Theo ông Nguyễn Toàn Thắng, Nghị quyết số 29 và Nghị định số 147 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Hệ thống chính sách lần này đã tiếp cận trực diện nhiều nhóm vấn đề khó, phức tạp và tồn đọng trong thực tiễn. Đây đều là các nội dung tác động trực tiếp đến thực tiễn quản lý đất đai tại thành phố hiện nay.
Đặc biệt, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là tháo gỡ khó khăn để khơi thông nguồn lực phát triển nhưng không hợp thức hóa sai phạm, không làm thất thoát ngân sách nhà nước và vẫn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước. Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng mà toàn bộ đội ngũ thực thi tại địa phương cần nghiên cứu kỹ, nắm chắc và triển khai thống nhất trong quá trình thực hiện.
Đối với TP.HCM, sau sắp xếp đơn vị hành chính với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, khối lượng hồ sơ, dự án tồn đọng, chuyển tiếp và các trường hợp có tính chất lịch sử là rất lớn. Phạm vi áp dụng trải rộng trên nhiều địa bàn với các giai đoạn pháp luật khác nhau. Do đó, việc tổ chức tập huấn lần này có ý nghĩa rất thiết thực nhằm thống nhất nhận thức pháp lý, trình tự thực hiện, trách nhiệm phối hợp và phương pháp xử lý giữa các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống.
Song song với việc triển khai các quy định mới nêu trên, hiện nay Sở Nông nghiệp – Môi trường cũng đang tập trung thực hiện nhiệm vụ xây dựng hệ số K trên địa bàn TP.HCM áp dụng từ ngày 1.7.
“Đây là nhiệm vụ có phạm vi rất rộng, tính chất phức tạp và yêu cầu tiến độ đặc biệt khẩn trương, tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực như tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; đấu giá quyền sử dụng đất; tính thuế, phí, lệ phí; xử phạt vi phạm hành chính; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”, ông Nguyễn Toàn Thắng cho hay.
Song song với việc tập huấn, thành phố đang tập trung thực hiện hai nhiệm vụ: Một là, đã chuyển danh sách các dự án vướng mắc sang Thanh tra Thành phố rà soát làm cơ sở hỗ trợ giải quyết. Hai là, chuẩn bị tổ chức hội nghị sơ kết công tác tháo gỡ khó khăn. Tính đến nay đã giải quyết được khoảng 80 – 90% trong số hơn 800 vụ việc tồn đọng cũ, thời gian tới sẽ công bố danh sách mới để tiếp tục tập trung tháo gỡ.
“Quán triệt chỉ đạo của Bí thư Thành ủy, đợt triển khai này cũng đồng thời là đợt rà soát, sát hạch năng lực cán bộ. Quan điểm của lãnh đạo thành phố cũng như lãnh đạo Sở rất rõ ràng: không còn chỗ cho tư duy “giữ ghế”. Cán bộ từ cấp lãnh đạo sở đến phường, xã sẽ được đánh giá bằng sản phẩm thực tế trong 1 – 2 tháng tới. Cán bộ nào thấy không đáp ứng được công việc cần mạnh dạn xin rút, nhường vị trí cho người khác. Những trường hợp chỉ “nói nhiều, làm ít” sẽ được điều chuyển sang bộ phận nghiên cứu. Bản thân tôi là người đứng đầu cũng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm túc tinh thần này”, ông Nguyễn Toàn Thắng thẳng thắn nói.
Bà Nguyễn Thị Hà Phương, đại diện Bộ Nông nghiệp – Môi trường, cho biết TP.HCM là địa phương đầu tiên thực hiện tập huấn chính sách này. Đến nay không chỉ có Nghị quyết 29 mà trước đó đã có nhiều Nghị quyết, Nghị định khác để tháo gỡ khó khăn cho trên 4.000 dự án trên toàn quốc.
Dù vậy, Nghị quyết 29 không phải là liều thuốc tiên để có thể tháo gỡ cho các dự án nên sẽ còn mở rộng thêm, rà soát thêm để có thêm các chính sách tháo gỡ, nghị quyết đặc thù cho từng nhóm dự án cụ thể.
Đối với Nghị quyết 29 và Nghị định 147 lần này, chỉ tháo gỡ đối với các dự án có lỗi của cơ quan quản lý nhà nước, để hạn chế tối đa khiếu kiện liên quan đến các dự án FDI. Một nguyên tắc tối quan trọng là bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của bên thứ ba ngay tình là người dân.
Nhóm nguyên tắc tiếp theo là nhà đầu tư có đủ năng lực, hoàn thành nghĩa vụ tài chính mới cho áp dụng chính sách tháo gỡ. Những lỗi do doanh nghiệp gây ra khiến dự án không thể triển khai có thể thu hồi.
Đồng thời cho phép tháo gỡ vướng mắc chạy song song với xử phạt vi phạm hành chính, thay vì phải chờ xử song mới triển khai tháo gỡ vướng mắc như trước đây. Bởi hiện nay số lượng dự án vướng mắc rất nhiều, nếu chờ xử lý xong các cá nhân tổ chức mới tháo gỡ thì rất lâu.
Đặc biệt tháo gỡ vướng mắc khó khăn nhưng tuyệt đối không phát sinh sai phạm mới. Nếu tháo gỡ được hơn 4.000 dự án này sẽ có trên 3,3 triệu tỉ đồng được đưa vào nền kinh tế.
Sau khi lắng nghe các ý kiến từ doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế tại Hội thảo "Tín dụng bất động sản, kiểm soát thế nào để phát triển" do Báo Thanh Niên tổ chức sáng 17.4, ông Đỗ Xuân Trung, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 2, khẳng định cho đến nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không có chính sách hạn chế tín dụng cho bất động sản. Vấn đề cần đặt ra là kiểm soát thế nào để không tạo ra điểm nghẽn hay không lỏng quá để tạo ra rủi ro. Đối với những dự án bất động sản có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu vẫn được tạo điều kiện để thực hiện.
Theo ông Trung, NHNN đã có những quy định cụ thể về kiểm soát tỷ lệ rủi ro cho vay đối với bất động sản và luôn lắng nghe thông tin từ thị trường để điều chỉnh chính sách cho hợp lý. Chẳng hạn, năm 2025, NHNN giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng và đã đáp ứng được nhu cầu thị trường. Về lãi suất, từ quý 4/2025 lãi suất bắt đầu điều chỉnh theo xu hướng tăng. Mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã trao đổi với các ngân hàng và các đơn vị cũng đồng thuận giảm lãi suất. Trên cơ sở đó và NHNN cũng có các công cụ kiểm soát khác nhằm đảm bảo lãi suất phù hợp với thị trường.
Ông Đỗ Xuân Trung chia sẻ thêm: NHNN cũng xác định bất động sản là ngành có nhiều đóng góp trong GDP. Cơ quan quản lý sẽ tiếp tục có cơ chế kiểm soát đối với thị trường bất động sản cũng như có các giải pháp tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Chính sách tiền tệ vẫn được thực hiện chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính sách khác nhằm đảm bảo kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đối với bất động sản, đã có các quy định tỷ lệ an toàn vốn, hệ số rủi ro như áp dụng các khoản cho vay trong lĩnh vực bất động sản với hệ số rủi ro cao nhất 200%. Nhưng đơn vị này đang nghiên cứu để áp dụng hệ số rủi ro cho vay nhà ở xã hội từ 20 - 50%... Đồng thời, định hướng chung của Chính phủ là phải xây dựng thị trường vốn như trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn cho nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng. Ngoài ra, ngân hàng cũng đang thực hiện đẩy mạnh chương trình cho vay đối với dự án nhà ở xã hội, người có thu nhập thấp... để đảm bảo hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.
Theo Bộ Công thương, Quyết định được ban hành trên cơ sở các quy định hiện hành về kinh doanh xăng dầu. Đồng thời theo đề nghị của Công ty TNHH xây dựng và thương mại dịch vụ Hoàng Hà và Công ty cổ phần thương mại Dầu khí Cửu Long về việc đã xin trả lại Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu được gửi về Bộ Công thương trước đó.
Cụ thể, Quyết định thu hồi giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu đối với Công ty TNHH xây dựng và thương mại dịch vụ Hoàng Hà, có trụ sở chính tại Lô T03-VP02, số 35 phố Lê Văn Thiêm, phường Thanh Xuân, Hà Nội. Công ty có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0101207071, được cấp đăng ký lần đầu ngày 29.7.2010 và đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 11.8.2023.
Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu bị thu hồi mang số 617-TNPP/QĐ-BCT, được Bộ Công thương cấp ngày 23.8.2024 và có giá trị đến hết ngày 23.8.2029.
Thứ 2 là Quyết định thu hồi giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu đối với Công ty cổ phần thương mại dầu khí Cửu Long có địa chỉ trụ sở chính tại 64/20A-67/6A, Phó Cơ Điều, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long).
Công ty có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1500498480 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (nay là Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long) cấp, đăng ký lần đầu ngày 11.12.2007, đăng ký thay đổi lần thứ 32 ngày 3.12.2024.
Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu của Công ty dầu khí Cửu Long số 632- TNPP/QĐ-BCT ngày 17.1.2025, có giá trị đến hết ngày 17.1.2030.
Như vậy, số lượng thương nhân xin trả lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu liên tiếp gia tăng trong thời gian qua. Lúc cao điểm, cả nước có 330 thương nhân phân phối, đến nay chỉ còn chưa tới 250 thương nhân.
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.