TAND TP Đà Nẵng ngày 31/3 tuyên Lê Anh Văn (48 tuổi) 13 năm 6 tháng tù, Võ Đăng Khoa (45 tuổi) 12 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Văn và Khoa là kiến trúc sư cùng làm việc tại TP HCM. Năm 2020, Văn nhận thiết kế cho một số công trình của ông Mai Văn Huế, chủ khu đất rộng 1.454 m2 trên đường 3/2, quận Hải Châu (cũ), nay là phường Hải Châu, TP Đà Nẵng.
Năm 2021, khi ông Huế nộp hồ sơ xin chủ trương đầu tư dự án chung cư nhưng vướng pháp lý, chưa được giải quyết, Văn không có khả năng “lo” thủ tục vẫn bàn bạc với Khoa dựng kịch bản lừa đảo, nhà chức trách cáo buộc.
Văn ký hợp đồng tư vấn với ông Huế, đưa ra chi phí 4,5 tỷ đồng, yêu cầu tạm ứng 3 tỷ đồng. Sau khi nhận tiền, Khoa tiếp nhận hồ sơ, nộp cơ quan chức năng nhưng bị trả lại.
Để tạo niềm tin, Khoa dùng phần mềm chỉnh sửa, làm giả các văn bản liên quan đến việc chấp thuận chủ trương đầu tư, chuyển cho Văn gửi lại ông Huế.
Văn tiếp tục đưa ra lý do cần thêm chi phí “lo thủ tục”, yêu cầu ông Huế chuyển thêm 300 triệu đồng.
Tổng cộng, hai bị cáo chiếm đoạt 3,3 tỷ đồng, trong đó Văn sử dụng 1,4 tỷ đồng, Khoa nhận 1,9 tỷ đồng.
Sau nhiều lần chờ đợi không có kết quả, ông Huế nghi ngờ, tự tìm hiểu và phát hiện các văn bản đều bị làm giả nên tố giác.
HĐXX xác định hành vi của hai bị cáo có tổ chức, gian dối, làm giả tài liệu nhằm chiếm đoạt số tiền lớn, cần xử lý nghiêm để răn đe.
Ngọc Trường
Nguồn: https://vnexpress.net/hai-kien-truc-su-lam-gia-ho-so-chay-du-an-xay-chung-cu-o-da-nang-5056866.html

Tối 4/5, TAND Tp.HCM đã tuyên án đối với bị cáo Phạm Nhật Vinh (49 tuổi, cựu Thành viên HĐQT Công ty Sadeco - công ty con của Công ty Tân Thuận IPC, 100% vốn Nhà nước; kiêm Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư và Phát triển Nguyễn Kim - Công ty Nguyễn Kim) về tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Theo HĐXX, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại tòa, đủ cơ sở xác định, Công ty Tân Thuận IPC là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, góp vốn và nắm quyền chi phối tại Sadeco với tỉ lệ 74,8%.
Năm 2015, trong đề án tái cơ cấu, UBND Tp.HCM yêu cầu IPC không được giảm thêm tỉ lệ sở hữu vốn.
Tuy nhiên, IPC đã không thực hiện yêu cầu, giảm tỉ lệ sở hữu vốn tại Sadeco từ 44% xuống chỉ còn 28,8% thông qua phát hành cổ phiếu cho Công ty Nguyễn Kim không qua đấu giá.
Cụ thể, ngày 10/11/2016, Công ty Nguyễn Kim có văn bản đề xuất tham gia mua cổ phần để trở thành cổ đông chiến lược của Sadeco và sau đó được dàn lãnh đạo IPC biểu quyết thông qua với tỉ lệ 100%.
Ngày 16/5/2017, bị cáo Tất Thành Cang có bút phê ký "Đồng ý" vào Tờ trình 1148-TTr ngày 28/4/2017 của Văn phòng Thành ủy Tp.HCM với giá phát hành cổ phần được xác định là 40.000 đồng/cổ phần cho một cổ đông chiến lược là sai theo quy định tại Điều 125 và điểm d khoản 2 Điều 149 Luật Doanh nghiệp.
Ngày 18/5/2017, Văn phòng Thành ủy có Thông báo 495-TB/VPTU do nguyên Phó Bí thư thường trực Thành ủy Tp.HCM Tất Thành Cang ký, truyền đạt ý kiến chỉ đạo "chấp thuận chủ trương phương án phát hành cổ phần cho cổ đông chiến lược để tăng vốn điều lệ tại Sadeco".
Ông Tất Thành Cang biết rõ việc phát hành cổ phần phải thực hiện đấu giá, thẩm định giá theo Điều 38 Nghị định 91/2015 của Chính phủ, nhưng không chỉ đạo Văn phòng Thành ủy, người đại diện vốn có ý kiến về việc đấu giá, thẩm định giá theo quy định.
Ngày 19/10/2017, Công ty Nguyễn Kim chuyển thanh toán cho Sadeco 360 tỷ đồng là số tiền mà công ty này mua cổ phiếu của Sadeco. Tuy nhiên, số tiền này không được dùng để tăng vốn điều lệ, mà Sadeco đã gửi vào ngân hàng với kỳ hạn 18 tháng để lấy lãi.
Sau khi phát hành cổ phần cho cổ đông chiến lược, tỉ lệ sở hữu của nhóm cổ đông Nhà nước tại Sadeco giảm từ 62,8% xuống chỉ còn 41% (trong đó tỉ lệ sở hữu vốn của IPC từ 44% giảm xuống chỉ còn 28,5%). Trong khi cổ đông chiến lược của Sadeco là Công ty Nguyễn Kim chiếm hơn 54% vốn điều lệ.
Ngày 14/8/2018, Sadeco họp Đại hội cổ đông thống nhất giao HĐQT đàm phán với Công ty Nguyễn Kim để hủy hợp đồng hợp tác đầu tư.
Ngày 17/10/2019, Sadeco ký thỏa thuận chấm dứt hợp đồng với đối tác với Công ty Nguyễn Kim, hoàn trả lại cho Công ty Nguyễn Kim 360 tỷ đồng, còn Sadeco được nhận lại 9 triệu cổ phần.
Về sai phạm của bị cáo Phạm Nhật Vinh, ngày 01/6/2017, Phạm Nhật Vinh bắt đầu làm việc tại Công ty Nguyễn Kim, giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc.
Thời điểm này, Phạm Nhật Vinh được 3 cá nhân gồm bà Nguyễn Thị Ánh Phượng, bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết và bà Nguyễn Thị Hương là những người đang sở hữu tổng cộng 5.235.683 cổ phần, tương đương 30,8% vốn điều lệ của Công ty Sadeco đề cử tham gia HĐQT của Công ty Sadeco.
Ngày 29/6/2017, tại Đại hội đồng cổ đông của Công ty Sadeco sau khi thảo luận Đại hội đã biểu quyết và thống nhất thông qua việc Phạm Nhật Vinh tham gia HĐQT Công ty Sadeco theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-ĐHĐCĐ- NSG, ngày 29/6/2017.
Ngày 02/8/2017, HĐQT của Công ty Sadeco tiến hành họp chọn cổ đông chiến lược để phát hành cổ phiếu và giá bán cổ phiếu theo như Nghị quyết của Đại hội cổ đông. Tại cuộc họp trên, sau khi đưa ra phương án chọn Công ty Nguyễn Kim là cổ đông chiến lược để phát hành 09 triệu cổ phiếu và giá bán là 40.000 đồng/cổ phần, tất cả thành viên đã biểu quyết đồng ý với phương án trên.
Với vai trò là thành viên HĐQT của Công ty Sadeco, Phạm Nhật Vinh phải có trách nhiệm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của các cổ đông và của Công ty Sadeco nhưng Phạm Nhật Vinh đã thực hiện không đúng theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 và Điều lệ Công ty Sadeco, đã có hành vi đồng phạm giúp sức, tham gia các cuộc họp của Hội đồng quản trị, thực hiện biểu quyết thông qua phương án chọn Công ty Nguyễn Kim là cổ đông chiến lược để Công ty Sadeco phát hành 09 triệu cổ phiếu với giá bán là 40.000 đồng/cổ phần mà không tiến hành đấu giá, thẩm định giá tài sản, dẫn đến gây thất thoát tài sản của Nhà nước số tiền gần 670 tỷ đồng (tương đương với 60,7% tỷ lệ vốn góp).
Tại phiên tòa, bị cáo Vinh thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Về lý do bỏ trốn, bị cáo Vinh nói do có chuyện gia đình cần giải quyết. Quá trình cơ quan điều tra giải quyết vụ án liên quan đến bán 9 triệu cổ phần cho Công ty Nguyễn Kim, bị cáo cũng có nhiều lần có đơn gửi cơ quan điều tra, thông báo về việc sẽ về trình diện sau khi giải quyết xong việc gia đình.
Kết thúc phiên tòa, HĐXX cho rằng, có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Nhật Vinh phạm tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Do bị cáo không hưởng lợi, và dù hậu quả của vụ án đã được khắc phục toàn bộ, nhưng bị cáo vẫn tác động gia đình nộp 100 triệu đồng để khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận nên tòa xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Pháp Luật
Tăng mức phạt vi phạm hành chính: Cần bảo đảm hài hòa giữa răn đe và khả thi

Đề xuất sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng nâng mức tiền phạt trong nhiều lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng việc tăng chế tài là cần thiết để nâng cao hiệu quả răn đe, siết chặt kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở việc "phạt nặng đến đâu" mà ở chỗ mức phạt có hợp lý, khả thi và được xã hội chấp nhận hay không.
Mới đây, khi chủ trì cuộc họp về hồ sơ chính sách Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cũng nhấn mạnh việc đề xuất mức xử phạt phải được rà soát kỹ lưỡng, có cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn vững chắc. Với từng lĩnh vực cụ thể, cần đánh giá đầy đủ tác động, khả năng thực thi, tính răn đe và mức độ đồng thuận xã hội.
Đồng tình với phát biểu chỉ đạo của Phó thủ tướng, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) cho rằng đây không chỉ là một định hướng chính sách mà cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định chuyên ngành.
Theo bà, bản chất của xử phạt hành chính là điều chỉnh hành vi xã hội nhằm bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích cộng đồng. Vì vậy, một mức phạt chỉ phát huy hiệu quả khi người dân cảm nhận được sự công bằng và tính chính đáng của nó.
"Nếu mức phạt vượt quá khả năng chịu đựng thực tế của người vi phạm thì hiệu ứng tạo ra không phải là răn đe mà là né tránh, đối phó hoặc phát sinh tiêu cực. Ngược lại, mức phạt quá thấp sẽ khiến người vi phạm coi đó như một chi phí phải trả và sẵn sàng tiếp tục vi phạm", bà Tú Anh nhận định.
Theo nữ đại biểu, đồng thuận xã hội là điều kiện quan trọng để pháp luật được thực thi hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy những quy định xử phạt thiếu sự đồng thuận thường có tỷ lệ tuân thủ thấp và chi phí thực thi cao, bất kể mức phạt được quy định nặng đến đâu.
Thực tế cũng cho thấy không ít trường hợp mức phạt trên giấy rất cao nhưng hiệu quả răn đe hạn chế. Cơ quan chức năng ngại áp dụng vì cho rằng chế tài quá nặng so với tính chất vi phạm, trong khi người vi phạm tìm mọi cách đối phó hoặc né tránh. Điều này cho thấy mức phạt cao không đồng nghĩa với tính nghiêm minh của pháp luật.
Theo ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh, để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả, chính sách xử phạt hành chính cần đáp ứng ít nhất bốn tiêu chí cơ bản.
Đầu tiên, mức phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hại của hành vi vi phạm, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của đối tượng bị điều chỉnh. Một mức phạt có thể hợp lý với doanh nghiệp lớn nhưng lại vượt quá khả năng của hộ kinh doanh nhỏ hoặc người dân ở khu vực nông thôn. Vì vậy, cần nghiên cứu các cơ chế điều chỉnh phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ hai, việc xây dựng mức phạt phải dựa trên đánh giá tác động thực chất. Nhiều đề xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý, trong khi còn thiếu dữ liệu về khả năng tuân thủ, năng lực tài chính của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả thực tế của chế tài. Việc đánh giá tác động cần được thực hiện nghiêm túc trước khi ban hành quy định.
Tiếp theo, xử phạt không chỉ nhằm trừng phạt mà còn phải hướng tới giáo dục và phòng ngừa. Đối với những trường hợp vi phạm lần đầu hoặc do thiếu hiểu biết pháp luật, việc kết hợp chế tài với các biện pháp tuyên truyền, giáo dục có thể mang lại hiệu quả thay đổi hành vi bền vững hơn so với phạt tiền đơn thuần.
Cuối cùng nữ đại biểu cho rằng, hệ thống chế tài phải bảo đảm tính thống nhất và công bằng giữa các lĩnh vực. Những hành vi có mức độ nguy hại tương đương cần được xử lý tương xứng. Nếu mức phạt giữa các lĩnh vực chênh lệch quá lớn, người dân dễ cảm nhận sự thiếu công bằng, từ đó ảnh hưởng tới niềm tin vào pháp luật.
Ở góc độ chuyên môn, Luật gia Võ Văn Tuyển (Ban Nghiên cứu - Xây dựng và Phổ biến pháp luật, Hội Luật gia Việt Nam), cho rằng mức tiền phạt hiện hành đã bộc lộ hạn chế trong một số lĩnh vực như đất đai, môi trường, thương mại điện tử, chứng khoán, quảng cáo sai sự thật, hàng giả và hàng nhái… Trong nhiều trường hợp, lợi ích mà tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm lớn hơn rất nhiều so với mức xử phạt phải chịu, khiến chế tài hành chính mất đi tác dụng răn đe.
Tuy nhiên, theo ông Tuyển, mức phạt chưa phải nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính hiện nay. Nhiều khó khăn nằm ở khâu phát hiện và chứng minh hành vi vi phạm, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hoặc những vướng mắc trong quá trình thi hành quyết định xử phạt.
"Nếu chỉ tăng mức tiền phạt mà không đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi, hoàn thiện cơ chế cưỡng chế và khắc phục sự chồng chéo của hệ thống pháp luật thì chưa chắc hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được cải thiện", ông Tuyển nhận định.
Theo ông, cùng với phạt tiền, các hình thức xử phạt bổ sung như tước giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề cần được cân nhắc thận trọng về thời hạn, trình tự và tác động thực tế. Bởi, một quyết định tước giấy phép kéo dài nhiều tháng có thể khiến doanh nghiệp đình trệ hoạt động, ảnh hưởng tới người lao động và các đối tác liên quan.
Vì vậy, chế tài phải bảo đảm tính tương xứng, tránh tạo ra những hệ quả xã hội vượt quá mục tiêu quản lý, điều này cũng phù hợp với tinh thân Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Cùng với đó, Tuyển cũng cho rằng cần phân hóa rõ giữa cá nhân và tổ chức khi thiết kế chế tài xử phạt. Đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức có tiềm lực tài chính lớn, cố tình vi phạm để thu lợi bất hợp pháp, có thể nghiên cứu áp dụng mức phạt cao hơn. Ngược lại, nếu tăng đồng loạt đối với cá nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực gắn với đời sống dân sinh như giao thông, cư trú, kinh doanh nhỏ lẻ, có thể tạo áp lực lớn cho người dân.
Theo vị chuyên gia, thay vì chỉ tập trung nâng tiền phạt, cần chú trọng hơn tới các biện pháp tước bỏ lợi ích thu được từ hành vi vi phạm như buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, thu hồi sản phẩm vi phạm, tịch thu tang vật hoặc tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn phù hợp. Trong nhiều trường hợp, đây là giải pháp hiệu quả hơn so với việc chỉ tăng mức xử phạt bằng tiền.
Các ý kiến cho rằng quá trình sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính cần được thảo luận công khai, đa chiều và tiếp thu đầy đủ ý kiến phản biện xã hội. Bởi với một đạo luật tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng tính nghiêm khắc của pháp luật mà còn phải bảo đảm tính hợp lý, khả thi và sự đồng thuận trong quá trình thực thi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Năm 2018, ông A bán cho ông B một căn nhà trong khu đất này. Đến năm 2020, tôi mua lại căn nhà đó từ ông B với giá 480 triệu đồng. Năm 2024, tôi tiếp tục chuyển nhượng lại cho bà C với giá 520 triệu đồng. Tất cả các giao dịch đều thực hiện thông qua vi bằng.
Tuy nhiên, sau khi bán các căn nhà riêng lẻ, ông A lại chuyển nhượng toàn bộ thửa đất lớn cho bà D và đã hoàn tất việc sang tên sổ đỏ. Gần đây, bà D yêu cầu thu hồi toàn bộ các căn nhà trên đất, trong đó có căn nhà mà tôi đã bán cho bà C.
Vì vậy, bà C đã khởi kiện tôi ra tòa án, yêu cầu hoàn trả số tiền 520 triệu đồng kèm lãi suất với lý do tôi lừa dối khi bán nhà. Trong khi đó, khi giao dịch, tôi đã nói rõ về nguồn gốc pháp lý của căn nhà; đồng thời, trong vi bằng do thừa phát lại lập cũng thể hiện rõ việc các bên đã tìm hiểu và chấp nhận hiện trạng pháp lý của nhà đất.
Trong trường hợp này, tôi cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình? Tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo hay không?
Luật sư tư vấn
Pháp luật Việt Nam không thừa nhận việc mua bán nhà đất thông qua hình thức lập vi bằng (việc mua bán nhà đất phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định).
Nếu đúng như chị đã trình bày về việc bán nhà đất cho bà C bằng hình thức lập vi bằng, dù hình thức này không được pháp luật thừa nhận nhưng chị không bị coi là lừa đảo, không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vì bà C đã khởi kiện chị ra tòa án, do đó chị cần phải tham gia vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Chị cần phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tại văn bản này ghi rõ tình hình sự việc trong quá trình mua bán căn nhà nêu trên (nêu rõ mua căn nhà đó từ ông B, ghi rõ họ tên đầy đủ và thông tin cá nhân của ông B; cũng như trình bày rõ quá trình mua bán căn nhà giữa chị và bà C là các bên đã tìm hiểu kỹ về nguồn gốc nhà đất, tự nguyện mua bán, không có sự lừa dối; không đồng ý với việc hoàn trả 520 triệu đồng cùng lãi suất vì chính chị cũng là người mua lại nhà từ ông B...).
Lưu ý: Theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, trong vụ án này, chị (với tư cách bị đơn) có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tin Gốc: Vnexpress

