Theo MacRumors, trong khi thị trường điện thoại gập đang dần bão hòa với các thiết kế quen thuộc, những thông tin rò rỉ mới nhất về chiếc iPhone màn hình gập của Apple đã gây bất ngờ khi sở hữu tỷ lệ khung hình rộng. Đáng chú ý, thiết kế này có sự tương đồng lớn với mẫu Pura X Max mà Huawei chuẩn bị ra mắt tại Trung Quốc vào tuần tới.
Cả Apple và Huawei dường như đang theo đuổi tỷ lệ khung hình rộng, một hướng đi từng được Oppo áp dụng trên dòng Find N5.
Ngoài ra, theo một số nguồn tin, Apple dự kiến sẽ không gọi thiết bị này là iPhone Fold như đồn đoán mà sẽ sử dụng tên gọi iPhone Ultra để phân cấp dòng sản phẩm siêu cao cấp.
Mẫu iPhone gập dự kiến sẽ xuất hiện cùng dòng iPhone 18 Pro vào tháng 9 tới với giá bán khởi điểm từ khoảng 2.000 USD (tương đương hơn 50 triệu đồng). Về màu sắc, thiết bị được cho là vẫn duy trì các tùy chọn truyền thống như Xám không gian (Space Gray), Đen, Bạc và Trắng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo PhoneArena, sau bao ngày chờ đợi, Samsung cuối cùng đã xác nhận sẽ mang một trong những tính năng AI (trí tuệ nhân tạo) hấp dẫn nhất của dòng Galaxy S26 xuống các thế hệ điện thoại cũ, khởi đầu là dòng Galaxy S25.
Theo đó, trong sự kiện ra mắt Galaxy S26 đầu năm nay, bên cạnh những nâng cấp về phần cứng, Samsung đã khiến giới công nghệ trầm trồ với tính năng Sàng lọc cuộc gọi bằng AI (Call Screening). Tuy nhiên, sự độc quyền này sắp kết thúc khi gã khổng lồ Hàn Quốc chuẩn bị tung ra bản cập nhật One UI 8.5 ổn định cho dòng flagship của năm 2025.
Với Call Screening, hãy tưởng tượng bạn đang trong một cuộc họp quan trọng và có số lạ gọi đến. Thay vì phải bối rối ngắt máy, bạn chỉ cần nhấn nút 'Hỗ trợ cuộc gọi' (Call assist) > 'Sàng lọc' (Screen). Ngay lập tức, một trợ lý AI sẽ thay bạn trả lời: "Xin chào, tôi là trợ lý ảo. Bạn vui lòng giới thiệu tên và mục đích cuộc gọi?". Toàn bộ câu trả lời của người gọi sẽ được chuyển thành văn bản và hiển thị ngay trên màn hình để bạn quyết định xem có nên nhấc máy hay không.
Ban đầu, các quản trị viên của Samsung từng ám chỉ tính năng này yêu cầu phần cứng chuyên biệt của S26. Tuy nhiên, trước sức ép và sự mong mỏi quá lớn từ cộng đồng người dùng Galaxy, Samsung đã quyết định tối ưu hóa phần mềm để đưa Call Screening lên các dòng máy cũ. Đây là minh chứng cho việc Samsung đang nỗ lực mang trải nghiệm AI đồng nhất đến với hệ sinh thái của hãng.
Các nguồn tin rò rỉ uy tín cho biết quá trình thử nghiệm One UI 8.5 đang đi vào giai đoạn cuối. Bản Beta 10 dự kiến sẽ ra mắt vào cuối tháng 4.2026, mở đường cho phiên bản ổn định được phát hành rộng rãi vào khoảng tháng 5. Ngoài dòng S25, những người anh em màn hình gập như Z Fold7 và Z Flip7 cũng nằm trong danh sách 'lên đời' tính năng hữu ích này.
Với việc nâng cấp này, Galaxy S25 sẽ trở nên đáng mua hơn bao giờ hết khi sở hữu những tính năng thông minh tương đương với thế hệ S26, giúp người dùng tiết kiệm thời gian và tránh xa những phiền toái từ vấn nạn cuộc gọi rác đang hoành hành.
Nguồn: https://thanhnien.vn/galaxy-s25-sap-co-tinh-nang-loc-cuoc-goi-rac-giong-s26-185260407095438151.htm
Khoa Học Công Nghệ
Robot, drone, thiết bị tự động hóa ở triển lãm quốc tế Gia Lai

Ngày 16-7, Hội Tự động hóa Việt Nam và Trường đại học Quy Nhơn cùng các cơ quan chức năng tổ chức hội nghị và triển lãm quốc tế về điều khiển và tự động hóa lần thứ 8.
Sự kiện diễn ra từ ngày 16 đến 18-7 tại Trường đại học Quy Nhơn, với các hoạt động chính: hội nghị khoa học, diễn đàn doanh nghiệp và triển lãm giới thiệu các công nghệ mới, sản phẩm mới về tự động hóa.
Tiến sĩ Nguyễn Quân - nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam - cho hay sự kiện thể hiện mong muốn đồng hành của cộng đồng tự động hóa trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.
Cụ thể hóa các chính sách của Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển công nghệ chiến lược.
Theo ban tổ chức, sự kiện nhằm xây dựng một diễn đàn khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tế, có uy tín trong lĩnh vực điều khiển và tự động hóa. Đây cũng là nơi các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế giới thiệu kết quả công trình nghiên cứu để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm học thuật.
Với chủ đề "Tự động hóa thông minh - công nghệ chiến lược của kỷ nguyên số", hội nghị tập trung thảo luận các lĩnh vực thời sự, như: điều khiển robot công nghiệp, robot di động, xe tự hành.
Hội nghị cũng tập trung vào lĩnh vực điện tử y sinh và tự động hóa trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tự động hóa trong nông nghiệp.
Trao đổi các vấn đề liên quan trí tuệ tự thân của robot; nhà máy thông minh, thành phố thông minh; công nghệ thông minh, đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực của nền kinh tế. Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ sinh thái để phát triển robot và drone "Make in Vietnam".
Tại triển lãm công nghệ và sản phẩm tiêu biểu, các gian hàng trưng bày các sản phẩm mới, giải pháp công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực công nghệ tự động hóa.
Nhiều sản phẩm như cánh tay robot, drone cứu hộ, nhà thông minh… thu hút sự quan tâm tìm hiểu của nhiều người dân, học sinh, sinh viên.
PGS.TS Đoàn Đức Tùng - Hiệu trưởng Trường đại học Quy Nhơn - nói thông qua sự kiện, nhà trường mong muốn thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Khoa Học Công Nghệ
Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược

Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhận định Việt Nam đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển công nghệ chiến lược (CNCL).
Sau 9 tháng ban hành Danh mục Công nghệ chiến lược và tiến hành triển khai, ngoài việc chúng ta đã nghiên cứu phát triển được một số sản phẩm chiến lược, nhìn thấy nhiều hạn chế và tồn tại, điều quan trọng nhất là chúng ta đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển CNCL Việt Nam.
Thứ nhất: Ban hành danh mục CNCL phải kèm theo sản phẩm CNCL, công nghệ lõi, và phải sát với nhu cầu phát triển và lợi thế của đất nước.
CNCL là các hướng công nghệ ưu tiên; Sản phẩm CNCL là đầu ra để tạo lập thị trường; Công nghệ lõi là năng lực làm chủ và tự chủ công nghệ.
Có một điểm chú ý quan trọng là, xây dựng danh mục CNCL, sản phẩm CNCL, công nghệ lõi phải xuất phát từ các bài toán lớn quốc gia, chứ không phải xuất phát từ công nghệ. Công thức đúng là đi từ bài toán quốc gia tới sản phẩm chiến lược rồi tới công nghệ. Chương trình CNCL quốc gia phải bao quát đầy đủ các khâu từ nghiên cứu khoa học, tới phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, sản xuất đến thị trường, chứ không rời rạc như trước đây. Và phải kết hợp được cả hai công cụ của nhà nước là ngân sách và chính sách tạo thị trường. Thiết kế chương trình CNCL trước đây tập trung vào công nghệ và ngân sách là chính, chưa chú trọng các chính sách tạo thị trường.
Về danh mục CNCL, Chính phủ đã ban hành tháng 6/2025 và sẽ sửa đổi sau một năm ban hành. Chúng ta sẽ bổ sung các công nghệ chiến lược thuộc các dòng sản phẩm đang là chủ lực của Việt Nam, cả xuất khẩu và trong nước. Làm chủ các công nghệ lõi sẽ vừa tăng năng lực cạnh tranh, vừa tạo giá trị tăng thêm cho các sản phẩm chủ lực. Danh mục CNCL có thể chia làm ba loại, có ngắn hạn, có trung hạn và có dài hạn: 1-3 năm, 3-5 năm và 5-10 năm. 70-80% ngân sách và nguồn lực sẽ dành cho loại 1 và 2, như vậy sẽ vừa có kết quả nhanh, vừa xây năng lực dài hạn.
Kèm theo danh mục CNCL là danh mục các sản phẩm CNCL, danh mục các công nghệ lõi và lộ trình làm chủ đối với từng CNCL. Các sản phẩm CNCL phải kèm theo yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, các công nghệ lõi phải tự chủ. Các danh mục này mới là mục tiêu cụ thể cần đạt được của chương trình CNCL, chứ không phải danh mục CNCL, nó hướng khoa học công nghệ tới mục tiêu cuối cùng là công nghệ lõi, sản phẩm và thị trường. Các doanh nghiệp tập trung vào các sản phẩm CNCL, các viện trường vào công nghệ lõi.
Thứ hai: Ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về CNCL, công nghệ lõi và sản phẩm CNCL.
Tiêu chí lựa chọn CNCL cần phải được ban hành để lựa chọn hướng đi cho đúng.
Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn phải đi trước (có thể là pre-standard) để định hướng phát triển công nghệ, tạo lập thị trường và thúc đẩy thương mại hóa.
Có tiêu chuẩn mới có thể đấu thầu, nghiệm thu và mua sắm. Tức là tiêu chuẩn giúp hình thành thị trường. Tiêu chuẩn là công cụ dẫn dắt công nghệ. Tiêu chuẩn cũng là điều kiện để sản xuất loạt. CNCL thường mới, rủi ro cao, nên tiêu chuẩn sẽ giúp kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường. Tiêu chuẩn cũng giúp tham gia chuỗi toàn cầu.
Nhà nước phải ban hành tiêu chuẩn, gắn tiêu chuẩn với mua sắm công và đồng bộ tiêu chuẩn với chính sách thị trường. Không có tiêu chuẩn thì không có thị trường cho CNCL.
Thứ ba: Tìm ra một số cách triển khai CNCL mới có tính đột phá, ngoài các cách truyền thống.
1. Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho các sản phẩm CNCL. Nhà nước đặt mua số lượng đủ lớn, xây dựng chính sách để tạo ra nhu cầu lớn trên thị trường, cơ chế thử nghiệm nhanh đối với CNCL, sau đó doanh nghiệp bỏ tiền nghiên cứu. Đây là cách hỗ trợ đầu ra, dùng thị trường để phát triển CNCL. Cũng bằng cách này, nhà nước thu hút được đầu tư nghiên cứu từ khu vực xã hội, góp phần quan trọng đạt mục tiêu 2% GDP cả nước chi cho nghiên cứu, tức gấp 5 lần con số 2% ngân sách nhà nước chi cho khoa học công nghệ. Trung Quốc rất thành công theo cách này: với xe điện họ trợ giá; với UAV họ cho phép nhiều ứng dụng trong nông nghiệp; với năng lượng mặt trời, họ bắt buộc một tỷ lệ năng lượng tái tạo. Các sản phẩm CNCL như UAV, camera AI, thiết bị 5G, trợ lý ảo AI, blockchain có thể làm theo cách này.
2. Nhà nước chọn mặt gửi vàng, tức chọn tổng thầu công nghệ. Đối với các chương trình công nghệ quốc gia, dự án công nghệ lớn, rất phức tạp, dài hạn, 5-10 năm hoặc lâu hơn, nhà nước chọn nhà thầu công nghệ chính, chọn doanh nghiệp/viện trường chủ lực phát triển CNCL, và cấp ngân sách hoặc không cấp ngân sách nhưng cam kết đầu ra. Chương trình tên lửa của chúng ta là thực hiện theo cách doanh nghiệp tự bỏ tiền nghiên cứu, nhà nước cam kết mua nếu đạt tính năng tương đương và giá thấp hơn so với nhập ngoại. Còn chương trình sản xuất chip bán dẫn lại theo cách nhà nước cấp ngân sách. Các chương trình lớn khác như như lò hạt nhân module nhỏ, vũ trụ, lòng đất có thể làm theo cách này.
3. Nhà nước là người mua đầu tiên. Cách này áp dụng với các sản phẩm CNCL chưa có thị trường lớn, công nghệ lại khá phức tạp. Cần nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và sau đó là người mua đầu tiên. Nhà nước xác định sản phẩm hoặc bài toán CNCL, mời các doanh nghiệp/viện/trường/startup tham gia. Không chỉ định ai. Chọn 3-5 nhóm làm sản phẩm mẫu, rồi giữ lại 1-2 đội có sản phẩm mẫu tốt nhất để tài trợ làm tiếp đến sản phẩm thương mại. Nếu công nghệ đạt yêu cầu, nhà nước thành người mua đầu tiên, tạo thành thị trường đầu tiên cho doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai người mua đầu tiên là một trong những công cụ rất mạnh để phát triển CNCL. Các nước đã thành công với cách này là Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU. Cách này có thể áp dụng với vệ tinh tầm thấp, chế biến đất hiếm, robot nông nghiệp.
4. Phát triển CNCL cần sự đồng hành của người dùng
Sản phẩm CNCL cần có môi trường thử nghiệm, sự phản hồi liên tục của người dùng, đồng sáng tạo của người dùng. Có nghĩa là người dùng tham gia từ đầu, không phải xuất hiện ở cuối. Sự tham gia tích cực, hiệu quả và từ đầu của các đơn vị sử dụng sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của các sản phẩm chiến lược. Bởi vậy, chương trình CNCL phải được thiết kế có sự tham gia của người dùng từ đầu.
Thứ tư: Ban hành kế hoạch hành động và giao nhiệm vụ
Xác định từng sản phẩm CNCL, từng công nghệ lõi sẽ phát triển theo cách nào, giao ai, bao giờ xong, cùng các điều kiện đi kèm như nhu cầu thị trường, nhà nước là người mua đầu tiên, ngân sách.
Sau khi mục tiêu, lộ trình, tiêu chuẩn, cách làm, cách đánh giá, thị trường và ngân sách đã được xác định thì việc giao bộ ngành chủ trì phát triển các sản phẩm CNCL là nên làm. Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) giữ vai trò điều phối quốc gia, kiến trúc, thiết kế chương trình CNCL, phân bổ ngân sách và đánh giá hiệu quả.
Thứ năm: Ban hành bộ tiêu chí đánh giá
Xác định bộ tiêu chí đánh giá tác động của CNCL đối với kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả của chương trình CNCL, hay gọi là hạch toán như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, là việc bắt buộc phải làm.
Tiêu chí phải được thiết kế theo 4 tầng: Input (đầu vào) - Output (đầu ra trực tiếp, như bài báo, công nghệ) - Outcome (kết quả, như doanh thu) - Impact (tác động, như năng suất, tăng trưởng). Chương trình CNCL phải được đánh giá theo bộ tiêu chí phản ánh đầy đủ kết quả từ nghiên cứu đến thị trường, làm cơ sở cho việc phân bổ, điều chỉnh và giám sát nguồn lực.
Một số việc cần làm ngay
Thứ nhất, đối với các sản phẩm CNCL đã được các doanh nghiệp Việt Nam phát triển đạt tiêu chuẩn, cần có ngay chương trình mua sắm của chính phủ, và chính sách dùng hàng Việt Nam để tạo thị trường cho các sản phẩm CNCL này, như UAV, camera AI, 5G, trợ lý ảo.
Thứ hai, cho phép hình thành một số khu thử nghiệm đặc biệt, tại đây các thử nghiệm không phải xin phép. Các sandbox hiện nay rất chậm vì các thủ tục xin phép và mọi người cũng ngại quyết.
Thứ ba, ở cấp bộ ngành và địa phương, cần hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và giao các trung tâm này đặt hàng doanh nghiệp/viện trường giải quyết các bài toán lớn của bộ ngành và địa phương góp phần trực tiếp vào tăng trưởng hai con số, chủ yếu theo cách chính quyền tạo thị trường và chính quyền là người mua đầu tiên. Để tránh trùng lặp và phổ biến nhanh ra toàn quốc các giải pháp thành công, nhà nước thống nhất một nền tảng số dùng chung để quản lý các bài toán và giải pháp.
Thứ tư, về phân bổ ngân sách khoa học công nghệ. Hiện nay, các bộ ngành vẫn phải đăng ký danh mục đề tài qua Bộ KH&CN rồi qua Bộ Tài chính cấp tiền, có đợt 1/đợt 2, tiền đợt 2 về đến người làm có khi đến tháng 6, tháng 7. Chúng ta có thể đổi mới bằng cách cấp một cục - gọi là block funding - vào thẳng quỹ khoa học công nghệ của các bộ ngành, ngay từ đầu năm, để họ chủ động phát triển công nghệ ứng dụng giải quyết các bài toán ngành. Bộ KH&CN giữ nền tảng số quốc gia quản lý các đề tài để tránh trùng lặp, đánh giá hiệu quả, và đảm bảo phù hợp chiến lược khoa học công nghệ từng giai đoạn. Đây là xu thế thế giới, nó giảm đến 80% thủ tục, tăng trách nhiệm các bộ/ngành, gắn được khoa học công nghệ với các bài toán của từng ngành. Quỹ KH&CN quốc gia thuộc Bộ KH&CN sẽ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản, khoa học nền tảng, các đề tài liên ngành, và chương trình CNCL.
Nhà nước tạo ra việc lớn, bài toán quốc gia phải đủ rõ về mục tiêu, quy mô, người mua và mức độ tự chủ, tạo ra thị trường lớn, cơ chế tài chính thông thoáng, nhân sự linh hoạt, xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ chế phân chia lợi ích phù hợp, và việc lớn thì giao tổng thầu công nghệ, thì chúng ta sẽ thu hút được tinh hoa khoa học công nghệ toàn cầu tham gia giải quyết các bài toán lớn của Việt Nam, giúp Việt Nam phát triển và tự chủ CNCL.
Vừa qua, việc triển khai chương trình CNCL chưa được như mong muốn và kỳ vọng lý do chính là do cách tiếp cận, cách thiết kế chương trình chưa tốt, hơn là do thể chế. Nhưng 9 tháng qua đã giúp chúng ta hình thành ra con đường, cách thiết kế chương trình CNCL hiệu quả hơn, như đã trình bày ở trên, để thời gian tới sẽ tạo ra sự thay đổi về chất.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng

