Sự kiện này không chỉ là một mốc son trong biên niên sử dân tộc, mà dưới lăng kính lý luận cách mạng hiện đại, đó chính là điểm khởi đầu mang tính chiến lược cho sự hình thành của một chân dung vĩ đại – Nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh.
Hành trình trở thành một Nhà cách mạng chuyên nghiệp luôn là một con đường xuyên suốt và nhất quán, gắn liền với 3 bước đi lớn: Tìm đường, Vạch đường và Dẫn đường. Đầu tiên là lên đường dấn thân vào thực tiễn để tìm ra con đường đúng đắn; tiếp theo là vạch ra hướng đi, chiến lược cụ thể cho phong trào; và cuối cùng là đứng ở vai trò người lãnh đạo để dẫn dắt nhân dân đi đến thắng lợi.
Vào đầu thế kỷ 20, phong trào yêu nước Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Đêm tối bao trùm xứ sở khi các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế lần lượt thất bại. Các bậc tiền bối tâm huyết như cụ Phan Bội Châu chọn hướng sang phương Đông, gửi gắm hy vọng vào sự đồng văn, đồng chủng của Nhật Bản; cụ Phan Châu Trinh chọn con đường cải cách, dựa vào chính nền dân chủ của nước Pháp để khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Giữa bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã có một quyết định hoàn toàn khác biệt và mang tính lịch sử – hướng thẳng sang phương Tây, đến chính sào huyệt của kẻ đang đô hộ đất nước mình. Người muốn xem nước Pháp và các nước phát triển khác vận hành ra sao; tự do, bình đẳng, bác ái của họ như thế nào, để rồi quay về giúp đỡ đồng bào.
Đó không phải là sự lựa chọn ngẫu hứng của một người trẻ tuổi, mà là kết quả của một tư duy độc lập và một lý tưởng kiên định. Mục tiêu cốt lõi của Người vô cùng rõ ràng và bất biến: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Lý tưởng ấy như ngọn hải đăng xuyên qua sương mù lịch sử, giúp Người không bị lạc hướng, không bị cám dỗ bởi sự phồn hoa hay những ảo tưởng chính trị nhất thời nơi xứ người.
“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre”
(Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên)
Bước chân xuống tàu năm 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã mang tầm vóc của một nhà cách mạng chuyên nghiệp tương lai: Không rập khuôn, không giáo điều, nhìn thẳng vào thực tiễn và lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm thước đo duy nhất.
Hành trình của Người không được trải bằng nhung lụa hay những khoản tài trợ. Đó là hành trình của một người lao động cô đơn chống chọi với nghịch cảnh thế kỷ, mà ở đó, 2 trở ngại lớn nhất là: kinh phí, trình độ học vấn và khác biệt văn hóa, ngôn ngữ
Bản lĩnh vượt qua rào cản tài chính từ 2 bàn tay trắng
Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với hành lý vỏn vẹn là lòng yêu nước và đôi bàn tay trắng. Không có tổ chức hay cá nhân nào bảo trợ cho hoạt động này của Người. Câu nói lịch sử khi Người trả lời bạn mình trước chuyến đi: “Đây, tiền đây!” – vừa nói vừa giơ hai bàn tay, chính là tuyên ngôn về tinh thần tự lực cánh sinh.
Để có thể duy trì hành trình tìm đường, Người đã chấp nhận làm bất cứ công việc chân tay nặng nhọc nào: từ phụ bếp dưới boong tàu nóng bức, quét tuyết giữa mùa đông Paris, đốt lò ở London, đến rửa ảnh, bán báo… Người đã biến lao động kiếm sống thành phương tiện để thực hiện lý tưởng cách mạng. Tinh thần ấy chứng minh một chân lý: khi lý tưởng đủ lớn, mọi thiếu thốn về vật chất chỉ là thuốc thử cho lòng kiên trung.
Xóa bỏ khoảng cách học vấn, ngôn ngữ và văn hóa
Là một thanh niên lớn lên trong cái nôi của Nho học phương Đông, việc bước vào thế giới phương Tây hiện đại đòi hỏi có sự tái cấu trúc hoàn toàn về tư duy. Rào cản đầu tiên là ngôn ngữ. Không có trường lớp chính quy, Người tự học tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga bằng cách viết từ mới lên bàn tay khi làm việc, học qua sách báo và qua những buổi tranh luận của công nhân.
Người học không phải để lấy tấm bằng hàn lâm vinh thân phì gia, mà học để chiếm lĩnh công cụ tư duy của nhân loại, dùng chính ngôn ngữ của kẻ thù để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Từ một người phụ việc, Người đã trở thành cây bút sắc bén của tờ báo Le Paria, tự mình viết những bản yêu sách gửi tới Hội nghị Versailles. Khát vọng tri thức và năng lực tự học phi thường đã giúp Người san lấp mọi khoảng cách về học vấn để đứng ngang hàng với các nhà tư tưởng tiến bộ thế giới.
“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá
Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?”
Sau gần 10 năm bôn ba qua nhiều châu lục, thấu hiểu tận cùng nỗi khổ của giai cấp lao động dù ở chính quốc hay thuộc địa, hành trình tìm đường của Nguyễn Tất Thành đã đạt tới bước ngoặt vĩ đại vào tháng 7.1920. Khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin.
“Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
…Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Luận cương của Lênin đã giải đáp cho người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Đó là giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là đích đến hoàn mỹ của chặng tìm đường, đồng thời tạo tiền đề nhảy vọt cho 2 chặng tiếp theo: vạch đường – chuẩn bị lý luận, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và dẫn đường – lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và 2 cuộc kháng chiến trường kỳ đến ngày đất nước thống nhất 30.4.1975.
Sự kiện 5.6.1911 vì thế không dừng lại ở một chuyến đi tìm đường sống, mà là hành trình mang tính quy luật của một nhà cách mạng chuyên nghiệp – đi vào thực tiễn, thấu suốt bản chất, tiếp thu lý luận khoa học để quay lại cải tạo thực tiễn đất nước.
Hành trình tìm đường năm 1911 của Nguyễn Tất Thành mang giá trị thời đại sâu sắc, là tấm gương soi chiếu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hôm nay, đặc biệt là những người đang trực tiếp vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Việc chuyển đổi và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đặt lên vai đội ngũ cán bộ cơ sở một khối lượng công việc khổng lồ, đa diện và phức tạp. Áp lực từ tiến độ, từ sự mong mỏi của người dân, cùng với những rào cản về cơ chế chính sách chưa đồng bộ đôi lúc đã tạo ra tâm lý mệt mỏi, quá tải. Thực tế cho thấy, đã có những biểu hiện sa sút ý chí, tư tưởng “né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm” hay co cụm ở một bộ phận cán bộ.
Đối chiếu với bước chân đầu tiên của nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay cần khắc sâu 3 bài học thực tiễn:
Kiên định ý thức phụng sự nhân dân để chế ngự áp lực tinh thần. Khi đối diện với khối lượng công việc tăng lên gấp bội, nếu không có một lý tưởng trong sáng và cái tâm phụng sự vô điều kiện như Bác năm xưa, người cán bộ rất dễ nản lòng. Áp lực của chính quyền tinh gọn phải được nhìn nhận như một môi trường rèn luyện bản lĩnh. Cán bộ phải tự vượt qua “vùng an toàn” của bản thân, xem khó khăn là thước đo năng lực bản thân.
Chủ động tìm đường, sáng tạo trong thực thi công vụ. Thay vì thụ động chờ đợi hay đổ lỗi cho hoàn cảnh thiếu thốn nguồn lực, cán bộ cần chủ động tìm đường và sáng tạo trong thực thi công vụ, nhất là khi địa phương triển khai những cơ chế mới chưa từng có tiền lệ. Học Bác ở tinh thần dấn thân, mỗi đảng viên phải phát huy tư duy sáng tạo, chủ động nghiên cứu, tìm đường tháo gỡ khó khăn cho cơ sở trong phạm vi thẩm quyền, thay vì tư duy lối mòn hay đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Không ngừng nâng tầm tri thức và năng lực thực tiễn. Mô hình quản trị hiện đại đòi hỏi người cán bộ không thể bằng lòng với vốn kiến thức cũ. Tinh thần tự học ngôn ngữ, tự học lý luận của Bác là bài học lớn cho việc tự nâng cao năng lực công nghệ, pháp lý và kỹ năng quản lý hiện đại của cán bộ ngày nay. Học và làm phải đi đôi, lấy sự hài lòng và ấm no của nhân dân làm đích đến cuối cùng cho mọi chính sách.
Khó khăn, áp lực của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn chuyển đổi mô hình quản lý hiện nay là rất lớn, nhưng chắc chắn không thể so sánh với muôn trùng gian khổ, thiếu thốn và hiểm nguy mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trải qua năm 1911.
Kỷ niệm 115 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên xốc lại tinh thần, tự soi, tự sửa. Muốn vạch đường cho phong trào cơ sở phát triển, muốn đủ uy tín để dẫn đường nhân dân, trước hết mỗi người phải thắng được tâm lý sợ khó, ngại khổ của bản thân.
Đó mới chính là hành động thiết thực nhất để tiếp nối tinh thần của chuyến đi lịch sử cách đây hơn một thế kỷ.
Tại buổi lễ, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Nguyễn Hoàng Anh đã công bố Quyết định của Chủ tịch nước bổ nhiệm 5 Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước ngoài.
Theo quyết định, ông Trịnh Minh Mạnh, Trưởng ban Đào tạo đại học và sau đại học, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ấn Độ, kiêm nhiệm Cộng hòa Dân chủ Liên bang Nepal và Vương quốc Bhutan.
Bà Nguyễn Hương Trà, quyền Viện trưởng, Viện Nghiên cứu chiến lược ngoại giao, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vương quốc Bỉ, kiêm nhiệm Đại Công quốc Luxembourg và Đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Liên minh châu Âu.
Ông Doãn Khánh Tâm, Phó giám đốc Trung tâm Thông tin tư liệu, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên.
Bà Châu Mai Anh, Phó cục trưởng Cục Lễ tân Nhà nước và Phiên dịch đối ngoại, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Liên bang Thụy Sĩ, kiêm nhiệm Công quốc Liechtenstein.
Ông Nguyễn Thành Lê, Phó viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Kazakhstan, kiêm nhiệm Cộng hòa Kyrgyzstan, Cộng hòa Tajikistan và Georgia.
Trao quyết định bổ nhiệm và giao nhiệm vụ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, các đại sứ phải nhận thức sâu sắc trọng trách của mình, phát huy bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, góp phần đưa quan hệ Việt Nam với các nước đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định, bền vững và hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, đối ngoại càng phải gắn chặt với tiến trình phát triển, đối ngoại phải mở đường cho phát triển, góp phần hóa giải những thách thức, tranh thủ được những nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cùng với quốc phòng, an ninh phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả.
Để thực hiện yêu cầu nhiệm vụ, các đại sứ phải nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược; giữ vững và làm sâu sắc thêm cục diện đối ngoại, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế.
Thúc đẩy quan hệ với các nước đi vào chiều sâu, nhất là các nước láng giềng, đối tác lớn, đối tác chiến lược, bạn bè truyền thống; kiên trì xây dựng lòng tin, giữ đối thoại, thúc đẩy hợp tác và xử lý khéo léo các khác biệt.
Đồng thời, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Đối ngoại góp phần giữ nước từ khi chưa nguy, tạo dựng một môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, phải đưa ngoại giao kinh tế, khoa học, công nghệ và phục vụ phát triển vào vị trí trung tâm; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển khoa học, công nghệ và mở rộng thị trường.
Các cơ quan đại diện phải trở thành các "trạm rada" phát hiện cơ hội, là cầu nối với các trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ, đồng thời cũng là điểm tựa cho các doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Các đại sứ cần sớm xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho từng địa bàn, xác định rõ thế mạnh, nhu cầu, cơ hội hợp tác, nguồn lực và kết quả phải chuyển từ "hoạt động sang sản phẩm"; từ "tư duy quan hệ sang tạo ra giá trị phát triển".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, các đại sứ phải là người kể câu chuyện Việt Nam một cách thuyết phục, một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng kiên cường, một đất nước đổi mới mạnh mẽ, giàu bản sắc văn hóa, một Việt Nam sẵn sàng đóng góp vào các vấn đề chung của khu vực cũng như là của thế giới. Ngoại giao văn hóa, thông tin, đối ngoại mà công tác người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân phải được triển khai hiệu quả hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, các đại sứ phải xây dựng một tập thể thống nhất, kỷ luật, tận tụy, có văn hóa công vụ và có tinh thần phụng sự đất nước; phải biết tập hợp, điều phối lực lượng trong các cơ quan đại diện, phát huy sức mạnh tổng hợp, tránh chồng chéo, mọi hoạt động phục vụ lợi ích chung của quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các đại sứ sau khi nhận nhiệm vụ, khẩn trương cụ thể hóa các yêu cầu thành chương trình hành động của cơ quan mình, xác định rõ trọng tâm, tiến độ, trách nhiệm và hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng các đại sứ sẽ hoàn thành tốt trọng trách, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia, tranh thủ được nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Chiều 27.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay quốc tế Udon Thani (tỉnh Udon Thani), bắt đầu thăm chính thức Thái Lan theo lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Anutin Charnvirakul và phu nhân từ ngày 27 - 29.5.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay, phía Thái Lan có: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan Watcharaphon Khaokham; lãnh đạo tỉnh Udon Thani…
Về phía Việt Nam có: Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan Phạm Việt Hùng và phu nhân; Tổng lãnh sự Việt Nam tại Khon Kaen Đinh Hoàng Linh và phu nhân; các cán bộ Đại sứ quán, Tổng lãnh sự quán Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.
Ngay sau khi xuống sân bay quốc tế Udon Thani, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh; gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.
Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều lợi ích tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Trải qua gần 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026), quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển mạnh mẽ, toàn diện, trở thành một trong những mối quan hệ năng động và hiệu quả nhất trong ASEAN.
Thời gian gần đây, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã có những bước phát triển rất tích cực, thực chất và toàn diện. Hai nước nâng cấp quan hệ từ Đối tác chiến lược lên Đối tác chiến lược tăng cường và hiện nay là Đối tác chiến lược toàn diện, phản ánh mức độ tin cậy chính trị ngày càng cao giữa hai bên.
Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Thái Lan lần này thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á.
Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới.
Vào tháng 4.2024, đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam đầu tiên trong lịch sử đã đến thăm và làm việc tại Sri Lanka, theo lời mời của Liên đoàn Thanh niên toàn Sri Lanka. Đến thăm tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Không gian Hồ Chí Minh tại thủ đô Colombo, nhiều thanh niên Việt Nam không chỉ xúc động vì hình ảnh của Bác giữa lòng một đất nước xa xôi, mà còn cảm nhận sâu sắc tinh thần quốc tế trong sáng của Người.
Giữa khuôn viên Thư viện thủ đô Colombo, tượng đài Bác Hồ hiện diện trang trọng như một biểu tượng đặc biệt của tình hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka. Đây cũng là vị lãnh tụ nước ngoài đầu tiên được Sri Lanka dựng tượng ở khu vực công cộng, thể hiện sự kính trọng sâu sắc của nhân dân nước bạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với nhiều bạn trẻ Việt Nam, hành trình đến nơi đây là dịp để hiểu rõ hơn tầm vóc quốc tế của Bác Hồ. Không gian trưng bày về cuộc đời, sự nghiệp và những lần Người đặt chân tới Sri Lanka giúp thanh niên hình dung rõ hơn về hành trình tìm đường cứu nước đầy gian nan của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đất nước Sri Lanka chính là nơi Bác đã đặt chân đến đầu tiên trên hành trình tìm đường cứu nước. Từ năm 1911, rồi các năm 1928 và 1946, Bác đã nhiều lần đến Sri Lanka, xây dựng mối quan hệ đoàn kết với nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Điều khiến nhiều thanh niên xúc động là dù đã đi xa hàng vạn dặm để đấu tranh cho độc lập dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mang trong mình khát vọng chung về hòa bình, tự do cho các dân tộc bị áp bức. Chính vì vậy, Người không chỉ là lãnh tụ của Việt Nam mà còn trở thành nguồn cảm hứng đối với nhân dân nhiều nước, trong đó có Sri Lanka. Những tư liệu, hình ảnh, sách viết về Bác bằng tiếng địa phương được trưng bày tại đây cho thấy tình cảm đặc biệt mà người dân Sri Lanka dành cho Người qua nhiều thế hệ.
Đối với thanh niên Việt Nam hôm nay, chuyến thăm đó không chỉ là hoạt động đối ngoại hay tìm hiểu lịch sử, mà còn là bài học sinh động về tinh thần quốc tế trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, tôn trọng hòa bình, luôn đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân loại. Giữa thủ đô Colombo, hình ảnh Bác Hồ vì thế trở thành nhịp cầu kết nối tình hữu nghị, giúp thế hệ trẻ thêm tự hào và ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, phát huy quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Trong chương trình Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam - Lào năm 2023, đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam đã có dịp được trải nghiệm sâu sắc về tinh thần quốc tế trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với cách mạng Lào trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc. Bác Hồ cũng dành tình cảm đặc biệt cho nhân dân Lào, nhiều lần khẳng định tình hữu nghị Việt Nam - Lào là mối quan hệ "mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững". Sự giúp đỡ chân thành ấy góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Lào và sự ra đời của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 1975.
Khi bước vào các bảo tàng, khu di tích tưởng niệm Chủ tịch Kaysone Phomvihane hay Hoàng thân Souphanouvong, tinh thần quốc tế trong sáng của Bác không còn là những dòng chữ trên trang giấy, mà đã hóa thành nhịp đập chung của hai dân tộc. Các bạn trẻ đã được tìm hiểu về lịch sử của Lào và trong hành trình giành độc lập của nước bạn luôn có những dấu mốc gắn bó với lịch sử cách mạng của Việt Nam. Đặc biệt, hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hiện diện trong tiến trình lịch sử cách mạng Lào. Ngay trên nước bạn, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở những vị trí vô cùng trang trọng.
Cảm xúc đầu tiên trong lòng các bạn trẻ Việt Nam chính là niềm tự hào mãnh liệt. Điều này minh chứng cho một sự thật lịch sử rực rỡ: Việt Nam và Lào đã từng kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự hiện diện của Bác trên đất nước bạn là biểu tượng rõ nét nhất của tinh thần quốc tế trong sáng - một sự giúp đỡ vô tư, không toan tính, hy sinh máu xương vì nền độc lập, hòa bình chung của hai quốc gia.
Trong chuyến đi này, di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nằm lại trong tủ kính bảo tàng mà còn chảy tràn trong nhịp sống hiện tại. Các bạn trẻ Việt Nam đã vô cùng bất ngờ và xúc động trước sự đón tiếp nồng hậu, chân tình của người dân và thanh niên Lào. Tình cảm "anh em ruột thịt" mà Bác Hồ dày công vun đắp đã xóa nhòa mọi rào cản ngôn ngữ. Chẳng cần dùng chung một tiếng nói, chỉ qua nụ cười, ánh mắt, cái bắt tay và những điệu múa truyền thống, thanh niên hai nước đã có thể kết nối với nhau như người một nhà.
Đặc biệt, khoảnh khắc thanh niên Lào cùng hô vang tên Hồ Chí Minh trong đêm liên hoan giao lưu đã khẳng định một điều: tên của Bác đã trở thành biểu tượng của tình đoàn kết không biên giới.