Trong thiết kế ô tô truyền thống, việc điều hướng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào hai bánh trước, còn bánh sau chỉ đóng vai trò “đi theo”. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ, một số hãng xe đã đưa vào ứng dụng hệ thống đánh lái bánh sau (rear-wheel steering), cho phép cả bốn bánh cùng tham gia điều hướng nhằm cải thiện khả năng vận hành.
Về bản chất, đây là hệ thống cho phép bánh sau xoay một góc nhỏ nhờ cơ cấu điều khiển điện tử, dựa trên dữ liệu về tốc độ xe và góc đánh lái của bánh trước. Dù góc xoay không lớn (thường chỉ vài độ), nhưng điều này đủ để tạo ra sự khác biệt rõ rệt trong cảm giác lái cũng như khả năng kiểm soát xe.
Nguyên lý hoạt động của hệ thống này được chia thành hai tình huống chính. Khi xe di chuyển ở tốc độ thấp, bánh sau sẽ đánh lái ngược chiều bánh trước. Điều này giúp giảm bán kính quay đầu, hỗ trợ xe xoay xở linh hoạt hơn trong không gian hẹp như bãi đỗ xe hoặc đường phố đông đúc. Với các mẫu xe có kích thước lớn, lợi ích này càng trở nên rõ rệt, giúp người lái tự tin hơn khi điều khiển.
Ngược lại, ở tốc độ cao, bánh sau sẽ đánh lái cùng chiều bánh trước. Khi đó, xe có xu hướng “ôm cua” mượt mà hơn, giảm độ văng đuôi và tăng độ ổn định khi chuyển làn hoặc vào cua gấp. Đây cũng là lý do công nghệ này thường được ứng dụng trên các mẫu xe hiệu năng cao hoặc xe hạng sang, nơi trải nghiệm lái được đặt lên hàng đầu.
Nhờ khả năng thay đổi linh hoạt theo tốc độ, hệ thống đánh lái bánh sau giúp giải quyết một bài toán khó trong thiết kế ô tô, như cân bằng giữa sự linh hoạt khi di chuyển chậm và độ ổn định khi chạy nhanh. Có thể hình dung, công nghệ này giúp một chiếc xe dài trở nên “gọn” hơn khi quay đầu, nhưng vẫn giữ được sự đầm chắc khi vận hành ở tốc độ cao.
Thực tế, nhiều hãng xe lớn đã sớm ứng dụng hệ thống này trên các dòng sản phẩm cao cấp. Chẳng hạn, Mercedes-Benz S-Class hay BMW 7-Series đều trang bị đánh lái bánh sau nhằm cải thiện độ linh hoạt cho thân xe dài. Ở phân khúc thấp hơn, một số mẫu như Mercedes-Benz E-Class thế hệ mới (W214) cũng bắt đầu được bổ sung công nghệ này như một tùy chọn nâng cao. Trong khi đó, Lexus phát triển hệ thống đánh lái bánh sau chủ động (Dynamic Rear Steering – DRS) trên các mẫu như Lexus LS hay Lexus RX, hướng tới sự cân bằng giữa êm ái và khả năng kiểm soát.
Dù mang lại nhiều lợi ích nhưng thực tế là hệ thống đánh lái bánh sau vẫn chưa phổ biến trên các dòng xe phổ thông. Nguyên nhân lớn nhất đến từ chi phí. So với hệ thống lái truyền thống, công nghệ này đòi hỏi thêm mô-tơ điện, cơ cấu chấp hành và bộ điều khiển điện tử phức tạp. Điều này khiến giá thành sản xuất tăng lên đáng kể, khó phù hợp với các mẫu xe có mức giá dễ tiếp cận.
Bên cạnh đó, việc tinh chỉnh hệ thống cũng không đơn giản. Để đảm bảo bánh sau xoay đúng góc, đúng thời điểm và không gây mất ổn định, các hãng xe phải đầu tư lớn vào phần mềm điều khiển cũng như quá trình thử nghiệm. Nếu thiết lập không tối ưu, xe có thể gặp hiện tượng phản ứng quá mức khi chuyển hướng, đặc biệt ở tốc độ cao.
Ngoài yếu tố kỹ thuật và chi phí, nhu cầu sử dụng thực tế cũng ảnh hưởng đến mức độ phổ biến của công nghệ này. Với phần lớn người dùng xe phổ thông, nhu cầu di chuyển chủ yếu trong đô thị hoặc trên các tuyến đường quen thuộc, hệ thống lái truyền thống vẫn đáp ứng tốt. Những lợi ích mà đánh lái bánh sau mang lại chưa đủ để trở thành yếu tố quyết định khi lựa chọn xe.
Trong tương lai, khi công nghệ điện tử và xe điện tiếp tục phát triển, chi phí sản xuất giảm và các hệ thống điều khiển ngày càng hoàn thiện, đánh lái bánh sau có thể sẽ xuất hiện nhiều hơn trên các dòng xe phổ thông. Tuy vậy, ở thời điểm hiện tại, đây vẫn là trang bị mang tính “đặc quyền”, chủ yếu dành cho các mẫu xe cao cấp nhằm nâng cao trải nghiệm lái và sự an toàn.
Ngày 19-5-2026, Skoda Epiq đã chính thức được vén màn cùng giá bán khởi điểm 26.000 euro. Đây là mẫu xe thương mại đầu tiên của hãng sử dụng nền tảng khung gầm điện MEB+ thuộc Tập đoàn Volkswagen, đồng thời đóng vai trò mở đầu cho dải sản phẩm thuần điện thế hệ mới của Skoda.
Theo Skoda, phiên bản tiêu chuẩn của Epiq sẽ được định giá tương đương các mẫu SUV chạy xăng cùng cỡ như Skoda Kamiq tại nhiều thị trường. Xe dự kiến được sản xuất tại châu Âu.
Khoang cabin của Skoda Epiq sử dụng nhiều vật liệu tái chế và vật liệu nhân tạo không có nguồn gốc động vật. Ghế ngồi được hoàn thiện bằng chất liệu giả da Techtona kết hợp sợi polyester tái chế (PES) - Ảnh: Skoda
Thông số cụ thể các phiên bản:
Trong giai đoạn đầu mở bán, Skoda còn giới thiệu phiên bản đặc biệt Epiq First Edition sử dụng cấu hình pin và động cơ của bản Epiq 55 - Ảnh: Skoda
Một mẫu xe đạp điện đặc biệt mang tên Manta do hãng ecowerk (Thụy Sĩ) phát triển đang thu hút sự chú ý nhờ thiết kế "lai" giữa xe đạp và xe bốn bánh.
Khác với các velomobile (xe đạp có thân vỏ kín) truyền thống thường sử dụng ba bánh để đảm bảo cân bằng, Manta chỉ vận hành trên hai bánh thẳng hàng như xe đạp thông thường. Tuy nhiên, điểm độc đáo nằm ở hệ bánh phụ (outrigger) có thể bung ra hoặc thu gọn khi cần.
Khi đi tốc độ thấp hoặc dừng lại, người lái có thể hạ hai bánh phụ này xuống để giữ thăng bằng, thay vì phải chống chân. Theo nhà phát minh Vivien Olivier Dettwiler, việc làm quen với cơ chế này cần luyện tập, nhưng sau khoảng vài chục lần sử dụng, người lái có thể điều khiển thuần thục.
Manta sở hữu thân vỏ kín giúp che mưa nắng, đồng thời cải thiện tính khí động học. Xe sử dụng khung thép, kết hợp các vật liệu như ETFE, gỗ ép, kính chắn gió polycarbonate và cửa vải có thể tháo rời. Thiết kế này mang lại cảm giác như một “chiếc ô tô mini” nhưng vẫn giữ được sự linh hoạt của xe đạp.
Về vận hành, xe được trang bị động cơ điện đặt ở bánh trước, hỗ trợ người lái đạt tốc độ tối đa 25km/h trong đô thị và 45km/h trên đường lớn. Nguồn năng lượng đến từ pin lithium-ion dung lượng 1.500Wh, kết hợp với các tấm pin mặt trời gắn trên mái.
Đáng chú ý, người dùng có thể mang theo bộ pin mặt trời gập bổ sung, cất trong khoang chứa đồ và có thể triển khai khi dừng nghỉ dài để sạc pin. Ngoài ra, hệ thống phanh tái tạo năng lượng cũng góp phần gia tăng phạm vi hoạt động.
Theo nhà sản xuất, Manta có thể di chuyển khoảng 150km trong điều kiện không có ánh nắng trực tiếp, và tăng thêm tới 40km nếu tận dụng năng lượng mặt trời.
Khi được sạc đầy kết hợp với pin mặt trời trong điều kiện tốt, xe có thể chạy được tới 190km
Không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại hằng ngày, mẫu xe này còn được thử nghiệm trong hành trình dài. Năm 2024, chính Dettwiler đã sử dụng Manta tham gia cuộc đua xe đạp năng lượng mặt trời xuyên Sahara dài 7.300km từ Pháp tới Morocco và quay lại. Xe có thể biến thành “giường ngủ di động” nhờ thiết kế ghế tháo rời, tạo không gian nằm cho người sử dụng.
Toàn bộ xe nặng khoảng 55kg. Hiện nhà sản xuất đã bắt đầu nhận đặt cọc, với giá dự kiến hơn 12.000 USD (316 triệu đồng) và thời gian giao hàng khoảng 16 tuần.
Đó là nội dung đáng chú ý của dự thảo thông tư quy định trình tự, thủ tục kiểm định, miễn kiểm định lần đầu cho xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; trình tự, thủ tục chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới cải tạo, xe máy chuyên dùng cải tạo; trình tự, thủ tục kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy đang được Bộ Xây dựng lấy ý kiến góp ý.
Dự thảo thông tư vẫn giữ nguyên chu kỳ kiểm định khí thải xe máy có thời gian sản xuất dưới 5 năm là 60 tháng, xe từ 5 năm đến 12 năm là 24 tháng, xe trên 12 năm là 12 tháng như thông tư 47/2024/TT-BGTVT.
Theo quy định hiện hành, với xe máy có thời gian tính từ năm sản xuất đến 5 năm, chủ xe không phải nộp hồ sơ kiểm định khí thải và không phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm để đo khí thải.
Cục Đăng kiểm sẽ tra cứu dữ liệu của cơ quan này về giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe, kết hợp cơ sở dữ liệu về đăng ký xe của Bộ Công an để cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải lần đầu cho xe.
Với xe máy đã sản xuất trên 5 năm, chủ xe phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm, xuất trình giấy tờ đăng ký xe để kiểm định khí thải.
Tuy nhiên theo dự thảo thông tư, xe máy dưới hay trên 5 năm tuổi đều được quy định chặt chẽ hơn về hồ sơ kiểm định lần đầu, nhằm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và việc thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử.
Theo đó, xe kiểm định lần đầu cần phải nộp hồ sơ gồm: bản chụp, bản chà số khung số máy; bản sao phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng (xe sản xuất, lắp ráp trong nước), giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (xe nhập khẩu) trong trường hợp mà dữ liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam chưa chia sẻ được; hai ảnh chụp xe chéo góc thể hiện rõ biển số xe (thể hiện thời gian thực khi chụp); bản chính giấy chứng nhận cải tạo của xe (đối với xe cải tạo) đối với trường hợp dữ liệu về cải tạo của xe chưa chia sẻ được từ Cục Đăng kiểm.
Bên cạnh đó, chủ xe phải xuất trình giấy đăng ký xe, giấy tờ về chủ xe (là một trong các giấy tờ: bản chính căn cước công dân hoặc căn cước điện tử tích hợp trên tài khoản định danh mức độ 2 trở lên).
Chủ xe lựa chọn bất kỳ cơ sở đăng kiểm nào trên phạm vi cả nước để nộp 1 bộ hồ sơ theo quy định tương ứng trực tuyến hoặc nộp trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính tới cơ sở đăng kiểm.
Với xe máy kiểm định khí thải lần đầu có thời gian không quá 5 năm từ ngày sản xuất, chủ xe chỉ nộp hồ sơ mà không phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm.
Từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ sở đăng kiểm sẽ cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải cho chủ xe trong 3 giờ làm việc (bản giấy cho chủ xe nộp hồ sơ giấy, bản điện tử cho chủ xe nộp hồ sơ trực tuyến).
Đối với xe máy có thời gian quá 5 năm từ ngày sản xuất, khi thực hiện kiểm định khí thải lần đầu, ngoài hồ sơ, chủ xe phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm. Hồ sơ đạt yêu cầu, cơ sở đăng kiểm sẽ thực hiện kiểm định khí thải, cấp giấy chứng nhận kiểm định.
Với xe kiểm định khí thải định kỳ, cần phải xuất trình giấy đăng ký xe, giấy tờ về chủ xe, bản chính giấy chứng nhận cải tạo xe (đối với xe cải tạo mà dữ liệu về cải tạo của xe chưa chia sẻ được từ Cục Đăng kiểm)