Tối 2.6, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Trần Quốc Hoàng, Phó chủ tịch UBND xã Sơn Kim 1 (tỉnh Hà Tĩnh), xác nhận thông tin trên địa bàn vừa xảy ra vụ lật thuyền khiến 4 người là anh em họ hàng tử vong do bị đuối nước.
Theo thông tin ban đầu, chiều cùng ngày, chị Phạm Thị N. (35 tuổi, ngụ xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) đưa con gái Nguyễn Thùy D. (5 tuổi) về quê ngoại ở xã Sơn Kim 2 (tỉnh Hà Tĩnh) chơi hè.
Đến cuối chiều, chị N. cùng con gái và 2 người cháu là con của anh trai, gồm Phạm Quỳnh A. (12 tuổi), Phạm Minh T. (10 tuổi, cùng ngụ thôn Chế Biến, xã Sơn Kim 2) rủ nhau chèo thuyền ra khu vực sông Ngàn Phố (đoạn chảy qua xã Sơn Kim 1) vui chơi và tắm sông.
Trong lúc di chuyển, chiếc thuyền không may bị lật úp, hất văng cả 4 người xuống dòng nước sâu.
Một số người dân khi ra khu vực sông Ngàn Phố phát hiện có người chới với dưới sông liền hô hoán ứng cứu, đồng thời thông báo khẩn cấp cho chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, vị trí xảy ra tai nạn là khúc sông có mực nước rất sâu, thời điểm phát hiện vụ việc quá muộn, khi lực lượng chức năng và người dân tiếp cận được các nạn nhân, cả 4 người đều đã tử vong do ngạt nước.
Hiện chính quyền địa phương và lực lượng chức năng đã hoàn tất các thủ tục, bàn giao thi thể cho gia đình lo hậu sự.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 19/7, tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, Phó giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi, cho biết các lò nung được phát hiện trong đợt khai quật hai hố với tổng diện tích khoảng 100 m2 tại thành cổ Châu Sa, xã Tịnh Khê.
Các lò còn khá nguyên vẹn, hình bầu dục, dài khoảng 3,5 m, rộng một mét, có niên đại thế kỷ II-III. Cùng với lò nung, đoàn khảo cổ thu được nhiều mảnh ngói, than đốt và các di vật liên quan.
Đợt khai quật được triển khai khẩn cấp sau khi người dân đào hố trồng cây, làm lộ một phần lò nung cổ. Do di tích nằm dưới lớp đất bồi dày khoảng 30 cm và có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hoạt động canh tác, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi đề xuất khai quật khẩn cấp. Trước đó, năm 2006, Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi từng phát hiện một lò nung Chăm tại khu vực này.
"Bốn lò nung được phát hiện đến nay cho thấy thành cổ Châu Sa từng có cả một quần thể lò nung ngói của người Chăm", tiến sĩ Khôi nói.
Theo ông, phát hiện này góp phần làm rõ kỹ thuật sản xuất vật liệu của cư dân Chăm cổ, đồng thời bổ sung tư liệu nghiên cứu giai đoạn chuyển tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh sang sự hình thành các đô thị cổ ở miền Trung.
Thành cổ Châu Sa nằm bên bờ bắc sông Trà Khúc, trải rộng trên địa bàn xã Tịnh Khê và phường Trương Quang Trọng. Công trình được xây dựng trước thế kỷ X với hai vòng thành nội, ngoại, kết nối sông Trà Khúc ra cửa Đại và Sa Kỳ, tạo lợi thế giao thương và phòng thủ.
Sau khi Đại Việt tiếp quản vùng đất này năm 1471, vua Lê Thánh Tông chọn thành Châu Sa làm nơi đặt cơ quan Thừa tuyên (đơn vị hành chính) Quảng Nam, quản lý vùng đất từ Quảng Nam đến Phú Yên.
Được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1994, song nhiều diện tích thành cổ hiện vẫn được người dân canh tác. Theo các chuyên gia, việc chủ yếu sử dụng nông cụ thủ công thay vì máy móc đã giúp nhiều di vật dưới lòng đất được bảo tồn.
Tiến sĩ Khôi đề xuất mở rộng phạm vi khai quật, kết hợp nghiên cứu với bảo tồn, đồng thời quy hoạch lại đất sản xuất quanh khu vực thành cổ.
"Không nên đào lên rồi lấp lại mà có thể làm mái che, hành lang tham quan, phục dựng lò gốm cổ để nơi đây trở thành điểm nghiên cứu, giáo dục và du lịch văn hóa", ông nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 14-4, Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai đã ký thông báo chốt ngày tháo dỡ trạm thu phí T1 (Km10+778) tại phường Tam Phước và trạm thu phí T2 (Km28+450) tại xã Long Phước trên tuyến quốc lộ 51.
Thời gian tháo dỡ từ ngày 18 đến 24-4.
Theo Sở Xây dựng, trong thời gian thực hiện việc tháo dỡ 2 trạm thu phí tại quốc lộ 51 sẽ bị ảnh hưởng do làn đường bị thu hẹp, xảy ra ùn ứ cục bộ và phương tiện di chuyển chậm.
Vì vậy, Sở Xây dựng thông báo đến người điều khiển phương tiện giao thông cập nhật tình hình giao thông và lựa chọn tuyến đường cho phù hợp với lộ trình di chuyển.
Trong quá trình lưu thông qua khu vực tháo dỡ, người tham gia giao thông chấp hành nghiêm hướng dẫn, điều tiết của lực lượng chức năng và hệ thống báo hiệu đường bộ theo quy định.
Trước đó, nhà đầu tư dự án mở rộng quốc lộ 51 là Công ty cổ phần Phát triển đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (BVEC) cũng đã đồng ý bàn giao toàn bộ hiện trạng 2 trạm thu phí T1, T2 còn lại trên quốc lộ 51 để các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai tổ chức tháo dỡ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bộ Tài chính vừa đề xuất loại bỏ sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện (từ ngày 1.7.2026). Đề xuất này tuy có vẻ mang lại sự thông thoáng, giảm chi phí nhưng sẽ đe dọa sự phát triển của công nghiệp ô tô, hệ sinh thái ô tô, quyền lợi người tiêu dùng và các hệ lụy cho phát triển của đất nước ở kỷ nguyên vươn mình.
Trải qua 30 năm phát triển, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia (18 nước) có khả năng tự sản xuất được thương hiệu ô tô nội địa bài bản, sản lượng năm 2025 khoảng 484.500 xe, tăng trưởng 39,1% so với 2024. Theo Tổ chức các nhà sản xuất ô tô quốc tế (OICA), Việt Nam ở vị trí 32 - 34 sản lượng ô tô toàn cầu.
Tổng doanh thu toàn ngành công nghiệp ô tô hơn 1,7 triệu tỉ đồng, đóng góp khoảng 3% tổng sản phẩm nội địa (GDP), nếu tính cả các hệ sinh thái ô tô như sản xuất lắp ráp, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật và thương mại thì mức đóng góp khoảng 5 - 7%.
Hiện ngành ô tô Việt Nam có khoảng 1 triệu lao động, là nhóm có năng suất lao động cao nhất trong các ngành chế biến, chế tạo, gấp khoảng 3 - 5 lần so với các ngành lao động thấp khác.
Dư địa để phát triển ngành công nghiệp ô tô rất lớn khi tỷ lệ sở hữu xe hiện tại mới đạt khoảng 63 xe/1.000 dân, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan 280 xe/1.000 dân, Malaysia 170 xe/1.000 dân. Giai đoạn 2025 - 2030 được xác định là thời kỳ "bùng nổ ô tô hóa" (motorization) khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD hướng tới 7.500 USD vào năm 2030, là cơ hội "vàng" để ngành ô tô Việt Nam bứt phá.
Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng ngành ô tô bình quân 14 - 16%/năm, đây là mức tăng trưởng rất cao, góp phần tăng trưởng GDP cả nước kỳ vọng 2 con số. Quy mô tiêu thụ dự kiến đạt 1 - 1,1 triệu xe năm 2030 với đóng góp GDP và vai trò ngành công nghiệp lên mức 7% - 9% GDP hoặc cao hơn, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu nội địa. Công nghiệp hỗ trợ với mức nội địa hóa 55 - 60%, tạo tiền đề để xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt giá trị 14 tỉ USD.
Với tiềm năng lớn, ngành ô tô Việt Nam cần một cuộc cách mạng về chính sách và đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) để có thể tiến vào tốp 10 quốc gia sản xuất ô tô thế giới và làm chủ công nghệ lõi (ICE, PIN, EVCU).
Đầu tiên, Việt Nam cần thay đổi chính sách để tạo điều kiện phát triển, chuyển từ "lắp ráp" sang "nghiên cứu R&D và sản xuất" như duy trì "lá chắn" kỹ thuật giữ ô tô trong danh mục kinh doanh có điều kiện nhưng chuyển sang hậu kiểm minh bạch. Đồng thời, sử dụng rào cản kỹ thuật như khí thải Euro 6, 7, tiêu chuẩn an toàn để ngăn chặn xe công nghệ cũ, giá rẻ tràn vào.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần ưu đãi đặc thù cho công nghệ lõi. Với xe ô tô truyền thống, nhà nước có thể hỗ trợ trực tiếp cho các dự án sản xuất động cơ, như mô hình Kim Long Motor hợp tác sản xuất, xuất khẩu động cơ. Còn với xe điện, ưu đãi đặc thù có thể tập trung vào sản xuất pin và hệ điều hành EVCU.
Chính sách thuế quan cũng nên áp dụng linh hoạt, trong đó mức thuế nhập khẩu 0% cho linh kiện phục vụ sản xuất trong nước chưa làm được, đồng thời bảo hộ có thời hạn cho linh kiện đã nội địa hóa đạt chuẩn.
Để đạt tốp 10, Việt Nam phải nâng tỷ lệ đầu tư cho R&D lên mức đột phá, từ 0,43% GDP tăng lên mức 2 - 4% doanh thu, tương đương các nước phát triển, thông qua các quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của nhà nước.
Ngoài ra, nhà nước cũng cần hỗ trợ làm chủ công nghệ thông qua việc giúp doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm sản phẩm mới và làm chủ các tiêu chuẩn quốc tế, đào tạo nhân lực chuyên sâu về động cơ ô tô, pin EVCU-AI…
Ô tô là "ngành công nghiệp nền tảng", đóng vai trò là ngành trung tâm, dẫn dắt nhiều ngành khác phát triển, kéo theo chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp và chuỗi dịch vụ kỹ thuật - thương mại. Nếu mất đi, Việt Nam sẽ chỉ là thị trường tiêu thụ, phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ và sản phẩm từ bên ngoài, đánh mất cơ hội làm chủ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cốt lõi.
Thực tế cho thấy các quốc gia có ngành ô tô mạnh đều trải qua và duy trì bảo hộ. Đơn cử như Hàn Quốc từng cấm nhập khẩu xe nguyên chiếc trong nhiều thập niên để Hyundai, Kia có thời gian lớn mạnh và chiếm lĩnh thị trường. Thái Lan duy trì các điều kiện cực kỳ khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa và tiêu chuẩn kỹ thuật...
Trung Quốc sử dụng chính sách "đổi thị trường lấy công nghệ", buộc các hãng xe ngoại phải liên doanh với doanh nghiệp nội và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất nghiêm ngặt để được hoạt động.
Chưa kể, khi không còn hàng rào kỹ thuật, rủi ro "thương mại ngắn hạn" sẽ phát sinh với sự xuất hiện hàng loạt doanh nghiệp nhỏ chỉ làm thương mại, người tiêu dùng bị bỏ rơi. Ô tô là tài sản lớn và cần bảo trì định kỳ 10 - 15 năm, doanh nghiệp thương mại thuần túy thường không đầu tư kho phụ tùng hay trạm dịch vụ chuyên nghiệp, gây khó khăn cho người mua do thiếu linh kiện thay thế chính hãng.
Đối với doanh nghiệp, chính sách này có thể phá vỡ quy hoạch và "phi công nghiệp hóa", gây tác dụng ngược cho công nghiệp hiện đại. Các tập đoàn lớn sẽ cân nhắc việc đóng cửa nhà máy tại Việt Nam để chuyển sang nhập khẩu từ các trung tâm sản xuất lớn trong khu vực. Hậu quả, Việt Nam sẽ mất đi cơ hội tiếp nhận chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao.
Đối với kinh tế vĩ mô, thay vì giá trị gia tăng được giữ lại trong nước thông qua sản xuất, dòng tiền sẽ chảy ra nước ngoài để chi trả cho xe nguyên chiếc nhập khẩu. Nếu sản xuất đình trệ, làn sóng thất nghiệp ở nhóm lao động kỹ năng là điều khó tránh khỏi.
Chưa kể, việc nhập khẩu ồ ạt các dòng xe giá rẻ, công nghệ cũ (để tối ưu giá) sẽ gây áp lực cực lớn lên hạ tầng giao thông vốn đã quá tải và làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt, Việt Nam có thể sẽ đánh mất cơ hội trong "kỷ nguyên xe điện" khi sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô không còn trong danh mục kinh doanh có điều kiện. Việt Nam đang có cơ hội hiếm hoi để "đi tắt đón đầu" thông qua xe điện.
Nếu "thả cửa", các dòng xe điện giá siêu rẻ, không có hạ tầng trạm sạc tiêu chuẩn, không có cam kết tái chế pin từ các đơn vị nhập khẩu thương mại sẽ tràn vào, không chỉ phá vỡ quy hoạch ngành xe điện nội địa mà còn để lại gánh nặng về môi trường.
Thay vì xóa bỏ, nhà nước nên "nâng cấp" các điều kiện kinh doanh bằng số hóa thủ tục, chuyển toàn bộ việc đăng ký, kiểm định, báo cáo sang môi trường số, giúp loại bỏ cơ chế "xin - cho", giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tiêu chuẩn hóa thay vì định tính các điều kiện kinh doanh bằng các bộ tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng thay vì những quy định chung chung dễ gây hiểu lầm.
Chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm có kiểm soát" là mấu chốt của cải cách hiện đại. Tiền kiểm thường bắt doanh nghiệp phải chứng minh đủ điều kiện mới được phép kinh doanh. Điều này thường tạo ra rào cản gia nhập thị trường và gây chậm trễ.
Trong khi đó, hậu kiểm có kiểm soát cho phép kinh doanh dựa trên cam kết, doanh nghiệp được phép hoạt động ngay sau khi đăng ký và cam kết đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về bảo hành, bảo dưỡng, an toàn. Cách làm này vừa tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa loại bỏ được các doanh nghiệp "thương mại chụp giật" không đủ năng lực hậu mãi bài bản.
Tin Gốc: Thanh Niên

