Những ăng-ten này thường có thiết kế vặn vít để kết nối trực tiếp với mặt sau của máy tính hoặc dạng vây cá mập, kết nối qua dây cáp mở rộng. Lúc này, nhiều người có thể thắc mắc tại sao máy tính cần ăng-ten Wi-Fi trong khi các thiết bị di động như smartphone hay laptop vẫn kết nối tốt với Wi-Fi mà không cần ăng-ten ngoài.
Trong thực tế, mặc dù không nhìn thấy ăng-ten lớn trên thiết bị di động, mỗi thiết bị vẫn sử dụng một loại ăng-ten nào đó. Hầu hết máy tính để bàn và laptop từ các thương hiệu nổi tiếng đều có ăng-ten bên trong, nhưng thường được giấu kín vì lý do thẩm mỹ. Smartphone thường sử dụng khung kim loại làm ăng-ten hoặc có ăng-ten dạng màng mỏng dán bên trong vỏ máy.
Vai trò của ăng-ten Wi-Fi là rất quan trọng vì thiếu nó có thể gây ra lỗi kết nối Wi-Fi và ảnh hưởng đến cả kết nối Bluetooth, do cùng một loại ăng-ten thường được sử dụng cho cả hai chức năng.
Các ăng-ten Wi-Fi cắm vào máy tính giúp chip Wi-Fi khuếch đại tín hiệu, duy trì kết nối ổn định với các mạng Wi-Fi. Chip Wi-Fi hiện đại trong máy tính để bàn thường nhỏ, có khả năng hạn chế trong việc truyền và thu sóng vô tuyến, do đó phụ thuộc vào ăng-ten. Hơn nữa, vỏ máy tính thường hoạt động như một lồng Faraday làm giảm khả năng thu phát tín hiệu không dây.
Ngoài việc hỗ trợ kết nối Wi-Fi, các chip Wi-Fi hiện đại còn tích hợp bộ thu phát Bluetooth, nghĩa là ăng-ten cũng cần thiết cho các thiết bị và phụ kiện Bluetooth. Mặc dù một số thiết bị ngoại vi có thể hoạt động mà không cần ăng-ten ngoài, nhưng luôn có nguy cơ bị ngắt kết nối.
Việc sử dụng ăng-ten ngoài cho máy tính để bàn mang lại nhiều lợi ích. Các nhà sản xuất thiết bị di động đã tập trung vào thiết kế nhỏ gọn, nhưng máy tính để bàn vẫn ưu tiên hiệu suất với các ăng-ten đơn giản, dễ nâng cấp. Khác với điện thoại và laptop có các bộ phận bằng kính hoặc nhựa cho phép tín hiệu truyền qua, vỏ máy tính để bàn chủ yếu là kim loại, gây khó khăn cho việc truyền tín hiệu.
Việc sử dụng ăng-ten ngoài không chỉ giúp nâng cấp chip Wi-Fi dễ dàng hơn khi có thế hệ mới mà còn cho phép bắt tín hiệu yếu hiệu quả hơn so với ăng-ten bên trong, từ đó giúp người dùng có trải nghiệm kết nối Wi-Fi ổn định và mạnh mẽ hơn.
Trong cuộc phỏng vấn với kênh Special Competitive Studies Project, phát sóng cuối tuần qua, ông Huang cho biết thị phần phần cứng AI của Nvidia tại Trung Quốc hiện xuống mức 0%. Đây được xem là con số gây sốc vì mới cách đây hai năm, công ty vẫn nắm gần 70% thị phần tại đây.
CEO Nvidia thẳng thắn cho rằng việc Mỹ áp đặt các rào cản thương mại đã gây ra những hệ lụy chiến lược tiêu cực. Đầu tiên, từ bỏ một thị trường quy mô như Trung Quốc là điều không hợp lý về mặt chiến lược. Ông nhận định quy định hiện tại cần phải năng động và thay đổi theo thời gian thay vì giậm chân tại chỗ. Việc rút lui của các công ty Mỹ vô tình đẩy nhanh quá trình tự chủ của Trung Quốc.
Hồi tháng 1, công ty phân tích Bernstein dự báo thị phần của Nvidia tại Trung Quốc giảm từ 66% xuống còn 8% những tháng tới. Tuy nhiên, theo ông Huang, họ thực tế chạm đáy sớm hơn dự kiến. Dù thiếu vắng GPU và phần mềm hàng đầu từ Mỹ, Trung Quốc vẫn là đối thủ mạnh mẽ trong lĩnh vực AI do có lợi thế về giá năng lượng rẻ và đội ngũ nhân tài toán học, khoa học khổng lồ. Ông gọi số lượng nhà nghiên cứu AI tại Trung Quốc là "kho báu quốc gia".
Theo Tom's Harware, hiện các nhà phát triển Trung Quốc dần chuyển sang sử dụng phần cứng nội địa từ những tên tuổi như Huawei, Cambricon hay Moore Threads. Rào cản cuối cùng mà những công ty này cần vượt qua là phần mềm, như nền tảng Cuda của Nvidia, thứ vốn giúp công nghệ Mỹ thống trị thời gian qua.
Ông Huang đánh giá vị thế dẫn đầu dài hạn không nằm ở việc hạn chế đối thủ toàn cầu, mà ở việc đảm bảo hệ sinh thái AI của Mỹ thống trị được trên phạm vi toàn thế giới. Việc thắt chặt xuất khẩu có thể kìm hãm quá trình triển khai AI của chính nước Mỹ, trong khi Trung Quốc đang đón nhận công nghệ một cách quyết liệt và coi trí tuệ nhân tạo như một công cụ phát triển kinh tế.
Hệ điều hành Android 15 trở lên ẩn chứa một phân vùng kỹ thuật số độc lập hoạt động như một chiếc điện thoại thứ hai, giúp người dùng cô lập hoàn toàn các dữ liệu nhạy cảm. Được biết đến với tên gọi Private Space trên các dòng máy như Pixel hoặc Secure Folder trên các thế hệ Samsung Galaxy S25 và S26 series, tính năng này tạo ra một không gian biệt lập có khóa mã riêng để lưu trữ ứng dụng và tệp tin.
Dù sở hữu khả năng bảo mật cao giúp chặn đứng các hành vi xâm nhập, nhưng công cụ này lại không được kích hoạt sẵn theo mặc định và rất ít khi được người dùng chú ý đến.
Thông thường, khi cài đặt một phần mềm mới trên Android, người dùng phải đối mặt với rủi ro bị các ứng dụng đòi hỏi các quyền truy cập rộng vào danh bạ, tin nhắn, camera và micro để thu thập thông tin ngầm. Chính vì vậy, tính năng Private Space hoặc Secure Folder đã xuất hiện như giải pháp bảo mật 'cứu tinh' cho người dùng.
Để kích hoạt trên dòng máy Pixel, hãy mở ngăn chứa các ứng dụng và bấm chọn Private Space. Sau đó, chạm vào biểu tượng bánh răng (cài đặt), và trong mục Hide, chọn tùy chọn 'Hide private space when locked'. Biểu tượng ứng dụng và khu vực riêng tư sẽ ẩn đi vào lần khóa máy tiếp theo.
Đối với người dùng Samsung, lối vào sẽ nằm ở mục Settings > Security and Privacy > More Security Settings > Secure Folder. Sau đó, đăng nhập vào tài khoản Samsung để chấp thuận các điều khoản. Đăng nhập hoàn tất, bạn tiếp tục thiết lập phương pháp xác thực bảo mật, gồm mã PIN, mật khẩu hoặc hình vẽ.
Lúc này, thư mục Secure Folder sẽ xuất hiện trên màn hình chính, bạn chỉ việc bấm vào nó để tiến hành cất giấu những dữ liệu nhạy cảm. Sau khi hoàn thành, truy cập trở lại menu Secure Folder trong cài đặt hệ thống, tắt tùy chọn 'Add Secure Folder to Apps Screen' và bấm Hide để xác nhận ẩn hoàn toàn thư mục khỏi màn hình chính.
Bằng việc đưa các ứng dụng này hoặc các phần mềm tài chính quan trọng vào Private Space hay Secure Folder, bạn đã tạo ra một bức tường ngăn cách kiên cố. Các ứng dụng nằm trong không gian này sẽ bị cắt đứt hoàn toàn cổng giao tiếp với hồ sơ gốc, giúp bảo vệ an toàn tuyệt đối cho tài khoản ngân hàng và dữ liệu cá nhân của bạn trước các hành vi thu thập dữ liệu bất hợp pháp.
Thông tin được đưa ra tại buổi làm việc giữa Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân với ông David Zapolsky, Phó chủ tịch cấp cao, Giám đốc pháp lý và đối ngoại toàn cầu của Amazon, chiều 22/5.
Động thái này diễn ra sau nhiều lần Amazon bày tỏ quan tâm tới thị trường Internet vệ tinh Việt Nam. Trước đó, trong buổi gặp lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ hồi năm 2025, đại diện tập đoàn từng ngỏ ý tìm cơ hội cung cấp dịch vụ Internet vệ tinh tại Việt Nam thông qua giấy phép thí điểm.
Dự án Internet vệ tinh của Amazon ban đầu mang tên Kuiper, sau đó đổi tên thành Amazon Leo vào cuối năm 2025. Hệ thống được xây dựng theo mô hình chùm vệ tinh quỹ đạo thấp, với kế hoạch triển khai hơn 3.200 vệ tinh nhằm cung cấp kết nối Internet tốc độ cao cho các khu vực vùng sâu, vùng xa và hải đảo.
Theo giới thiệu của Amazon, dịch vụ này có thể đạt tốc độ 400 Mbps cho người dùng cá nhân và 1 Gbps cho doanh nghiệp, với độ trễ thấp. Đến tháng 4 năm nay, Amazon Leo đã đưa hơn 300 vệ tinh lên quỹ đạo thông qua 11 vụ phóng, nhưng vẫn chưa thương mại hóa đại trà. Đây hiện là hệ thống vệ tinh Internet lớn thứ ba thế giới, sau Starlink và OneWeb. Tại Việt Nam, Amazon đã thành lập doanh nghiệp mang tên Amazon Kuiper ở TP HCM.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Vũ Hải Quân đánh giá cao những đóng góp của Amazon trong việc hỗ trợ xuất khẩu thương mại điện tử, điện toán đám mây, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Việt Nam.
Người đứng đầu Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị Amazon mở rộng đầu tư vào hạ tầng số, dữ liệu và công nghệ cao tại Việt Nam; tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong nước; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng đề nghị tập đoàn này đồng hành cùng Việt Nam xây dựng hệ sinh thái công nghệ xanh, bền vững.
Ông khẳng định Bộ Khoa học và Công nghệ sẵn sàng phối hợp với các đơn vị liên quan để hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho Amazon trong quá trình nghiên cứu, triển khai đầu tư, kinh doanh, sản xuất cũng như thử nghiệm thiết bị theo đúng quy định pháp luật.