 1.4 (175 - 178 triệu đồng/lượng) và mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (187,9 - 190,9 triệu đồng/lượng), giá mỗi lượng vàng miếng SJC lần lượt giảm 6,5 triệu đồng và 19,4 triệu đồng.
Giá vàng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới gần 19 triệu đồng/lượng. Gần đây, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới liên tục giảm, từ mức trên 30 triệu đồng/lượng cuối tháng 3 dần giảm xuống 18 - 19 triệu đồng/lượng vài ngày qua.
Theo chuyên gia vàng Trần Duy Phương, xuất phát từ lực mua yếu, trong 2 - 3 tháng tới, chênh lệch có thể thu hẹp về mức 12 - 13 triệu đồng/lượng, bất kể giá vàng thế giới tăng hay giảm.
Sáng nay 21.4, giá bạc cũng biến động rất nhẹ so với chốt ngày 20.4. Lúc 8 giờ 42, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 lượng là 2,968 - 3,060 triệu đồng, giảm 16.000 đồng; bạc 1 kg là 79,147 - 81,6 triệu đồng, giảm 426.000 - 427.000 đồng.
Tại thời điểm 8 giờ 37, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết mua vào và bán ra bạc 1 lượng là 2,994 - 3,087 triệu đồng, tăng 21.000 - 22.000 đồng; bạc 1 kg là 79,839 - 82,319 triệu đồng, tăng 560.000 - 586.000 đồng.
Lúc 8 giờ 42, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 lượng là 2,989 - 3,091 triệu đồng, tăng 6.000 đồng; bạc 5 lượng là 14,945 - 15,455 triệu đồng, tăng 30.000.
So với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm hơn 16 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tại thời điểm 8 giờ 55 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.809,1 USD/ounce, giảm 10,5 USD/ounce (tương đương 0,22%); giá bạc giao ngay là 79,19 USD/ounce, giảm 0,41 USD/ounce (tương đương 0,52%) so với chốt phiên hôm qua.
Theo ông Rodolphe Bohn, chiến lược gia thị trường ngoại hối và hàng hóa tại HSBC, diễn biến ngắn hạn của giá vàng phụ thuộc vào mức độ hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông. Tuy nhiên, HSBC vẫn duy trì quan điểm tích cực đối với vàng trong trung và dài hạn.
Rủi ro địa chính trị ở mức cao, thâm hụt tài khóa gia tăng và hoạt động mua vào liên tục của các ngân hàng T.Ư sẽ hỗ trợ giá vàng tăng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Làm việc với Ban Chính sách, chiến lược T.Ư và các cơ quan liên quan về đánh giá nguồn lực phát triển đất nước gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và xác lập mô hình tăng trưởng mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ ra thực trạng nhiều nguồn lực quốc gia đang "mắc kẹt" trong thủ tục, tranh chấp, tâm lý sợ trách nhiệm và phối hợp thiếu đồng bộ. Các động lực truyền thống như: tăng vốn đầu tư, mở rộng tín dụng, khai thác đất đai, lao động giá rẻ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bằng ưu đãi đang dần bộc lộ giới hạn khi đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi tăng trưởng chất lượng cao, dựa trên năng suất và sức cạnh tranh bền vững.
Trước đó, phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã nêu rõ: Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới.
Từ những quan điểm trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu số hóa và giải phóng nguồn lực đang bị mắc kẹt; tập trung nguồn lực cho các cực tăng trưởng, dự án và ngành có sức lan tỏa cao, không dàn trải, không bình quân; phát triển doanh nghiệp (DN), thị trường vốn và nguồn lực trong dân; lấy năng suất, khoa học-công nghệ (KH-CN), dữ liệu và nhân lực chất lượng cao làm động lực chính.
Rất tâm đắc về tư duy nguồn lực mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, TS Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, khẳng định đây là chủ trương, quyết sách có tầm nhìn chiến lược, phù hợp với xu thế thời đại và đòi hỏi cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước ta trong giai đoạn mới. Việc đặt KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển cho thấy chúng ta quyết tâm xây dựng một phương thức phát triển mới, giảm phụ thuộc vào các lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên. Sau gần 40 năm Đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng mô hình tăng trưởng cũ dựa vào vốn và lao động giản đơn đang dần bộc lộ hạn chế. Năng suất lao động của ta vẫn còn thấp so với các nước phát triển, tốc độ tăng năng suất có dấu hiệu chững lại, và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu. Muốn vượt lên, phải dựa vào động lực mới là tri thức và sáng tạo. Đây chính là chìa khóa để VN bứt phá và tránh nguy cơ tụt hậu trong thập niên tới.
Quan điểm này không chỉ đúng đắn về mặt chủ trương mà còn có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc. Trên thế giới, KH-CN và đổi mới sáng tạo từ lâu đã trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Những quốc gia vươn lên mạnh mẽ đều dựa vào sức mạnh công nghệ và tri thức.
Ông Khải dẫn chứng: Hàn Quốc từ một nước nghèo đã trở thành cường quốc công nghiệp nhờ đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu - phát triển (R&D). Hàn Quốc hiện chi hơn 5% GDP cho R&D, thuộc hàng cao nhất thế giới. Singapore cũng nằm trong nhóm dẫn đầu toàn cầu về đổi mới sáng tạo (xếp hạng 5/139 nền kinh tế theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025), minh chứng cho tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách khuyến khích sáng tạo. Gần đây, Trung Quốc xác định chiến lược tự lực về công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn. Nước này liên tục tăng cường đầu tư cho KH-CN với tỷ lệ chi R&D năm 2024 đạt 2,68% GDP (tăng từ 2,38% năm 2021). Sự tập trung đó nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ, tạo động lực tăng trưởng mới và cạnh tranh vị thế siêu cường trong tương lai.
"Những bài học quốc tế trên cho thấy muốn phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số, không có con đường nào khác ngoài phát triển mạnh mẽ KH-CN và đổi mới sáng tạo. Đối với VN, việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và số hóa càng mang ý nghĩa sống còn. Giai đoạn từ nay đến 2030 đặt ra yêu cầu phát triển mới: phải tăng tốc để phấn đấu tăng trưởng hai con số, nâng sức chống chịu trước bất định toàn cầu. Trong bối cảnh rủi ro thương mại, địa chính trị khó dự báo, bài toán cốt lõi của chúng ta là đầu tư công phải nhanh hơn, nhưng quan trọng nhất là "thông minh hơn", ưu tiên hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống người dân bền vững", TS Trần Văn Khải nhấn mạnh.
Theo PGS-TS, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường ĐH Sài Gòn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ, mô hình tăng trưởng mới phải dựa nhiều hơn vào năng suất, KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu… Hay có thể hiểu rằng cần phải huy động triệt để nguồn lực của đất nước để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Nguồn lực của đất nước không chỉ là vật chất như vốn, đất đai mà còn phải bao gồm những nguồn lực phi vật chất khác, gồm sự sáng tạo, đổi mới, tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Đồng thời, việc huy động triệt để nguồn lực còn bao gồm cả việc tận dụng thời gian chứ không phải chậm trễ, có nghĩa là mọi việc phải được giải quyết triệt để, nhanh chóng. Chẳng hạn, việc chậm sử dụng đất đai là một sự lãng phí nguồn lực rất lớn. Nhưng với nhiều địa phương, cán bộ không dám làm vì sợ trách nhiệm, đùn đẩy và chỉ chờ cấp trên quyết, chậm đưa các nguồn lực đi vào sử dụng cũng là một sự lãng phí.
Song song, VN đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững, thực chất thì phải dựa vào KH-CN, tăng năng suất lao động dựa trên đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số. Khi hàm lượng KH-CN, hàm lượng tri thức gia tăng thì cũng đồng nghĩa ít làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực của đất nước. Để kinh tế cả nước tăng trưởng cao thì các địa phương đều phải tăng trưởng, phải huy động được mọi nguồn lực trong xã hội, khuyến khích phát triển tất cả thành phần kinh tế. VN phải phát huy được hết tất cả tiềm năng và lợi thế của từng khu vực kinh tế, từng địa phương, từ vùng xuôi đến miền núi.
PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh: để tập hợp và phát huy nguồn lực của cả nước thì từng nhà, từng khu vực đều phải có sự quyết tâm thực hiện. Từng công chức, viên chức ở các cơ quan nhà nước phải cùng thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, DN nhanh chóng hơn. Ngay cả việc cả nước đang thúc đẩy đầu tư hạ tầng giao thông, từ đường cao tốc đến đường thủy nội địa, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao… cũng là một sự kết nối các nguồn lực từ các địa phương. Các địa phương, các khu vực sẽ có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau tốt hơn. Từ đó tạo nên nguồn lực tổng hợp, sức mạnh chung để khai thác hết tiềm năng, lợi thế của cả nước.
Phân tích rõ hơn khái niệm cộng hưởng nguồn lực mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa nêu, TS Nguyễn Việt Hùng, nguyên Trưởng khoa Xây dựng Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM, nói rằng nguồn lực và sức mạnh quốc gia phải được xem xét một cách tổng hòa trên tất cả các phương diện: từ sức mạnh vật chất cho đến sức mạnh tinh thần; kết nối những truyền thống từ quá khứ, thông qua những đặc trưng của hiện tại và hướng tới dự báo những giá trị của tương lai. Sức mạnh tổng hợp quốc gia là sự hợp thành của cả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội lẫn đối ngoại. Đó là tổng thể giá trị, hay còn gọi là sức mạnh mềm của một quốc gia.
Muốn đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển nhanh và bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã xác định trụ cột chính là KH-CN, tri thức và chuyển đổi số. Khi chúng ta dựa trên nền tảng của KH-CN và tri thức, thì về bản chất, nó chính là thuộc về sức mạnh tinh thần. Vì vậy, VN buộc phải cộng hưởng nguồn lực vật chất với nguồn lực tinh thần. Ở đó, sức mạnh cốt lõi là tinh thần, nhưng luôn cần phải có sức mạnh vật chất đi kèm để đảm bảo và quyết định.
Đơn cử, trong kỷ nguyên dựng nước và giữ nước của cha ông ta, bên cạnh truyền thống văn hóa Văn Lang hay Đông Sơn, chúng ta luôn phải gắn liền với nền văn minh lúa nước. Chính hạt lúa, củ khoai trong phương thức sản xuất văn minh nông nghiệp Sông Hồng ấy đã trở thành bệ phóng vững chắc để sức mạnh của kỷ nguyên Đại Việt được thăng hoa.
Thực tiễn lịch sử cũng đã chứng minh nguồn lực quốc gia bao gồm cả yếu tố vật chất lẫn tinh thần. Trong đó, vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, nhưng tinh thần lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Có những đất nước, những quốc gia dân tộc xét về mặt nguồn lực, tiềm lực vật chất có thể thua kém một quốc gia đối đầu khác, nhưng họ vẫn tồn tại độc lập, tự chủ suốt hàng nghìn năm mà không bị xâm lược, đô hộ hay bị đồng hóa.
"Ngày hôm nay cũng vậy, VN là một nước đang phát triển và đang ôm một hoài bão lớn của cả dân tộc: bước vào kỷ nguyên vươn mình để phát triển nhanh và bền vững. Chúng ta lấy đổi mới KH-CN một cách sáng tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số làm động lực chủ yếu để phát triển. Nếu biết cộng hưởng tất cả các sức mạnh vật chất và tinh thần lại với nhau - trong đó lấy tinh thần làm nguồn lực "thăng hoa", tạo ra niềm hứng khởi cho toàn quốc gia, dân tộc - thì sẽ mang tới sức mạnh động viên và khơi dậy nguồn lực nội sinh rất cao. Mỗi người dân VN sẽ cùng được thổi bùng lên khát vọng làm giàu, độc lập, tự chủ, đưa đất nước vươn lên thành cường quốc", TS Nguyễn Việt Hùng chỉ rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu tập trung xây dựng gói thể chế khơi thông nguồn lực. Trong xây dựng thể chế, phải dứt khoát bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Đồng thời tập trung nguồn lực cho các cực tăng trưởng, dự án và ngành có sức lan tỏa cao, không dàn trải, không bình quân; phát triển DN, thị trường vốn và nguồn lực trong dân; lấy năng suất, KH-CN, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao làm động lực chính.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, việc phân bổ nguồn lực đầu tư của đất nước nói chung cần dựa trên tiêu chí hiệu quả. Song song, các địa phương đầu tàu tăng trưởng của cả nước phải được đẩy mạnh, phát huy thông qua thể chế đặc biệt. Chẳng hạn như TP.HCM, Hà Nội phải có thể chế tương thích để phát huy hết tiềm năng, lợi thế cũng như phân bổ nguồn lực tương xứng. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết cắt giảm điều kiện kinh doanh trong nhiều lĩnh vực ngành nghề, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Điều này cũng là thể chế hóa cụ thể chủ trương mà Đảng đề ra là đột phá mạnh mẽ về thể chế để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực. Khi thực hiện đúng các chiến lược trên với tư duy mới cũng đồng nghĩa là xóa bỏ đi tư duy "không quản được thì cấm" vẫn còn hiện hữu đâu đó. Chỉ khi mỗi địa phương, mọi người dân chung sức phát huy được hiệu quả, tiềm năng, lợi thế của từng mảnh đất, thực sự phát huy tối đa nội lực, cả nước mới có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững.
TS Nguyễn Việt Hùng cũng cho rằng VN không thiếu tài nguyên, không thiếu nhân lực có khát vọng, có nền tảng 40 năm đổi mới và môi trường quốc tế ổn định. Tuy nhiên, nguồn lực thời gian qua đang bị kìm hãm bởi nhiều nguyên nhân.
Đầu tiên là điểm nghẽn thể chế. Hệ thống quy định, chế độ chính sách và thủ tục hành chính còn chồng chéo, bất cập. Chính cái "vướng thể chế" này đang "bó" quyền dân chủ trong xã hội, không phát huy được năng lực tự thân của các thành phần kinh tế. Cùng với đó, tài nguyên quốc gia rất phong phú nhưng đang bị khai thác không hiệu quả, quản lý lỏng lẻo gây thất thoát lớn…
Từ phân tích trên, ông Hùng nhấn mạnh cần hiểu đúng sự thay đổi tư duy cốt lõi về "nguồn lực" theo tinh thần mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Đó là cái đã có, đang có thì phải mở trói để phát triển; cái nào làm tốt thì phát huy, cái nào chưa tốt thì rút kinh nghiệm. Với cái chưa có thì phải nghiên cứu, sáng tạo và thử nghiệm; trên tinh thần đó, đột phá tư duy từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo môi trường để nguồn lực cộng hưởng. Các nguồn lực đang bị bó bởi thể chế thì việc đầu tiên cần làm là phải đột phá thể chế theo hướng kiến tạo, để "tạo gió cho cánh buồm" phát triển. Cùng với đó, xóa bỏ định kiến, khơi dậy "gen khát vọng" của tất cả mọi tầng lớp người dân để họ cùng làm giàu, tự chủ và đưa đất nước đi lên.
Việc đánh giá con người và các thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân cũng phải sòng phẳng, công bằng, ngay cả trong công tác thi đua khen thưởng. Những sáng tạo, khát vọng làm giàu phải được bảo hộ bằng pháp luật nghiêm minh, công khai, minh bạch, sòng phẳng; được nuôi dưỡng từ môi trường thủ tục hành chính pháp lý thuận lợi, mang tính động viên, khơi dậy để mọi người đem tài trí ra phục vụ đất nước. Đó chính là nguồn lực cực lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng nay (14.5), giá vàng miếng tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC tiếp tục được mua vào 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng. Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) mua vàng miếng SJC ở mức 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng; Công ty Phú Quý cũng mua vào 162 triệu đồng và bán ra 165 triệu đồng…
Tương tự, giá vàng nhẫn 4 số 9 tại Công ty SJC cũng được mua vào 161,8 triệu đồng, bán ra 164,9 triệu đồng như hôm qua. Trong khi đó, nhiều công ty mua bán vàng nhẫn bằng giá vàng miếng SJC như Công ty Phú Quý mua vào 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng; Công ty PNJ cũng mua vào 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng…
Giá vàng thế giới giảm 22 USD/ounce sau một ngày, xuống 4.687 USD/ounce. Kim loại quý tiếp tục đi lùi khi các nhà đầu tư lo ngại lạm phát gia tăng. Sau khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 của Mỹ cao hơn trước đó, dữ liệu của Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố vào ngày 13.5 cũng cho thấy trong tháng 4, chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 1,4% so với tháng 3. Mức tăng này cao hơn nhiều so với dự báo 0,5% của Dow Jones và mức tăng 0,7% của tháng 3. Đây là mức tăng theo tháng lớn nhất kể từ tháng 3.2022. Nếu so với cùng kỳ, PPI tăng 6%, mức cao nhất kể từ tháng 12.2022. Giá năng lượng là nguyên nhân chính khiến giá sản xuất tăng mạnh bất ngờ, tương tự như cú tăng của lạm phát tiêu dùng mà Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố trước đó một ngày. Tuy nhiên, dữ liệu cũng cho thấy áp lực giá đang lan rộng vượt ra ngoài lĩnh vực nhiên liệu.
Tháng trước, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất chuẩn qua đêm trong vùng 3,5% - 3,75%. Theo công cụ FedWatch của CME Group, giới giao dịch hiện gần như không còn đặt cược vào khả năng Fed cắt giảm lãi suất trong năm nay. Trong khi đó, Ấn Độ đã nâng thuế nhập khẩu vàng và bạc từ 6% lên 15% nhằm hạn chế nhập khẩu kim loại quý và giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia. Ấn Độ hiện là quốc gia tiêu thụ kim loại quý lớn thứ hai thế giới. Nhiều nhà phân tích cũng cho rằng việc tăng thuế nhập khẩu tại Ấn Độ đã làm dấy lên lo ngại về nhu cầu và có thể trở thành lực cản dài hạn đối với thị trường vàng...
Tin Gốc: Thanh Niên

