Một buổi sáng, chị T., sau khi thấy con gái 8 tuổi nhất quyết không chịu ăn sáng đã phải dùng chiêu cuối, nói “con không ăn thì mẹ sẽ buồn, mẹ sẽ giận, mẹ sẽ không đưa đi học nữa”. Bé gái òa khóc, ăn trong nước mắt, rồi đến trường với đôi mắt sưng húp.
Giống như chị T., nhiều cha mẹ thường rơi vào mâu thuẫn. Muốn xây cho con một hệ điều hành nội tâm, muốn con độc lập, tự chủ, nhưng lại “cài” cho con một hệ điều khiển từ bên ngoài.
Hệ điều hành nội tâm (internal operating system) và hệ điều khiển (control system) là 2 thứ trông giống nhau một cách đáng ngạc nhiên, đặc biệt khi cả hai đều “chạy tốt” ở bề mặt.
Đứa trẻ có hệ điều hành biết tự vận hành từ bên trong sẽ biết tự quan sát, tự cảm nhận, tự quyết định, tự điều chỉnh.
Đứa trẻ có hệ điều khiển cũng biết làm nhiều việc, cũng ngoan, học giỏi, có trách nhiệm, nhưng bên trong không phải là một bộ máy tự vận hành, mà là một loạt “nút nhấn” được cài đặt sẵn và sẵn sàng “nhận tín hiệu” từ bên ngoài.
Nhìn từ ngoài, hai đứa trẻ có thể giống nhau. Nhưng bên trong là hai vũ trụ khác hẳn.
Khi chúng ta dạy con bằng dọa nạt, đòn roi, hay những đòn trừng phạt bằng cảm xúc như nếu không làm điều này, điều kia thì “mẹ không thương con nữa”, hệ thần kinh của đứa trẻ sẽ trả giá nặng nề.
Theo lý thuyết đa phế vị (Polyvagal Theory) mà Stephen Porges phát triển, hệ thần kinh tự chủ của chúng ta liên tục quét môi trường để đánh giá an toàn hay nguy hiểm, một tiến trình gần như tự động gọi là cảm nhận an nguy. Khi trẻ cảm nhận nguy hiểm, cho dù là đe dọa thể chất hay đe dọa mất kết nối với người mình phụ thuộc, hệ thần kinh chuyển sang chế độ giao cảm để sẵn sàng chiến đấu hoặc chạy trốn. Nếu mối đe dọa quá lớn và trẻ không thể chống cự cũng không thể chạy thoát, hệ thần kinh trượt sâu hơn vào chế độ đóng băng và khuất phục.
Không chỉ vậy, những trải nghiệm này không hề hình thành ở trẻ bài học đạo đức nào, mà sẽ điều kiện hóa những phản xạ kiểu “khi người quan trọng nhất đời mình tỏ ra lạnh lẽo hay giận dữ, mình phải làm bất cứ điều gì để được kết nối lại”. Phản xạ này lặp lại hàng ngàn lần qua tuổi thơ sẽ trở thành một lối mòn thần kinh hoạt động trong vô thức. Đó chính là một nút điều khiển, nhiều nút sẽ tạo thành hệ điều khiển, không phải hệ điều hành.
Không phải cha mẹ nào cũng dùng đòn roi. Nhiều cha mẹ tinh tế hơn nhiều, và chính vì vậy những “nút điều khiển” họ cài vào con còn khó tháo gỡ hơn.
Có những câu nói nghe chí lý và rất có trách nhiệm mà cha mẹ thường nói như “con là anh cả, con phải làm gương”; “nhà mình chỉ trông vào con thôi đấy”; “ba mẹ già rồi, còn lại trông cả vào con”; “con không học là phụ công ba mẹ”… Mỗi câu mang tính điều kiện như vậy là một sợi dây vô hình buộc vào phần trách nhiệm, phần đạo hiếu, phần tình thương trong con. Nhưng cái giá là đứa trẻ phải học cách xem nhẹ nhu cầu chính đáng của bản thân. Con học được rằng mong muốn của riêng nó là ích kỷ, là không đáng kể, là thứ phải hy sinh.
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản, gọi hiện tượng này là sự hình thành các “điều kiện của giá trị bản thân”. Đứa trẻ dần dần nhập tâm một thông điệp ngầm: mình chỉ có giá trị, chỉ đáng được yêu thương khi đáp ứng một số điều kiện. Dần dần, nó mất dần khả năng lắng nghe tiếng nói từ bên trong, nó mất khả năng biết được mình thực sự cảm thấy gì, muốn gì, cần gì…
Những “nút điều khiển” ấy không hề biến mất khi đứa trẻ lớn lên. Chúng được mỗi người mang theo vào đời, và trở thành những “móc câu” mà cuộc đời, hoàn cảnh… có thể lợi dụng vào để giật dây.
Một chàng trai trong độ tuổi 30 tham vấn với tôi, anh làm kế toán trưởng của một công ty lớn. Anh kể “Không hiểu sao mỗi lần sếp tỏ ra không hài lòng, em lại cảm thấy như bầu trời sập xuống. Em làm mọi thứ để lấy lòng sếp, kể cả những việc trái với giá trị của em”. Quay về thời ấu thơ, anh kể, hồi 5 tuổi, anh đã từng đứng chết lặng trước ánh mắt lạnh lùng của người cha, mỗi khi anh không đạt kỳ vọng.
Chuyển từ hệ điều khiển sang hệ điều hành không phải chuyện một sớm một chiều, càng không phải là một kỹ thuật. Trước tiên, cha mẹ cần chuyển hóa.
Điều đầu tiên là cha mẹ nhận ra mình đang cài đặt điều gì trong nội tâm con.
Điều thứ hai là học cách đặt giới hạn mà không cần đến sợ hãi. Trẻ con cần giới hạn, điều này là tất nhiên. Nhưng giới hạn hợp lý tự nhiên dựa trên hệ quả thực tế khác hẳn với giới hạn áp đặt qua sự mặc cả bằng tình cảm của cha mẹ.
Ví dụ, con không ăn sáng thì con sẽ đói vào giờ ra chơi, đó là hệ quả tự nhiên, con học được mối liên hệ giữa hành động và kết quả. Còn nếu không ăn sáng thì “mẹ không thương con nữa” không phải là giới hạn, đó là “tống tiền” tình cảm, con sẽ học được rằng tình yêu có thể bị dùng để khống chế người khác.
Điều thứ ba, và có lẽ khó nhất, là tin vào khả năng tự điều chỉnh của con. Khi ta không vội can thiệp, không vội sửa sai, không vội cứu con khỏi mọi khó khăn nhỏ, ta đang cho con cơ hội phát triển năng lực tự nhận thức và tự chịu trách nhiệm. Cây nào quả đó, hoa quả ra theo mùa. Đứa trẻ cần thời gian, không gian, và niềm tin của cha mẹ để nội lực tự nảy nở từ bên trong. Nội lực không thể được cài đặt từ bên ngoài, nó chỉ có thể được nuôi dưỡng để tự lớn lên bên trong trẻ.
Ngày 11.5, Sở GD-ĐT tỉnh Khánh Hòa cho biết kỳ tuyển sinh lớp 10 THPT công lập năm học 2026 - 2027 toàn tỉnh có 26.608 học sinh đăng ký dự tuyển theo thống kê nguyện vọng lần 2, trong khi tổng chỉ tiêu toàn tỉnh chỉ là 19.570 học sinh với 447 lớp.
Có 24.712 học sinh đăng ký nguyện vọng 1 trực tiếp tại trường, trong đó 495 em thuộc diện tuyển thẳng. Ngoài ra, có 1.896 học sinh đăng ký dự tuyển vào Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, phường Nam Nha Trang và Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, phường Đông Hải, với nguyện vọng 1 trở về trường THPT công lập đại trà nếu không trúng tuyển trường chuyên.
So với đợt đăng ký lần 1, tổng số hồ sơ giảm 618. Theo Sở GD-ĐT tỉnh Khánh Hòa, nguyên nhân là do học sinh dân tộc thiểu số đăng ký vào trường phổ thông dân tộc nội trú thay đổi lựa chọn, một số học sinh thuộc diện tuyển thẳng, một số học sinh xác nhận theo học nghề.
Nhiều trường ghi nhận lượng hồ sơ giảm so với đợt 1: THPT Chu Văn An (phường Bảo An) giảm nhiều nhất với 288 hồ sơ, tiếp đến là THPT Lý Tự Trọng (phường Nha Trang) giảm 100, THPT Phạm Văn Đồng (phường Nha Trang) giảm 78, THPT Nguyễn Văn Trỗi (phường Nha Trang) giảm 23, THPT Hoàng Hoa Thám (xã Diên Khánh) giảm 27.
Hai trường chuyên cũng ghi nhận lượng hồ sơ giảm nhẹ. Trong đó, Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, phường Nam Nha Trang, giảm 16; Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, phường Đông Hải, giảm 30. Dù vậy, số lượng đăng ký tại các trường này vẫn ở mức cao.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tại Khánh Hòa dự kiến diễn ra ngày 28 và 29.5, kết quả tuyển sinh công bố trước ngày 30.6.
Ngày 13/4, ông Ung Đình Hiền, Chủ tịch UBND xã Vạn Tường (tỉnh Quảng Ngãi), cho biết lực lượng công an xã đang điều tra, xử lý vụ nữ sinh lớp 7 của Trường THCS Bình Thuận bị hành hung.
“Ngoài việc chỉ đạo điều tra, xử lý vụ việc, tôi cũng yêu cầu ban giám hiệu nhà trường cử giáo viên phối hợp với gia đình để theo dõi sức khỏe, động viên tinh thần nữ sinh này”, ông Hiền thông tin.
Theo ông Hiền, kết quả xác minh ban đầu của Trường THCS Bình Thuận cho thấy, sự việc xảy ra lúc 11h15 ngày 11/4. Thời điểm này, em D.T.K.B. (lớp 7A) và em Đ.T.K.T. (lớp 7C) hẹn nhau ra cổng trường để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn.
Khi 2 nữ sinh nói chuyện, Đ.H.M.K. (lớp 9C, anh của T.) đi ngang qua thấy sự việc nên cũng tham gia. Sau một hồi cự cãi, K. đã đánh B.. Sau đó, B.Q.Q. (lớp 9C) cũng lao vào đánh B.. Dù được người dân can ngăn nhưng 2 nam sinh vẫn đánh B. tới tấp.
Bảo vệ nhà trường phát hiện sự việc nên đã can thiệp và đưa B. đến phòng giáo viên để báo cáo. Lúc này nạn nhân có biểu hiện hoảng loạn, liên tục nôn ói nên được đưa đến cơ sở y tế để theo dõi sức khỏe.
“Nữ sinh này bị ảnh hưởng tâm lý, có biểu hiện hoảng loạn. Công an đang điều tra sự việc, tôi sẽ chủ trì cuộc họp để nghe các cơ quan liên quan báo cáo và sẽ chỉ đạo xử lý một cách hợp lý nhất”, ông Hiền thông tin.
Như Dân trí phản ánh, ngày 12/4 trên mạng xã hội xuất hiện clip ghi lại cảnh một số nam sinh đánh tới tấp vào vùng mặt nữ sinh. Thấy vậy, một người đàn ông đã can ngăn nhưng các nam sinh vẫn bất chấp, tiếp tục đánh nữ sinh.
Nữ sinh bị đánh dập môi, bầm mắt, trên cơ thể cũng có nhiều vết bầm, tinh thần hoảng loạn. Gia đình đã đưa nữ sinh này đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe, trình báo sự việc đến công an.
Cựu sinh viên Đại học Leeds, Anh, nằm trong hàng nghìn người trẻ ở châu Âu và Mỹ đang đặt cược vào tấm bằng thạc sĩ để vượt qua thị trường việc làm khắc nghiệt nhất trong nhiều thập kỷ.
Dữ liệu cho thấy lượng đơn đăng ký vào các trường luật tại Mỹ năm nay đã tăng 32% so với mức trung bình 4 năm qua. Còn tại châu Âu, khảo sát của Hội đồng Tuyển sinh Quản lý Sau đại học (GMAC) chỉ ra rằng 3/4 chương trình thạc sĩ kinh doanh có lượng thí sinh tăng vọt so với năm ngoái.
Các chuyên gia chỉ ra nhiều nguyên nhân. Tại Anh, thuế quỹ lương tăng và mức lương tối thiểu cao khiến doanh nghiệp ngại tuyển người mới. Trong khi đó, nhóm cử nhân ra trường lại đối mặt với nguy cơ bị AI thay thế dần.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên Anh đang ở mức cao nhất kể từ năm 2015. Hơn nửa triệu người muốn làm việc đã rời bỏ thị trường lao động để đi học; sinh viên hiện chiếm hơn 1/4 số người không có việc làm, đang khao khát tìm cơ hội.
Kết quả là số lượng ghi danh các khóa học thạc sĩ tại Anh đã tăng 8% trong niên khóa 2024-2025. Các chuyên ngành mang tính thực tiễn cao như tài chính thu hút nhất. Như ở trường Kinh doanh Bayes (London), lượng hồ sơ tăng gần 10% và dự kiến còn tiếp tục tăng mạnh.
Quy mô các lớp học tăng còn kéo theo nhu cầu tuyển dụng giảng viên. Trên LinkedIn, "giảng viên đại học" là công việc tăng trưởng nhanh thứ ba năm nay, vượt qua cả các vị trí như nhà nghiên cứu học máy hay môi giới đầu tư.
Tình hình tại lục địa già cũng không khác biệt. Lauren Amdor, 23 tuổi, chuẩn bị học thạc sĩ ngoại giao tại trường Sciences Po (Paris) vào tháng 8. Cô mong được hưởng lợi từ chương trình thực tập 6 tháng và mạng lưới cố vấn nghề nghiệp của trường, gồm các giảng viên đang là chuyên gia làm việc thực tế.
"Làm sinh viên thì dễ được hỗ trợ nghề nghiệp hơn nhiều so với việc tự bơi bên ngoài", cô nói.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo các tân thạc sĩ sẽ bước ra một thế giới rất khác so với lúc nhập học, đặc biệt với sự bùng nổ của AI. Chẳng hạn, tại Mỹ, bằng luật vốn là "tem bảo đảm" cho sự nghiệp cũng đang lung lay. Các hiệu trưởng trường luật thừa nhận thị trường việc làm cho khóa tốt nghiệp năm 2029 có thể sẽ thay đổi hoàn toàn.
"Không gì khiến sinh viên thất vọng nhanh hơn việc cảm thấy mình bị lừa về triển vọng nghề nghiệp", theo James Leipold, cố vấn cấp cao tại Hội đồng Tuyển sinh Trường Luật (LSAC).
Trong khi đó, Sean Fitzpatrick, CEO của LexisNexis, cảnh báo Mỹ đã đạt đến mức "bão hòa" trong tuyển dụng ngành luật. Quản lý tại những hãng luật lớn dự báo dù khối lượng công việc tăng, họ vẫn giữ nguyên hoặc giảm quy mô nhân sự nhờ tận dụng AI.
Tuy thị trường việc làm ảm đạm, Weston-Edwards vẫn thấy được an ủi vì ở thế "người chọn trường", nộp đâu trúng đó. Khi chọn nơi nhập học, cậu không còn quá bận tâm đến nội dung học thuật hay cấu trúc khóa học. Câu hỏi duy nhất cậu quan tâm là liệu học xong có việc không.
"Khả năng tìm được việc làm là yếu tố số một. Rất nhiều người học thạc sĩ bây giờ vì tình hình thị trường quá tệ, chứ không hẳn vì đam mê nghiên cứu sâu hơn", Weston-Edwards nhận định.