Chiều 4.6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược T.Ư và các cơ quan liên quan về đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để trình Bộ Chính trị cho ý kiến, làm cơ sở báo cáo Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV ban hành nghị quyết.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, tầm nhìn nghị quyết phải hướng tới năng lực trường tồn quốc gia.
Về quan điểm chỉ đạo, mô hình phát triển mới phải đặt con người ở vị trí trung tâm, là mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển.
Mọi chính sách phát triển phải hướng đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, phẩm giá, cơ hội phát triển và quyền thụ hưởng công bằng của nhân dân.
Mục tiêu tổng quát, xây dựng mô hình phát triển mới nhằm tạo bước chuyển căn bản về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo, sức cạnh tranh quốc gia, năng lực tự chủ của nền kinh tế và chất lượng sống của nhân dân.
Cùng đó, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, xã hội tiến bộ, văn minh, bảo vệ môi trường, có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc bên ngoài; giữ vững ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, quốc phòng – an ninh và chủ quyền quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, coi KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu là hạ tầng nền tảng của giai đoạn phát triển mới.
Nhà nước chia sẻ rủi ro cùng doanh nghiệp; xây dựng khung pháp lý đồng bộ về quản trị dữ liệu quốc gia; đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng AI; cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh; cải cách sâu hệ thống tài chính để phục vụ phát triển dài hạn.
Trong nội hàm của nghị quyết về mô hình phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải quán xuyến một cách toàn diện các khía cạnh của chiến lược phát triển, tiến bộ quốc gia cũng như văn minh xã hội và an ninh con người.
Cần phát huy năng lực tự chủ chiến lược của đất nước, làm chủ những khâu then chốt, năng lực bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu, an ninh tài chính và an ninh chuỗi cung ứng.
Phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, giải phóng năng lực sáng tạo, nuôi dưỡng tinh thần khai phóng, kỷ luật, trách nhiệm và khát vọng cống hiến.
Mô hình phát triển mới phải nuôi dưỡng bản sắc dân tộc, đạo đức xã hội, tinh thần cộng đồng, khát vọng vươn lên, ý chí tự cường và năng lực hội nhập văn minh của con người Việt Nam.
Cùng đó, nghị quyết phải giải quyết những thách thức về biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm không khí, suy thoái đất, cạn kiệt nước ngầm và rủi ro thiên tai.
Tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia theo hướng hình thành các vùng động lực tăng trưởng.
Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả, dựa trên pháp quyền, phân cấp hợp lý, trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả; quản trị xã hội trên nền tảng số, dữ liệu và AI; xây dựng xã hội số và công bằng số.
Tiếp tục nâng cao chất lượng dân số, bảo đảm mức sinh thay thế; vừa phải tập trung đào tạo nguồn nhân lực trẻ, vừa thiết kế một xã hội trường thọ, người cao tuổi phải tiếp tục sống khỏe mạnh, làm việc, học tập, đóng góp, được chăm sóc. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, bao phủ toàn dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý, nghị quyết cần xác định rõ các chương trình hành động quốc gia, các đề án trọng điểm, có các chỉ tiêu đo lường cụ thể và cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ.
Mỗi mục tiêu lớn phải gắn với một đầu mối chịu trách nhiệm, một hệ thống dữ liệu để theo dõi, có nguồn lực thực hiện và thời hạn cụ thể; cần lựa chọn một số địa phương, vùng kinh tế, ngành chiến lược hay các khu chức năng.
Những mô hình thành công phải được tổng kết, thể chế hóa và nhân rộng kịp thời, tránh mỗi địa phương hay từng ngành lại đi xin mở rộng áp dụng cơ chế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, nghị quyết cần khẳng định tư tưởng phát triển cốt lõi của Việt Nam trong kỷ nguyên mới là xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.
Nghị quyết về mô hình phát triển mới của đất nước phải thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đột phá, khát vọng dân tộc và ý chí hành động mạnh mẽ.
Đây phải là một nghị quyết mở đường, tạo khuôn khổ cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế tự tin, bản lĩnh, sáng tạo và trách nhiệm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Ban Chính sách, chiến lược T.Ư chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Chính phủ, Văn phòng T.Ư Đảng, các cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến, hoàn thiện đề án và dự thảo nghị quyết trình Bộ Chính trị cho ý kiến, theo đúng tiến độ trước khi trình hội nghị lần 3, Ban Chấp hành T.Ư khóa XIV.
Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, nhìn lại hàng nghìn năm hình thành và phát triển của hai đất nước, lịch sử, văn hóa đã trở thành những sợi dây bền chắc kết nối Ấn Độ, Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, hành trình phát triển của Ấn Độ và Việt Nam trong hơn 80 năm qua có nhiều điểm tương đồng và nhiều thành tựu to lớn. Trước hết là cả hai đều bước ra từ những nền kinh tế thuộc địa vô cùng khó khăn, thậm chí đến mức kiệt quệ, trình độ thấp, cơ cấu mất cân đối, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Với khát vọng thịnh vượng, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, hai nước đã từng bước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh.
Về đối ngoại, hai nước chia sẻ quan điểm độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, ủng hộ đối thoại và cách tiếp cận chủ động, cân bằng và trách nhiệm với các vấn đề khu vực, toàn cầu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ ấn tượng với triết lý "Thế giới là một gia đình" của Ấn Độ đề cao tình hữu nghị, sự tôn trọng, tinh thần đoàn kết và khát vọng hòa bình, thịnh vượng - cũng là những giá trị mà dân tộc Việt Nam luôn hướng tới. Việt Nam đánh giá cao những đóng góp trách nhiệm của Ấn Độ qua các khuôn khổ hợp tác và sáng kiến kết nối chiến lược, Chính sách Hành động hướng Đông tăng cường kết nối với Đông Nam Á; Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương thúc đẩy không gian rộng mở, bao trùm, dựa trên luật lệ; đánh giá cao vai trò ngày càng quan trọng của Ấn Độ tại các cơ chế đa phương, góp phần thúc đẩy đối thoại, tăng cường kết nối và xử lý các thách thức chung. Việt Nam cũng đã đảm nhận thành công nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, cử các cán bộ, chiến sĩ tham gia đóng góp vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của LHQ.
Việt Nam và Ấn Độ đều đang hướng đến những mục tiêu phát triển mới vào dịp kỷ niệm 100 năm độc lập, hài hòa giữa tăng trưởng và tiến bộ xã hội, trong đó không thể thiếu vai trò của khoa học - công nghệ. Trên nền tảng tin cậy và gắn bó, quan hệ hai nước từng bước được định hình và phát triển, với việc thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược năm 2007, Đối tác chiến lược toàn diện năm 2016, và không ngừng được mở rộng và làm sâu sắc trong những năm qua.
Hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục là một trụ cột chiến lược với nhiều chương trình hỗ trợ tín dụng và chuyển giao kỹ thuật. Các lĩnh vực GD-ĐT, du lịch và giao lưu nhân dân cũng được mở rộng...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng thế giới đang biến đổi nhanh chóng, sâu sắc chưa từng có. Cạnh tranh giữa các trung tâm quyền lực lớn ngày càng mở rộng. Luật pháp quốc tế, LHQ và các thể chế đa phương đứng trước những thách thức lớn chưa từng có.
Tất cả các nước, trong đó có Việt Nam và Ấn Độ đứng trước những nghịch lý của thời đại: nhu cầu hợp tác gia tăng, nhưng niềm tin bị xói mòn. Các cấu trúc kinh tế kết nối sâu hơn, nhưng dễ tổn thương hơn. Công nghệ có những bước tiến vượt bậc chưa từng có, đồng thời làm sâu thêm khoảng cách phát triển giữa các quốc gia. Biến đổi đang tạo ra những thách thức lớn; nhưng trên tất cả, biến đổi cũng mở ra các cơ hội nếu chúng ta biết nắm bắt và nắm bắt kịp thời, và cơ hội sẽ nhân lên nếu được cùng kết nối.
Kế thừa nền tảng vững chắc của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong hơn 50 năm qua, để đưa quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ sang một giai đoạn mới ở tầm mức mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn hai bên củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chiến lược - điều kiện để duy trì quan hệ ổn định, cũng là nền tảng để thúc đẩy hợp tác hiệu quả và cùng ứng phó với các thách thức chung.
Trong giai đoạn mới, hai bên cần tiếp tục tăng cường trao đổi toàn diện ở các kênh - giữa Nhà nước, Quốc hội/nghị viện, chính đảng, nhân dân hai nước và các cấp; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược; cần phát huy hơn nữa, nâng cao hiệu quả hành động, phối hợp lập trường trong các diễn đàn đa phương.
Hai bên mở rộng dư địa kết nối, gia tăng kết nối phát triển, tạo thêm động lực cho liên kết khu vực. Việt Nam sẵn sàng hợp tác về dược phẩm với Ấn Độ, hoan nghênh các hãng dược Ấn Độ đầu tư sản xuất dược phẩm tại Việt Nam cho thị trường Đông Nam Á.
Hai bên nâng tầm và tăng tốc hợp tác khoa học, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược trở thành một trụ cột trọng yếu trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.
Lan tỏa các giá trị văn hóa - xã hội, tăng cường giao lưu nhân dân, hai bên cần tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn các kết nối đó thông qua hợp tác GD-ĐT, văn hóa, du lịch, kết nối địa phương và giao lưu nhân dân, đặc biệt là giữa thế hệ trẻ; chung tay kiến tạo và củng cố không gian hòa bình, ổn định.
Bước vào kỷ nguyên mới, với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường ở tầm cao mới và phương châm "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất", với giải pháp quyết liệt của Chính phủ, sự quyết tâm, đồng lòng, tinh thần sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin rằng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, thực chất hơn nữa, kết nối giữa hai nước sẽ bền chặt hơn nữa, mang lại lợi ích thiết thực và thành công cho sự phát triển mỗi nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước đòi hỏi Đại học (ĐH) Quốc gia Hà Nội phải nỗ lực cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, bứt phá rõ rệt hơn để thực sự xứng đáng với tầm vóc và sứ mệnh của một ĐH quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, trong kỷ nguyên mà vận mệnh quốc gia ngày càng được quyết định bởi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người, ĐH Quốc gia Hà Nội càng phải vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, trở thành trụ cột học thuật hàng đầu, trung tâm sáng tạo lớn, lực lượng tiên phong của giáo dục ĐH VN; đồng thời là một gương mặt tiêu biểu, có uy tín của trí tuệ VN trên trường quốc tế. ĐH Quốc gia Hà Nội phải vươn lên thành một ĐH tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình ĐH đổi mới sáng tạo và có năng lực dẫn dắt quốc gia.
Đồng ý với mục tiêu ĐH Quốc gia Hà Nội đặt ra đến năm 2030 nằm trong nhóm 100 ĐH hàng đầu châu Á và đến 2035 thuộc nhóm 300 ĐH hàng đầu thế giới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị một số ngành mũi nhọn sẽ đứng vào nhóm 100 toàn cầu.
Để hiện thực hóa tầm nhìn ấy, ĐH Quốc gia Hà Nội cần có triết lý giáo dục hiện đại, quản trị tiên tiến và môi trường học thuật khai phóng; khẩn trương hoàn thiện khu đô thị ĐH Hòa Lạc theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, kết nối hữu cơ với khu công nghệ cao Hòa Lạc, hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước; có lộ trình cụ thể, phân giao mục tiêu, nhiệm vụ cho từng thành viên, từng đơn vị, nhóm nghiên cứu, định hướng quản lý theo kết quả; đầu tư cho ĐH Quốc gia Hà Nội để xây dựng hạ tầng khoa học hiện đại, thu hút và trọng dụng nhân tài trong nước, quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội phải là nơi dám đi trước, dám thử nghiệm và mở đường cho những mô hình mới về giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn để Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển trong kỷ nguyên mới.
ĐH Quốc gia Hà Nội phải đi tiên phong trong thực hiện các nghị quyết chiến lược của Đảng; cần trở thành nơi hội tụ trí tuệ quốc gia để nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ nền tảng. Các chương trình hành động phải được triển khai quyết liệt, làm đến cùng, đo được kết quả, rõ được hiệu quả; đưa thành tựu đào tạo, nghiên cứu trực tiếp phục vụ đất nước, thủ đô Hà Nội và các địa phương.
ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành trung tâm kết nối tri thức với phát triển, gắn chặt hơn nữa nhà trường với nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và xã hội; cần chủ động hình thành các chương trình nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo theo đặt hàng lớn của quốc gia; tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, Hà Nội, các địa phương, doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và mạng lưới chuyên gia quốc tế.
"ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành "túi khôn" để nhà nước tìm đến khi cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược; là địa chỉ doanh nghiệp tìm đến để cùng phát triển công nghệ, nhân lực và mô hình kinh doanh mới; là nơi xã hội tìm thấy niềm tin vào sức mạnh của tri thức, khoa học và giáo dục VN", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn, ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của ngoại giao học thuật VN. Mỗi cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên cần ý thức sâu sắc rằng mình đang góp phần đại diện cho trí tuệ, văn hóa và phẩm giá VN trong mọi hoạt động học thuật, đối ngoại và giao lưu quốc tế. ĐH Quốc gia Hà Nội phải tổ chức thật tốt việc giáo dục chính trị - tư tưởng sâu rộng trong toàn thể cán bộ và sinh viên về truyền thống đáng tự hào, về vai trò, trách nhiệm và sứ mệnh của người trí thức trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất Bộ Chính trị, Chính phủ những cơ chế, chính sách phát triển đột phá cho ĐH Quốc gia Hà Nội nói riêng và giáo dục ĐH VN nói chung.
Trong đó, đặc biệt chú trọng tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, quản trị, tài chính, nhân lực, tự chủ ĐH, tự do học thuật, đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược; từ đó giúp ĐH Quốc gia Hà Nội phát triển xứng tầm, đồng thời tạo động lực đổi mới mạnh mẽ toàn hệ thống giáo dục ĐH VN trong kỷ nguyên mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng ĐH Quốc gia Hà Nội sẽ tiếp tục vươn lên mạnh mẽ trở thành biểu tượng của trí tuệ VN, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
Chiều 21.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cùng một số bộ, ban, ngành liên quan về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu ở Việt Nam.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, nhìn tổng thể Việt Nam không thiếu tài nguyên, không thiếu nhu cầu.
Song, thiếu lớn nhất là công nghệ lõi, năng lực chế biến sâu, doanh nghiệp đầu đàn, hệ sinh thái nghiên cứu - thử nghiệm - kiểm định - thương mại hóa và một chiến lược tích hợp đủ mạnh để tổ chức chuỗi giá trị vật liệu quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 5 quan điểm lớn gồm xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, cần tổ chức theo 3 tầng (vật liệu nền cần giữ vững, nâng cấp, vật liệu chiến lược cần tập trung đột phá, vật liệu tương lai cần chuẩn bị từ sớm).
Thứ ba, chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
Thứ tư, lấy khoa học - công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp Việt Nam làm trụ cột phát triển.
Thứ năm, phát triển công nghiệp vật liệu theo hướng xanh, bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, phù hợp cam kết quốc tế nhưng bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, ban hành trong thời gian sớm nhất.
Chiến lược phải thể hiện tư duy dài hạn, số liệu chắc, mục tiêu rõ, lộ trình khả thi, phân công trách nhiệm rõ; phải trả lời được: phát triển nhóm vật liệu nào, vì sao lựa chọn, làm chủ đến mức nào, ở khâu nào, cơ quan nào chủ trì, doanh nghiệp nào dẫn dắt, nguồn lực ở đâu, chính sách gì cần ban hành, tiêu chí nào đánh giá kết quả.
Trên cơ sở đó, xây dựng danh mục vật liệu chiến lược quốc gia, bản đồ phụ thuộc nhập khẩu, bản đồ năng lực trong nước và danh mục nhiệm vụ, dự án trọng điểm...
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trước mắt có thể lựa chọn 5 nhóm ưu tiên gồm vật liệu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, vật liệu xây dựng thế hệ mới. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng và cần được đánh giá kỹ trong chiến lược để lựa chọn đúng trọng tâm, đúng lộ trình, đúng cơ chế hỗ trợ.
Phải phát triển bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, tăng sử dụng vật liệu xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tài nguyên, vật liệu thay thế, vật liệu tái chế, giảm phát thải.
Phải bảo đảm nguồn cung cát, đá, vật liệu san lấp, xi măng, thép cho đầu tư công, giao thông, đô thị, năng lượng và nhà ở, công bố giá kịp thời, minh bạch...
Các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo rà soát tiềm năng, trữ lượng, hiện trạng khai thác, công nghệ chế biến, rủi ro môi trường và khả năng hình thành chuỗi giá trị với đất hiếm, bauxite, titan, vonfram, graphit, cát trắng, đá vôi và các khoáng sản quan trọng khác.
Mục tiêu là không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường, đồng thời không để nguồn lực nằm im vì thiếu chính sách, công nghệ hoặc phối hợp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, kiên trì chuyển từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng trong nước..
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tiếp thu, hoàn thiện báo cáo trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Từ đó, tạo cơ sở để Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.