Đêm 5/6, Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an Hà Nội cho biết, vào lúc 19h39 cùng ngày, tại xưởng gỗ ở số 8 đường Thành Công, làng nghề Liên Hà, xã Ô Diên, Hà Nội, xảy ra hỏa hoạn.
Sau khi tiếp nhận thông tin, cảnh sát đã điều 6 xe chữa cháy cùng 36 cán bộ chiến sĩ, xuống hiện trường tổ chức chữa cháy và tìm kiếm cứu nạn.
Theo cảnh sát, vụ cháy xảy ra tại nhà xưởng tạm có kết cấu khung thép, mái tôn, chứa nhiều đồ dễ cháy, sản sinh nhiều khói khí độc. Căn nhà xưởng bị cháy có diện tích khoảng 120m2, diện tích cháy khoảng 50m2, đám cháy không gây thiệt hại về người.
Đến khoảng 20h cùng ngày, đám cháy được khống chế, cảnh sát ngăn chặn cháy lan sang các nhà xung quanh. Đến khoảng 20h30, đám cháy được dập tắt, các đơn vị chức năng tiếp tục thoát khói, làm mát và rà soát hiện trường.
Nguyên nhân vụ cháy đang được làm rõ.
Tin Gốc: Dân Trí
Thời Sự
Con muốn sống: Bé gái 8 tuổi sống nhờ truyền thuốc, khẩn cầu 'cha ơi cứu con'

Trong hành trình tìm ra căn bệnh hiếm, có lần, khi chịu cơn đau từ thủ thuật lấy tủy, bé Lâm Mỹ Ngọc hoảng sợ bật khóc: "Ba ơi cứu con". Câu nói ấy khiến anh Lâm Văn Thành (43 tuổi, ở xã Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh) ám ảnh đến tận bây giờ.
Mỗi lần nhắc đến con gái, anh Thành lại quay mặt đi, đưa tay quệt vội nước mắt trên gương mặt khắc khoải. Với người cha ấy, nỗi sợ lớn nhất không phải những tháng ngày chạy chữa nhọc nhằn, mà là một ngày nào đó không còn giữ được con ở bên mình nữa.
Trong phòng bệnh ở Bệnh viện Nhi đồng 1, bé Ngọc nằm ngoan trên giường, chờ đến lượt truyền thuốc rồi thiếp đi lúc nào không hay. Thân hình nhỏ thó của em chỉ nặng vỏn vẹn 21 kg, còn cánh tay gầy guộc thì đã sớm quen với những mũi kim tiêm. Mỗi lần truyền thuốc, em không khóc, chỉ lặng lẽ nằm im.
Cuối năm 2018, khi bé Ngọc mới hơn 1 tuổi, vợ chồng anh Thành thấy bụng con to bất thường. Nghĩ con chỉ bị đầy bụng nhưng gần một tháng không bớt, người cha sốt ruột đưa con đi khám ở một phòng khám trong tỉnh.
Sau khi thăm khám, bác sĩ nói gan và lách của bé đều to bất thường, dặn gia đình phải đưa con lên Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) càng sớm càng tốt. Nghe tin ấy, hai vợ chồng ôm con lên xe máy, rời nhà từ lúc 2 giờ sáng. Gần 100 km đường tối hun hút phía trước, người cha vừa cầm lái, vừa nặng trĩu lòng vì trong túi chỉ còn vỏn vẹn hơn 1 triệu đồng.
Đến bệnh viện, vợ chồng anh Thành nhận tin dữ: bé Ngọc mắc Thalassemia (bệnh tan máu bẩm sinh). Theo bác sĩ, bé có thể phải truyền máu định kỳ, đối mặt nguy cơ thiếu máu nặng và các biến chứng tim, gan nếu không được điều trị và theo dõi chặt chẽ.
“Lúc đầu, vợ chồng tôi không biết Thalassemia là bệnh gì. Đến khi được bác sĩ giải thích, hai vợ chồng đi xuống dưới trệt, ôm nhau mà khóc. Khi đó chỉ biết ráng lo cho con chứ thật lòng cũng không biết phải xoay xở ra sao”, anh Thành nghẹn ngào.
Vào phòng bệnh, anh lại nghe một phụ huynh khác đang chăm con mắc cùng bệnh nói: “Bệnh này là bệnh nhà giàu, có trúng hai tờ vé số độc đắc cũng không nuôi nổi”. Nghe câu đó, người cha nghèo chỉ biết lặng đi.
Từ ngày con đổ bệnh, tháng nào anh Thành cũng đèo con vượt gần 100 km lên TP.HCM chữa trị. Ở quê, anh làm trong lực lượng bảo vệ an ninh trật tự cơ sở xã Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh), thu nhập hơn 2 triệu đồng mỗi tháng. Để có thêm thu nhập, anh xin đi làm bảo vệ ở núi Bà Đen. Anh còn đi rải diêm mì, gánh phân bò, bưng bê đám cưới để có tiền chữa bệnh cho con.
Vợ anh thì đi nhổ cỏ, lặt lá, thu hoạch, búng bông, lặt trái mãng cầu… mỗi ngày được 70.000 đồng. Từ ngày con bệnh nặng, chị nghỉ ở nhà chăm con, rồi mua thêm cái thùng mút, ướp ít nước giải khát đem bán trước nhà.
May mắn, suốt mấy năm sau đó, tình trạng của bé Ngọc tương đối ổn định nên chưa phải truyền máu. Vợ chồng anh cứ ngỡ con tạm ổn, có thể bớt đi phần nào nỗi lo nhưng một biến cố khác lại ập đến.
Năm 2025, các bác sĩ thấy bé có biểu hiện không hoàn toàn giống bệnh Thalassemia nên chỉ định làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu để tìm nguyên nhân, mẫu bệnh phẩm của bé được gửi ra nước ngoài.
Lần xét nghiệm gien đầu tiên tốn 8,5 triệu đồng nhưng vẫn chưa tìm ra bệnh. Bé phải làm tiếp xét nghiệm gien chuyên sâu hơn, chi phí lên tới 14 triệu đồng. Phòng Công tác xã hội của bệnh viện hỗ trợ 9 triệu đồng, gia đình tạm ứng thêm 1 triệu nhưng vẫn còn thiếu 4 triệu đồng.
“Lúc đó tôi quay sang hỏi vợ, vợ tôi bật khóc vì móc túi ra chẳng còn bao nhiêu. Thấy cảnh ấy, bác sĩ nói cứ để bệnh viện lo”, anh kể.
Kết quả cuối cùng trả về: bé mắc bệnh Gaucher (một loại bệnh hiếm). Theo các bác sĩ, bệnh gây gan lách to, thiếu máu, xuất huyết, tổn thương xương và ở một số thể bệnh có thể kèm tổn thương thần kinh nghiêm trọng. Nếu không được điều trị, bệnh có thể gây tàn phế, đe dọa tính mạng.
“Vợ chồng tôi sụp đổ khi con mắc căn bệnh phải truyền thuốc suốt đời…”, anh Thành nói.
Từ đó, cứ cách nửa tháng, cha con anh lại từ quê lặn lội lên TP.HCM để truyền thuốc định kỳ. Nguồn thuốc được các bác sĩ làm đơn xin tài trợ từ nước ngoài.
Từ ngày con út lâm bệnh, cuộc sống của gia đình anh Thành chỉ còn quẩn quanh giữa nhà và bệnh viện. Mỗi chuyến đưa con vào viện lại kéo theo đủ khoản phải lo. Hiện công ty nơi anh làm bảo vệ ở núi Bà Đen có hỗ trợ tiền xe đi lại nhưng mỗi lần đưa con vào viện, anh vẫn phải chắt chiu, tính toán từng đồng.
Ngồi bên giường bệnh của con, người cha cúi mặt rất lâu rồi mới nghẹn giọng: “Vợ chồng tôi ráng bao nhiêu cũng được, chúng tôi chỉ sợ mất con…”.
Hai vợ chồng anh luôn tự nhắc nhau một điều: không được khóc trước mặt con. Họ sợ con nhìn thấy rồi thêm buồn, thêm lo. Đêm về, vợ chồng anh lại thủ thỉ với nhau, tự nhủ phải ráng làm để có tiền đưa con đi viện.
Anh Thành bảo bé Ngọc ít khi than đau. Chỉ một lần duy nhất, khi bé làm thủ thuật lấy tủy, cơn đau ập tới khiến con hoảng sợ bật kêu: “Ba ơi cứu con”. Đó là âm thanh ám ảnh nhất mà đến nay anh vẫn không thể quên.
Ở cuối giường bệnh, chiếc balo cũ đựng vài bộ quần áo và ít bánh trái mang theo từ nhà nằm lặng lẽ một góc. Đó là tất cả những gì hai cha con mang lên cho một lần vào viện truyền thuốc. Mỗi chuyến đi như vậy là một lần anh phải tính toán từng khoản chi.
Nằm trên giường bệnh, có lần bé Ngọc quay sang nhìn ba rồi hỏi nhỏ: “Ba ơi, mai con có đi học được không?”. Câu hỏi khiến anh Thành nghẹn lại. Anh nhẹ nhàng xoa đầu con: “Ráng khỏe rồi ba cho đi học”. Bé im lặng gật đầu, quay mặt đi một lúc rồi nói rất khẽ: “Con không sợ kim tiêm đâu. Con chỉ sợ ba mẹ buồn, sợ không được đi học thôi…”.
Giờ đây, mong mỏi lớn nhất của người cha là con đáp ứng thuốc tốt hơn: “Tôi chỉ mong bệnh của bé nhẹ lại thôi. Chứ mong hết thì chắc không dám mong. Chỉ mong con sống lâu với mình thêm chút nào hay chút đó…”.
Thời Sự
Vụ ly hôn 1.200 tỉ đồng: Tòa xác minh nguyên đơn 'bị công an mời làm việc'

TAND khu vực 5 - TP.HCM vừa tạm ngưng phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là ông H.N.T.T (chủ một cơ sở nha khoa thẩm mỹ) và bị đơn là bà N.T.N.A, để xác minh ông T. có bị công an mời làm việc hay không.
Trước đó, vào sáng ngày 29.5, trong phần thủ tục, phía nguyên đơn và luật sư bảo vệ cho nguyên đơn vắng mặt không lý do.
Ngoài ra, HĐXX thông báo trong thời gian gần đây xuất hiện một số thông tin liên quan đến ông H.N.T.T bị công an mời làm việc. Vì vậy, HĐXX sẽ tạm ngưng phiên tòa để xác minh tình trạng pháp lý của nguyên đơn. Đồng thời xác minh các tài sản tranh chấp giữa các bên có liên quan đến vụ việc công an đang giải quyết hay không.
Theo hồ sơ vụ án và diễn tiến phiên tòa ngày 12 và 13.5, sau hơn 10 năm chung sống, tháng 3.2015, ông H.N.T.T nộp đơn xin ly hôn tại TAND quận Bình Thạnh (nay là TAND khu vực 5). Về tài sản, ông T. cho biết hai bên tự thỏa thuận phân chia.
Năm 2016, bà N.T.N.A có yêu cầu phản tố, đề nghị phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, song chưa thu thập đầy đủ các tài liệu về tài sản.
Đến năm 2024, ông T. thay đổi yêu cầu khởi kiện từ ly hôn sang đề nghị "hủy hôn nhân trái pháp luật", và không đồng ý chia tài sản chung vì cho rằng quan hệ hôn nhân không hợp pháp. Tuy nhiên, ông đồng ý chia cho vợ 20% giá trị tài sản để "đổi lấy sự bình yên" và muốn nhanh chóng kết thúc vụ ly hôn.
Ông T. cho rằng, giấy chứng nhận kết hôn có nhiều dấu hiệu bất thường như: vợ chồng ký nhầm vào vị trí của nhau, cả hai ký khi chưa có thông tin giấy tờ tùy thân nộp cho cán bộ tư pháp và chữ ký trong sổ hộ tịch không phải của ông. Việc ký tên diễn ra tại nhà do gia đình vợ mang giấy tờ về đưa...
Trong khi đó, bà N.A không đồng ý, cho rằng: cuộc hôn nhân được xác lập hợp pháp, không có chuyện lừa dối vì ông là bác sĩ, có trình độ nhận thức, không ai ép buộc. Vì vậy, bà N.A đề nghị được ly hôn và chia khối tài sản trị giá hơn 1.200 tỉ đồng.
Theo bà N.A và người đại diện, tài sản tranh chấp gồm nhiều bất động sản tại TP.HCM và các tỉnh, thành; hàng chục tỉ đồng tiền gửi trong các ngân hàng cùng lãi phát sinh từ năm 2014 đến nay; giá trị doanh nghiệp sở hữu chuỗi nha khoa thẩm mỹ và phần lợi nhuận phát sinh trong hơn 10 năm qua cùng nhiều bất động sản bà mới truy vết được và nộp chứng cứ trong phần thủ tục.
Trước đó, vụ án được mở trong 2 ngày (12 và 13.5), và HĐXX tạm dừng rồi tiếp tục xét xử vào sáng ngày 29.5. Trong quá trình HĐXX tạm dừng xét xử, ngày 22.5, lực lượng chức năng đi xe công vụ (biển số xanh) bất ngờ xuất hiện và tiến hành làm việc đồng loạt tại nhiều cơ sở thuộc một hệ thống nha khoa thẩm mỹ của nguyên đơn.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Nhìn lại chiến công phá án số 7 phố Ôn Như Hầu: Giá trị từ những điều không xảy ra

Ngày 14.7.1946, Hà Nội thức dậy trong một buổi sáng bình thường.
Cuộc diễu binh nhân Quốc khánh Pháp vẫn diễn ra theo kế hoạch. Không có tiếng súng. Không có những đoàn xe quân sự lao về Bắc Bộ phủ. Với phần lớn người dân lúc ấy, đó chỉ là một ngày bình thường của thủ đô giữa muôn vàn khó khăn của một đất nước vừa bước ra khỏi ách thuộc địa. Nhưng lịch sử nhìn ngày hôm ấy bằng một góc khác.
Chỉ 48 giờ trước đó, nền độc lập non trẻ của Việt Nam vừa đi qua một trong những thời khắc hiểm nghèo nhất kể từ sau Cách mạng Tháng Tám. Một kế hoạch đảo chính được chuẩn bị ngay giữa lòng Hà Nội đã bị đập tan trước giờ hành động. Nếu kế hoạch ấy thành công, chính quyền cách mạng có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sinh tử ngay trong buổi đầu lập quốc.
80 năm nhìn lại, giá trị của chiến công Ôn Như Hầu không chỉ nằm ở những gì đã diễn ra, mà còn ở những điều đã không xảy ra: không có một cuộc đảo chính, không có cái cớ để chính quyền cách mạng non trẻ bị bóp nghẹt ngay trong buổi bình minh của nền độc lập.
Đôi khi, giá trị lớn nhất của một chiến công không nằm ở những gì lịch sử ghi lại, mà ở những nguy cơ đã được ngăn chặn để lịch sử không bao giờ phải viết tiếp những chương biến cố.
Để hiểu hết ý nghĩa của ngày 12.7.1946, cần trở lại mùa hè đầy sóng gió của 80 năm trước. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong một hoàn cảnh chưa từng có tiền lệ. Một đất nước vừa giành được độc lập nhưng vẫn đứng giữa muôn vàn thử thách. Nạn đói năm 1945 để lại những hậu quả nặng nề. Ngân khố quốc gia gần như trống rỗng. Hơn 90% dân số mù chữ. Chính quyền cách mạng chưa được bất kỳ quốc gia nào chính thức công nhận về mặt ngoại giao.
Trong khi đó, tình hình quốc tế cũng diễn biến vô cùng phức tạp. Hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng mang theo những toan tính chính trị riêng. Ở miền Nam, thực dân Pháp từng bước mở rộng chiến sự nhằm tái lập ách thống trị. Nền độc lập vừa giành được đứng trước sức ép từ nhiều phía.
Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn một con đường không hề dễ dàng: tranh thủ mọi khả năng đàm phán để kéo dài hòa bình, giành thêm thời gian củng cố lực lượng và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc. Khi Người lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng thay mặt điều hành công việc trong nước.
Trong lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh nỗ lực tìm kiếm cơ hội hòa bình trên bàn đàm phán, thì ở Hà Nội, một cuộc đấu trí khác không kém phần quyết liệt, cam go cũng đang âm thầm diễn ra.
Dựa vào sự hậu thuẫn của quân Tưởng, Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Cách) ráo riết mở rộng lực lượng, xây dựng các cơ sở bí mật và tích trữ vũ khí ngay giữa lòng Hà Nội. Khi không còn khả năng giành ưu thế bằng con đường chính trị, các tổ chức này chuyển sang chuẩn bị một kế hoạch đảo chính bằng bạo lực.
Thời điểm được lựa chọn là ngày 14.7.1946, đúng dịp Quốc khánh Pháp.
Theo kế hoạch, các toán vũ trang sẽ phục kích trên tuyến đường quân đội Pháp diễu binh, đồng loạt nổ súng và ném lựu đạn, tạo ra một vụ thảm sát giữa trung tâm Hà Nội. Trong hỗn loạn, chúng sẽ tung tin Chính phủ cách mạng không đủ khả năng bảo đảm an ninh, kích động dư luận và tạo cớ để quân Pháp đánh chiếm các cơ quan đầu não, bắt giữ lãnh đạo Việt Minh, dựng lên một chính quyền tay sai.
Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp, lực lượng Công an cách mạng khẩn trương triển khai chuyên án. Hành động phải đủ nhanh để ngăn chặn âm mưu đảo chính trước giờ nổ súng, nhưng cũng phải đủ chặt chẽ để mọi quyết định đều dựa trên chứng cứ xác thực, không tạo cớ cho các thế lực phản động xuyên tạc, kích động.
Rạng sáng 12.7.1946, khi Hà Nội còn chìm trong màn sương đầu ngày, các mũi công tác đồng loạt xuất kích. Nhiều địa điểm của Việt Quốc bị khám xét cùng lúc. Tại số 132 phố Đuy-vi-nhô, cơ sở in ấn tài liệu tuyên truyền phản động bị triệt phá. Tại số 7 phố Ôn Như Hầu, lực lượng công an thu giữ nhiều tài liệu quan trọng liên quan đến kế hoạch đảo chính, phương tiện in ấn, dụng cụ làm bạc giả, vũ khí cùng nhiều tang vật phục vụ hoạt động chống phá.
Ngay sau đó, toàn bộ chứng cứ được công khai trước nhân dân. Một cuộc triển lãm được tổ chức ngay tại hiện trường để người dân trực tiếp chứng kiến những gì diễn ra phía sau cánh cửa của căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu.
Hai ngày sau, ngày 14.7, cuộc diễu binh của quân đội Pháp vẫn diễn ra nhưng điều mà những người đứng sau kế hoạch đảo chính chờ đợi đã không xảy ra. Không có tiếng súng. Không có bạo loạn. Không có cái cớ để biến thủ đô thành một chiến trường ngay trong những ngày đầu lập quốc.
Đối với nhiều người dân Hà Nội hôm ấy, đó chỉ là một ngày bình yên nhưng nhìn từ lịch sử, chính sự bình yên ấy mới là kết quả lớn nhất của chuyên án Ôn Như Hầu.
Tư liệu hiện vật vụ án Ôn Như Hầu
ẢNH: PA03 CÔNG AN HÀ NỘI CUNG CẤP
80 năm đã trôi qua, nhưng nhìn từ bản chất của vấn đề, thế giới hôm nay vẫn đặt ra những thách thức không quá khác so với mùa hè năm 1946.
Khi ấy, một âm mưu lật đổ được chuẩn bị trong bí mật để tạo ra hỗn loạn và mở đường cho sự can thiệp từ bên ngoài. Ngày nay, hình thức đã thay đổi, nhưng không ít quốc gia vẫn phải đối mặt với những kịch bản tương tự: một điểm nóng xã hội, những bức xúc trong dư luận bị kích động, những âm mưu "diễn biến hòa bình", "cách mạng màu" núp bóng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", hay các chiến dịch thao túng thông tin trên không gian mạng đều có thể trở thành mồi lửa của bất ổn nếu không được nhận diện và xử lý từ sớm, như những gì đã từng xảy ra tại Trung Đông, Bắc Phi, Nepal, Bangladesh và những nước không gian hậu Xô Viết.
Nhìn từ góc độ ấy, ý nghĩa lớn nhất mà chiến công Ôn Như Hầu để lại không chỉ là việc đập tan một âm mưu đảo chính, mà là một tư duy bảo vệ an ninh quốc gia vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay.
Đó là chủ động phát hiện và hóa giải nguy cơ trước khi trở thành khủng hoảng; giữ vững ổn định từ bên trong để không tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài; củng cố lòng dân như nền tảng vững chắc nhất của an ninh quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh "chiến tranh thông tin", "chiến tranh nhận thức" trên không gian số ngày càng quyết liệt; kiến tạo một môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển.
80 năm sau, những giá trị ấy vẫn là tinh thần xuyên suốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc: chủ động từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Bình yên ấy chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có. Đó là thành quả của biết bao nỗ lực, cống hiến và hy sinh thầm lặng. Lịch sử thường được viết bằng những sự kiện đã diễn ra nhưng cũng có một phần rất lớn của lịch sử được tạo nên từ những điều đã không xảy ra.
Đằng sau những điều "không xảy ra" ấy là sự tận tụy và hy sinh thầm lặng của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân. Phần lớn công việc của họ diễn ra trong những hồ sơ mật, những chuyên án kéo dài nhiều tháng, nhiều năm; và thành công nhiều khi chỉ được nhận biết bằng một kết quả rất giản dị, đó là Tổ quốc vẫn bình yên hiện diện trong nhịp sống bình thường của đất nước: những con phố vẫn sáng đèn, những chuyến tàu vẫn rời ga đúng giờ, những nhà máy vẫn vận hành, những lớp học vẫn vang tiếng trẻ thơ và những gia đình vẫn bình yên sum họp sau một ngày lao động.
Rồi đây sẽ còn nhiều chiến công mới được viết tiếp. Nhưng lịch sử sẽ luôn nhắc đến ngày 12.7.1946 như dấu mốc mở đầu truyền thống vẻ vang của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam.
Từ dấu mốc ấy, đất nước đã đi qua 80 năm với biết bao biến động nhưng vẫn giữ vững được độc lập, chủ quyền, ổn định và con đường phát triển do chính mình lựa chọn. Thành quả ấy không đến từ sự ngẫu nhiên của lịch sử, mà được bền bỉ vun đắp bằng bản lĩnh, trí tuệ và những cống hiến, hy sinh thầm lặng của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân - những người luôn âm thầm đi trước một bước để giữ cho Tổ quốc bình yên, để nhân dân vững tin dựng xây đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

