Sau bài Sai chiến lược dễ trượt đại học, hàng loạt ý kiến gửi về cho rằng việc vào đại học không còn là hành trình học tập đơn thuần mà như cuộc đua thông tin, bài toán chiến lược cùng câu hỏi không mới “Bao giờ chấm dứt cảnh tuyển sinh năm nào cũng đổi?”.
“Không biết đến bao giờ Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ngừng thay đổi tuyển sinh đại học?”, bạn đọc Ly Lan đặt câu hỏi.
Nhiều phụ huynh cho biết năm nào cũng nghe thông tin “ổn định” nhưng thực tế lại xuất hiện những điều chỉnh mới khiến họ luôn trong trạng thái thấp thỏm.
“Quanh năm toàn nghe chuyện thay đổi quy chế tuyển sinh đại học, hết sức ngán ngẩm”, một bạn đọc bày tỏ. Người khác than phiền: “Thay đổi hoài, học sinh, giáo viên, phụ huynh chạy theo mệt mỏi năm nào cũng vậy”.
Ngay giáo viên phổ thông cũng lúng túng khi tư vấn cho học sinh. Bạn đọc Thu Thủy – một giáo viên, chia sẻ bản thân “không biết giải thích, tư vấn cho học sinh thế nào” trước những thay đổi liên tục.
Theo cô, năm nào cơ quan quản lý cũng khẳng định tuyển sinh sẽ ổn định nhưng thực tế lại khác: “Nhiều năm nay, năm nào quy chế tuyển sinh đại học cũng điều chỉnh, sửa đổi, toàn những thay đổi lớn, ảnh hưởng rất nhiều đến thí sinh”.
Phụ huynh Trí có con cùng lúc thi vào lớp 10 và đại học cho biết chỉ riêng việc đọc và hiểu các thông tin tuyển sinh đã thấy “đau đầu” nên mong quy chế được xây dựng ổn định và trình bày thật rõ ràng, dễ hiểu.
Nếu trước đây việc vào đại học chủ yếu dựa vào kết quả thi thì nay nhiều ý kiến cho rằng tuyển sinh đã trở thành một “cuộc chơi nhiều biến số”.
“Học sinh bây giờ không chỉ học, thi, chọn ngành mà còn phải tính chiến lược nguyện vọng, điểm cộng, tổ hợp, quy đổi điểm… nghe đã thấy mệt”, một ý kiến nhận xét. Trong khi lẽ ra tuyển sinh phải giúp học sinh vào đúng ngành, đúng năng lực chứ không nên biến thành “bài toán mẹo cho ai có nhiều thông tin hơn thì thắng”.
Nhiều ý kiến cũng chỉ ra sự chồng chéo giữa các phương thức xét tuyển. Việc vừa xét học bạ, vừa yêu cầu ngưỡng điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp môn khiến không ít người cảm thấy khó hiểu.
Bạn đọc Huy cho rằng việc xét tuyển học bạ dựa trên đủ 6 học kỳ của ba năm THPT là hợp lý vì phản ánh cả quá trình học tập của học sinh. Tuy nhiên không nên kèm thêm điều kiện điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp xét tuyển. “Nếu đã quy định như vậy thì không cần đến phương thức xét học bạ”, bạn đọc Huy viết.
Cùng băn khoăn, ý kiến khác cho rằng các chính sách tuyển sinh nhiều năm qua tạo cảm giác chính ngành giáo dục chưa thực sự tin vào “sản phẩm” của mình.
Theo đó, việc vừa xét học bạ vừa bổ sung ngưỡng điểm từ kỳ thi tốt nghiệp THPT hay yêu cầu kết hợp thêm điều kiện với các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy khiến các phương thức trở nên chồng chéo, mất đi ý nghĩa ban đầu.
Việc quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển cũng gây nhiều tranh cãi. “Năm ngoái mỗi trường quy đổi một kiểu, chả hiểu được gì”, một ý kiến phản ánh và đề nghị cần có quy định chung áp dụng toàn quốc.
Bạn đọc Minh Trí cho rằng mỗi phương thức tuyển sinh hướng đến những nhóm thí sinh khác nhau nên nếu vẫn yêu cầu quy đổi điểm như cách làm thời gian qua thì việc tồn tại nhiều phương thức trở nên thiếu ý nghĩa. Nếu bắt buộc quy đổi điểm thì nên quy định mỗi trường chỉ sử dụng một phương thức tuyển sinh để đảm bảo rõ ràng, tránh rối rắm.
Có nhiều đề xuất được đưa đều mong muốn hệ thống tuyển sinh phải rõ ràng hơn. Một bạn đọc mong quy chế cần ổn định trong vài năm, công bố sớm, viết thật dễ hiểu và quy đổi điểm minh bạch, đừng để chuyện vào đại học trở thành cuộc thử sức của phụ huynh trong việc đọc quy chế và đoán điểm chuẩn.
Ý kiến khác đề xuất đơn giản hóa các phương thức tuyển sinh. Bạn đọc Đỗ Dũng cho rằng cần tính toán lại khâu ra đề thi tốt nghiệp THPT theo hướng tăng tính phân loại để kỳ thi này phục vụ đồng thời hai mục tiêu: xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học.
“Đề thi chỉ cần 30% câu hỏi khó để phân loại thí sinh là có thể dùng cho tuyển sinh”, bạn đọc này nêu quan điểm.
Đồng thời đã đến lúc cần nhìn nhận đúng giá trị thực của giáo dục, tránh nặng về thành tích khi tỉ lệ tốt nghiệp nhiều năm luôn ở mức rất cao nhưng chưa phản ánh rõ năng lực phân hóa.
Ở hướng khác, các ý kiến ủng hộ trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học. Bộ chỉ nên tập trung giám sát, kiểm soát chất lượng đào tạo thay vì can thiệp sâu vào cách thức tuyển sinh.
Những ý kiến khác quan tâm đến chất lượng giáo dục đại học. “Tuyển sinh chỉ là một phần trong cả quá trình đào tạo. Nếu chỉ tập trung chọn đầu vào mà bỏ qua kiểm soát chất lượng trong quá trình học và đầu ra sẽ khó đảm bảo hiệu quả giáo dục”, một giảng viên nhận định.
Sáng 23-5, ở một góc cổng Trường THPT Hoàng Hoa Thám (Đà Nẵng), những chiếc kẹo mút nhỏ được gói trong túi trong suốt, kèm những mẩu giấy viết tay dễ thương lặng lẽ chuyền từ tay các chị khóa trên sang các sĩ tử thi vào lớp 10.
"Thi xong văn rồi, khỏe ha, giờ bình tĩnh tự tin môn toán nhaaa", hay "Bao nhiêu ngày thức khuya học bài sẽ không vô nghĩa đâu"…. những lời nhắn giản dị ấy khiến không ít thí sinh vừa bước ra khỏi phòng thi bật cười, nhẹ người sau một buổi căng thẳng.
Ý tưởng này do Nguyễn Lyna (Trường THPT Hoàng Hoa Thám) khởi xướng, năm nay là năm thứ hai nhóm thực hiện.
Cùng Lyna còn có Vũ Phạm Yến Nhi, Lưu Thị Anh Thư và Mai Thị Thu Thảo. Nếu năm ngoái chỉ có Lyna và một người bạn thân tự làm vài phần quà nhỏ "hữu duyên ai nhận được thì nhận", thì năm nay thấy số lượng thí sinh thi lớp 10 đông hơn nhiều, nhóm rủ thêm bạn để làm nhiều kẹo hơn với mong muốn "ai cũng có thể nhận được một chút động viên".
Từng chiếc kẹo mút đều do nhóm tự tay vẽ, cắt, tô màu phần giấy trang trí, phía sau là những lời chúc khác nhau dành riêng cho sĩ tử 2K11.
Có tấm thủ thỉ kiểu bạn bè: "Giờ thì bình tĩnh, tự tin mục tiêu môn Anh với toán nhaaa"; có tấm nhẹ nhàng như lời người lạ động viên: "Em đã đi được tới đây rồi thì nhất định sẽ làm được thôi".
Ngoài kẹo mút, nhóm còn chuẩn bị thêm kẹo ngậm nhỏ để phát sau giờ thi vì thí sinh không được mang đồ ăn vào phòng thi.
Nhóm cũng chia lời nhắn theo từng buổi thi. Thi xong môn văn sẽ là những mẩu giấy động viên cho hai môn còn lại. Sau mỗi buổi, nội dung lại đổi khác để hợp tâm trạng thí sinh.
Gia Hân, thí sinh tại điểm thi này, cho biết: "Sáng nay em làm bài không như ý lắm, đứng trước môn tiếp theo vẫn thấp thỏm lo âu. Khi nhận chiếc kẹo cùng mẩu giấy viết tay từ những người không quen, em khựng lại đọc, rồi cười. Em mang về như một món quà may mắn.
Lyna chia sẻ về ý tưởng tặng kẹo đáng yêu của mình: "Nhóm chỉ mong các em thấy nhẹ lòng hơn chút xíu, tự tin hơn chút xíu thôi, và đậu được nguyện vọng 1".
Từ ngày 1-7, Hà Nội bắt đầu mở cổng tuyển sinh trực tuyến đầu cấp năm học 2026-2027. Phụ huynh đăng nhập theo địa chỉ https://tsdaucap.hanoi.gov.vn để đăng ký tuyển sinh. Việc tuyển sinh sẽ lần lượt theo từng cấp học. Cụ thể tuyển sinh lớp 1 diễn ra từ 0h ngày 1-7 đến 24h ngày 3-7. Tuyển sinh trẻ mầm non (3 đến 5 tuổi) được thực hiện từ 0h ngày 4-7 đến 24h ngày 6-7. Tuyển sinh học sinh vào lớp 6 diễn ra từ 0h ngày 7-7 đến 24h ngày 9-7. Sau thời gian tuyển sinh trực tuyến, các trương tổ chức tuyển sinh trực tiếp từ ngày 12-7 đến hết ngày 18-7 với các trường hợp theo quy định.
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội yêu cầu các trường học, UBND các xã, phường bố trí cán bộ trực trong suốt thời gian tuyển sinh, sẵn sàng tiếp nhận và xử lý kịp thời phản ánh liên quan đến dữ liệu cư trú, phân tuyến, bản đồ số GIS cũng như thao tác đăng ký trực tuyến. Nguyên tắc xuyên suốt của công tác tuyển sinh đầu cấp năm học 2026-2027 là tạo thuận lợi tối đa cho học sinh được học tại trường gần nơi cư trú thực tế.
Theo kế hoạch của Sở, năm học 2026-2027, toàn thành phố dự kiến tuyển khoảng 116.200 trẻ vào nhà trẻ và khoảng 374.300 trẻ vào các lớp mẫu giáo. Ở cấp phổ thông dự kiến tuyển khoảng 147.000 học sinh vào lớp 1 và khoảng 161.000 học sinh vào lớp 6.
Các trường mầm non, tiểu học và THCS tuyển sinh theo nơi cư trú, phương thức tuyển sinh được thực hiện bằng xét tuyển.
Năm nay Hà Nội tiếp tục sử dụng phần mềm hỗ trợ tuyển sinh trực tuyến trên toàn thành phố và ứng dụng bản đồ số GIS, trí tuệ nhân tạo (AI) để xác định chính xác nơi cư trú của học sinh, hỗ trợ công tác phân tuyến tuyển sinh. Ngành giáo dục Hà Nội cũng yêu cầu thực hiện công khai tuyển sinh theo nguyên tắc "5 rõ", gồm: Rõ tuyến tuyển sinh, rõ chỉ tiêu, rõ thời gian, rõ phương thức và rõ trách nhiệm.
Với các trường THCS tuyển sinh không theo nơi cư trú (trường chất lượng cao, trường tư thục có số lượng đăng ký vượt chỉ tiêu) thì việc tuyển sinh được thực hiện căn cứ vào kết quả học tập, rèn luyện ở cấp tiểu học hoặc kết quả đánh giá năng lực của học sinh thông qua một số hình thức như hỏi đáp, viết, thuyết trình...
Hiệp hội Giáo sư đại học Mỹ (AAUP) cách đây một tuần công bố báo cáo thường niên về thu nhập của giảng viên. Dữ liệu được tổng hợp từ gần 770 đại học và cao đẳng, 360.000 giảng viên cơ hữu, 125.000 giảng viên thỉnh giảng và đội ngũ quản lý cấp cao ở các trường.
Báo cáo nêu một thực trạng đáng lo ngại. Lương trung bình của giảng viên cơ hữu tăng 2,3% trong năm học 2024-2025, nhưng chỉ số giá tiêu dùng trong cùng kỳ lại tăng 2,7%. Do đó, lương thực tế của họ sau khi điều chỉnh theo lạm phát giảm khoảng 0,4%.
Nếu so với giai đoạn trước, bức tranh tổng thể còn ảm đạm hơn. Lương thực tế trung bình của giảng viên cơ hữu hiện thấp hơn năm 2019 khoảng 9,5%, kém năm 2008 gần 6%. Trong hơn 750 trường có dữ liệu đối sánh hai năm học gần nhất, hơn 80% báo cáo mức lương danh nghĩa tăng, nhưng thực chất chỉ khoảng 40% trường trả lương vượt lạm phát.
Trong khi đó, nhóm giảng viên thỉnh giảng (không có biên chế) còn khó khăn hơn. Thu nhập của họ được đánh giá là ở mức thấp, manh mún, thiếu ổn định khi khoảng 70% số trường đặt mức lương sàn cho mỗi học phần (3 tín chỉ) từ 4.000 USD trở xuống. Chỉ khoảng 1/3 trường hỗ trợ đóng quỹ hưu trí cho một phần hoặc toàn bộ nhóm này, và 30% hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế.
Ngược lại, lương trung bình của các hiệu trưởng dao động khoảng 275.000 đến 850.000 USD, tùy trường công hay tư thục, cao gấp 3-5 lần mức của một giáo sư.
Ngoài tiền lương, báo cáo còn cho thấy một làn sóng giảm biên chế ở các trường. Vào học kỳ mùa thu năm 2023, chỉ 32% giảng viên có biên chế chính thức hoặc lộ trình biên chế (tenure-track), giảm mạnh so với mức 53% của năm 1987.
Theo AAUP, điều này có nghĩa là tỷ lệ giảng viên có thể theo đuổi nghiên cứu và đổi mới mà không bị ảnh hưởng bởi áp lực từ doanh nghiệp hay chính trị đã giảm.
Lĩnh vực giáo dục đại học ở Mỹ đang đối mặt nhiều biến động, như lạm phát, can thiệp chính trị, nguồn kinh phí nghiên cứu thất thường, tốc độ phục hồi tuyển sinh sau đại dịch không đồng đều,...
AAUP nhìn nhận thu nhập của giảng viên là vấn đề quản trị cốt lõi. Mô hình chi trả lương cho thấy các trường có đang bảo vệ nhân sự và các hoạt động học thuật, nhằm duy trì giảng dạy, nghiên cứu và quản trị chung không, hay đang ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy xử lý khủng hoảng và áp lực từ bên ngoài.
Hồi tháng 3, gần 1.000 giảng viên hợp đồng ở Đại học New York đồng loạt bãi công, do phải gánh vác gần 1/3 khối lượng giảng dạy nhưng chỉ nhận 2% quỹ lương, khiến không kham nổi chi phí đắt đỏ tại Manhattan.