Tại báo cáo tài chính riêng lẻ quý 1-2026 vừa công bố, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc – Sacombank (STB) ghi nhận tổng số nhân viên ở mức 13.281 người tại thời điểm cuối tháng 3-2026, giảm 2.570 người chỉ sau 1 quý.
Còn nếu tính trên báo cáo hợp nhất (gồm cả ngân hàng mẹ và các công ty con), tổng nhân sự còn 14.080 nhân viên, giảm tới 2.736 người so với thời điểm cuối năm 2025.
Như vậy có thể đợt tái cấu trúc nhân sự của Sacombank tập trung chủ yếu tại ngân hàng mẹ – ngay sau khi ông Nguyễn Đức Thụy xuất hiện với vai trò lãnh đạo cấp cao.
Trước đó, ở giai đoạn 2019-2020, ngân hàng này duy trì nhân sự ở mức 18.000 – 19.000 người.
Kể từ năm 2020 đến nay, Sacombank đã thu hẹp lực lượng lao động hơn 5.000 người.
Đi cùng với việc tái cấu trúc nhân sự, mới đây ngân hàng này đã tiến hành đổi tên.
Theo đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc, tên viết tắt vẫn giữ như cũ nhưng đổi thành chữ viết hoa.
Lý do phải đổi tên, theo Sacombank, “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” là tên gọi từ khi thành lập đến nay, trong xu thế chuyển đổi và cải tiến mạnh mẽ, việc thay đổi tên gọi sẽ xác lập bước ngoặt, thể hiện chiến lược và định hướng phát triển mới, nâng tầm vị thế và hình ảnh của Sacombank.
Về tình hình kinh doanh, Sacombank ghi nhận thu nhập thuần từ lãi trong quý 1 năm nay ở mức 6.042 tỉ đồng, giảm gần 12% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, kỳ này Sacombank “mạnh tay” trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên 2.106 tỉ đồng, tăng gấp gần 11 lần cùng kỳ. Bởi vậy lợi nhuận trước thuế của ngân hàng giảm gần 43%, về 2.106 tỉ đồng.
Tại đại hội thường niên vừa diễn ra trong tháng 4, cổ đông cũng đặt câu hỏi vì sao năm 2026 Sacombank chỉ đặt kế hoạch lợi nhuận 8.100 tỉ trong khi năm 2025 đã trích dự phòng ở mức cao?
Về vấn đề này, đai diện Sacombank cho biết ngân hàng đưa ra tăng trưởng khá thận trọng là 6%, bắt nguồn từ chiến lược của ngân hàng là gia tăng bộ đệm dự phòng, tạo nền tảng trong bối cảnh rủi ro thị trường gia tăng.
Thay vì chạy theo con số tăng trưởng nóng ngắn hạn thì ưu tiên tăng bao phủ nợ xấu, trước các biến động khó lường của thị trường, không chỉ đảm bảo tài sản mà còn phát triển bền vững trong dài hạn cho Sacombank.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Ngân hàng chật vật thu hồi 5.800 lượng vàng doanh nghiệp vay lúc giá 17 triệu đồng

Theo báo cáo kiểm toán năm 2025 của Công ty Kinh doanh Thủy hải sản Sài Gòn (APT), họ phát sinh khoản vay 5.833 lượng vàng SJC tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) năm 2009. Khi đó, mỗi lượng vàng có giá khoảng 17 triệu đồng, giá trị khoản vay tương đương hơn 100 tỷ đồng. Ngoài vàng, họ cũng vay hơn 100 tỷ đồng bằng tiền mặt tại Sacombank với lãi suất 12% một năm.
Hai khoản nợ được ký kết với Ngân hàng Phương Nam trước khi sáp nhập vào Sacombank năm 2015. Tuy nhiên, sau 15 năm, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và kinh doanh thủy hải sản này vẫn chưa thể trả nợ cả hai hợp đồng tín dụng.
Theo thuyết minh báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của APT, đến cuối năm, khoản vay vàng sau khi được đánh giá lại theo giá vàng niêm yết của ngân hàng cho vay có giá trị khoảng 891 tỷ đồng.
Ngoài dư nợ gốc, doanh nghiệp còn phải chịu chi phí lãi vay và lãi quá hạn. Theo hợp đồng tín dụng, lãi suất vay ở mức 0,9% mỗi tháng. Với phần nợ quá hạn, lãi suất áp dụng bằng 150% lãi suất vay, tương đương 1,35% mỗi tháng. Tổng lãi vay phải trả riêng với khoản vay vàng đến cuối năm 2025 lên tới khoảng 1.558 tỷ đồng.
Với hai khoản vay này, ngày 28/4/2022, Sacombank đã khởi kiện APT tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, TP HCM (nay là Tòa án Nhân dân Khu vực 9 TP HCM) về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày 15/2/2022 là 1.426 tỷ đồng, đồng thời tiếp tục tính lãi quá hạn theo các hợp đồng đã ký. Sacombank cũng đề nghị phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ nếu APT không thanh toán. Doanh nghiệp vẫn phải trả phần còn thiếu nếu xử lý tài sản không đủ bù đắp. Vụ việc đã được tòa án thụ lý, các bên đang trong quá trình thương thảo, hòa giải.
Ngoài khởi kiện, Sacombank nhiều lần đưa khoản nợ ra đấu giá nhưng chưa thành công. Lần gần nhất vào cuối 2025, khoản nợ này được Sacombank bán đấu giá ở mức khởi điểm chỉ 317 tỷ đồng - thấp hơn nhiều so với dư nợ.
Công ty cổ phần Kinh doanh Thủy hải sản Sài Gòn tiền thân là doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra), được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa theo quyết định của UBND TP HCM năm 2006.
Theo báo cáo quản trị năm 2025, Satra vẫn đang là cổ đông lớn nắm trực tiếp 30% vốn. Công ty cổ phần Tập đoàn Somo Việt Nam sở hữu 41% cổ phần. Chủ tịch Hội đồng quản trị là ông Nguyễn Lâm Vinh Huy - là người đại diện vốn của Somo Việt Nam - nắm khoảng 24% cổ phần. Bên cạnh đó, một số thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát là người đại diện vốn cho Satra và Somo Việt Nam cũng nắm giữ từ 5% đến 8% vốn doanh nghiệp này.
Về tình hình tài chính của APT, theo báo cáo sau kiểm toán, tổng nợ quá hạn của doanh nghiệp đến cuối năm 2025 (gồm nợ ngân hàng và đối tác) gần 2.790 tỷ đồng. Trong đó, nợ ngân hàng quá hạn (gồm gốc và lãi) chiếm khoảng 2.749 tỷ đồng, còn lại là các khoản nợ khác khoảng 41 tỷ đồng.
Doanh nghiệp ghi nhận lỗ lũy kế khoảng 2.708 tỷ đồng, làm âm vốn chủ sở hữu 2.619 tỷ đồng, tương đương mức lỗ gấp hơn 30 lần vốn điều lệ (88 tỷ đồng).
Nợ ngắn hạn vượt tài sản ngắn hạn khoảng 2.658 tỷ đồng, trong khi tổng nợ phải trả đạt 2.814 tỷ đồng, xấp xỉ 32 lần vốn điều lệ.
Kiểm toán cho rằng các yếu tố này cho thấy tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu, có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp. Tuy vậy, ban lãnh đạo cho biết đã xây dựng các phương án nhằm đảm bảo dòng tiền và thực hiện nghĩa vụ tài chính, đồng thời lập báo cáo tài chính trên cơ sở giả định hoạt động liên tục.
Quỳnh Trang
Kinh Doanh
Giá bạc lao dốc mạnh hơn vàng: Cảnh báo gì cho thị trường tài chính?

Thị trường kim loại quý vừa chứng kiến một phiên giao dịch đầy biến động khi giá bạc bất ngờ đảo chiều mạnh sau chuỗi tăng kéo dài sáu phiên liên tiếp. Trong phiên ngày 14/5, bạc từng leo lên vùng 88,48 USD/ounce - mức cao nhất trong 2 tháng - trước khi lao dốc xuống quanh 84,55 USD chỉ vài giờ sau đó.
Mức giảm gần 4 USD khiến bạc mất động lực tăng ngắn hạn, đồng thời tạo ra sự đối lập rõ rệt với vàng. Trong khi bạc rung lắc dữ dội, giá vàng chỉ giảm chưa tới 0,3%, cho thấy dòng tiền trên thị trường đang có sự phân hóa mạnh.
Diễn biến này nhanh chóng làm dấy lên lo ngại về khả năng kim loại quý bước vào một nhịp điều chỉnh sâu hơn. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng cú giảm của bạc phản ánh nhiều hơn những thay đổi trong kỳ vọng kinh tế vĩ mô thay vì sự suy yếu của xu hướng dài hạn.
Vì sao bạc giảm mạnh hơn vàng?
Để hiểu vì sao bạc lại nhạy cảm hơn vàng trong những phiên giao dịch đầy biến động, cần nhìn vào cấu trúc nhu cầu cốt lõi của kim loại này. Vàng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tâm lý tích trữ tài sản và trú ẩn an toàn. Bạc lại mang một sứ mệnh kép, vừa là tiền tệ vừa là nguyên liệu sản xuất không thể thiếu.
Theo dữ liệu từ báo cáo của Silver Institute, khoảng 55% nhu cầu bạc trên toàn cầu hiện nay phục vụ trực tiếp cho lĩnh vực công nghiệp. Kim loại này có mặt ở khắp mọi nơi, từ tấm pin năng lượng mặt trời, linh kiện xe điện, chip bán dẫn cho đến các thiết bị y tế công nghệ cao. Phần còn lại mới dành cho nhu cầu đầu tư và tích trữ vật chất.
Chính “vai trò kép” này khiến bạc thường biến động mạnh hơn vàng trong những giai đoạn thị trường lo ngại về lãi suất và tăng trưởng kinh tế. Khi kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất suy yếu, triển vọng sản xuất công nghiệp cũng chịu áp lực vì chi phí vốn tăng cao. Điều đó khiến giới đầu tư nhanh chóng cắt giảm phần “định giá công nghiệp” trong giá bạc.
Đó chính xác là những gì đã diễn ra trong phiên giao dịch ngày 14/5. Lực bán tháo xuất hiện không phải vì bạc mất đi giá trị trú ẩn, mà vì thị trường nhận ra động cơ công nghiệp của kim loại này đang phải đối mặt với những cơn gió ngược từ chính sách tiền tệ.
Cú sốc lạm phát khiến thị trường đổi kỳ vọng
Nguyên nhân trực tiếp bóp nghẹt kỳ vọng sản xuất đến từ 3 báo cáo kinh tế quan trọng của Mỹ được công bố liên tiếp. Các dữ liệu này đã dội một gáo nước lạnh vào hy vọng nới lỏng chính sách tiền tệ. Lạm phát tiêu dùng trong tháng 4 bất ngờ tăng lên 3,8%, mức cao nhất kể từ tháng 5/2023.
Tình hình ở mảng bán buôn còn căng thẳng hơn. Chỉ số giá sản xuất vọt lên 6% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu mức đỉnh kể từ cuối năm 2022. Cú sốc lớn nhất nằm ở chi phí năng lượng khi giá xăng tăng tới 15,6%, buộc các doanh nghiệp phải đẩy gánh nặng chi phí sang vai người tiêu dùng. Đồng thời, doanh số bán lẻ vẫn duy trì đà tăng 0,5%, cho thấy sức mua chưa hề suy kiệt.
Hệ quả là thị trường tài chính đã phải định giá lại toàn bộ lộ trình của Fed. Công cụ CME FedWatch cho thấy giới giao dịch đã hoàn toàn xóa bỏ kịch bản hạ lãi suất trong năm 2026. Thậm chí, gần một phần ba thị trường đang đặt cược vào khả năng lãi suất sẽ còn tiếp tục tăng trước khi năm nay khép lại.
Đây là môi trường đặc biệt bất lợi đối với bạc. Đồng USD mạnh lên khiến kim loại này trở nên đắt đỏ hơn với người mua toàn cầu, trong khi lãi suất cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không sinh lợi suất.
Không chỉ chịu sức ép từ Mỹ, thị trường bạc còn đối mặt lực cản lớn từ châu Á. Ấn Độ vừa nâng thuế nhập khẩu vàng và bạc từ 6% lên 15% nhằm bảo vệ đồng rupee và dự trữ ngoại hối. Động thái này có thể làm suy yếu nhu cầu mua vàng bạc vật chất tại một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Trong khi đó, giới đầu tư toàn cầu vẫn giữ tâm lý thận trọng trước cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh.
Các thông tin về khả năng cắt giảm thuế đối với khoảng 30 tỷ USD hàng hóa giúp cải thiện phần nào kỳ vọng thương mại, nhưng sự thiếu rõ ràng về quy mô và thời điểm thực hiện khiến dòng tiền vẫn chưa sẵn sàng quay trở lại mạnh mẽ với nhóm kim loại công nghiệp.
Chu kỳ tăng giá của bạc đã kết thúc?
Tính đến 7h ngày 15/5, giá bạc giao dịch quanh mức 83,5 USD/ounce, tiếp tục giảm nhẹ so với phiên trước đó. Dù vậy, nhiều tổ chức vẫn cho rằng nền tảng dài hạn của bạc chưa thay đổi. Theo Silver Institute, thị trường bạc toàn cầu năm 2026 dự kiến thiếu hụt khoảng 46,3 triệu ounce. Đây là năm thứ sáu liên tiếp nhu cầu vượt sản lượng khai thác.
Nguồn cung bạc hiện vẫn bị giới hạn do phần lớn sản lượng là sản phẩm phụ từ các mỏ đồng, chì và kẽm, khiến việc mở rộng khai thác không thể diễn ra nhanh chóng dù giá tăng cao. Trong khi đó, nhu cầu công nghiệp dài hạn vẫn được hỗ trợ bởi quá trình chuyển đổi năng lượng, mở rộng sản xuất xe điện và sự bùng nổ của các trung tâm dữ liệu AI.
Ngoài ra, những cú sốc năng lượng toàn cầu liên quan đến eo biển Hormuz tiếp tục làm gia tăng áp lực lạm phát. Đây là dạng lạm phát phía cung mà công cụ lãi suất của Fed khó có thể xử lý triệt để. Điều đó đồng nghĩa các tài sản thực như vàng và bạc vẫn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phòng vệ dài hạn của giới đầu tư.
Hiện tại, thị trường bạc đang bước vào giai đoạn nhạy cảm nhất khi phải cân bằng giữa áp lực lãi suất ngắn hạn và triển vọng thiếu hụt nguồn cung kéo dài trong nhiều năm tới.
Tin Gốc: Dân Trí

Trao đổi thêm với báo Tuổi Trẻ, ông Đậu Anh Tuấn - Phó tổng thư ký, kiêm Trưởng ban pháp chế VCCI - nói:
Sau một giai đoạn dài xây dựng hoàn thiện, hệ thống pháp luật kinh doanh của chúng ta đã khá đầy đủ và toàn diện. Nhưng có nhiều luật đôi khi lại chồng lên nhau, mâu thuẫn nhau và mỗi nơi hiểu một kiểu.
Ví dụ doanh nghiệp (DN) muốn triển khai một dự án đầu tư sản xuất, họ phải đồng thời tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy... Mỗi luật riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng các thủ tục yêu cầu lẫn nhau làm điều kiện tiên quyết, tạo thành một vòng lặp mà DN không biết bắt đầu từ đâu.
* Các luật đều được thẩm định kỹ, câu chuyện ông nói cụ thể thế nào?
Ví dụ để triển khai một dự án, DN cần chấp thuận chủ trương đầu tư để xin giao đất, nhưng hồ sơ chấp thuận đầu tư lại cần thông tin về đất đai. Muốn xin giấy phép xây dựng thì phải có quyền sử dụng đất và đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
Nhưng để lập báo cáo đánh giá môi trường lại cần có thiết kế cơ sở đủ chi tiết, mà thiết kế cơ sở chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được mặt bằng. Các thủ tục cứ yêu cầu lẫn nhau, DN không biết bắt đầu từ đâu.
Giải pháp mà chúng tôi kiến nghị với Bộ Tư pháp rất rõ ràng: phải thay đổi cách rà soát pháp luật. Lâu nay chúng ta rà soát theo từng luật, đó là góc nhìn của cơ quan quản lý. Nhưng DN không sống theo từng luật, DN sống theo chuỗi hoạt động kinh doanh - từ thành lập, đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu cho đến giải thể.
Chỉ khi nào chúng ta đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, đi theo hành trình của họ, thì mới nhìn thấy hết những điểm nghẽn, chồng chéo mà DN đang gánh chịu hàng ngày.
Bên cạnh đó, khâu thực thi cần có cơ chế giải thích pháp luật thống nhất. Hiện cùng một điều luật mà cơ quan thuế có thể hiểu một đằng, cơ quan đất đai hiểu một nẻo, DN bị kẹt ở giữa và chịu rủi ro pháp lý. DN cần biết trước hệ quả pháp lý của quyết định kinh doanh của mình. Đó là điều kiện tối thiểu để họ dám đầu tư, dám mở rộng sản xuất.
* Theo VCCI, nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới hình thức giấy phép con, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Liệu có giải pháp rốt ráo nào không?
Những năm qua, Chính phủ đã quyết liệt cắt bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh, nhưng thực tế cho thấy nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới những cái tên mới như chứng nhận đủ điều kiện, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Tên gọi thay đổi, nhưng bản chất tiền kiểm vẫn nguyên. DN vẫn phải xếp hàng chờ đợi.
Có một nghịch lý: khi chuyển sang hậu kiểm thì năng lực thanh tra, kiểm tra lại chưa theo kịp. Kết quả là hoặc buông lỏng, hoặc thanh tra kiểm tra tràn lan, chồng chéo, gây phiền hà không kém gì tiền kiểm.
Chúng tôi kiến nghị ba việc cần làm đồng thời. Thứ nhất, tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh. Với từng loại phải trả lời được ba câu hỏi: có thực sự cần thiết? có thể thay thế bằng hậu kiểm? chi phí tuân thủ bao nhiêu? Nếu không trả lời được thì nên bỏ.
Thứ hai, đề nghị nghiên cứu áp dụng nguyên tắc mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ có gánh nặng tuân thủ tương đương. Các nước Anh, Đức, Hàn Quốc đã áp dụng thành công mô hình này. Nó tạo ra một kỷ luật tự nhiên cho cơ quan quản lý.
Thứ ba, phải xây dựng năng lực hậu kiểm dựa trên rủi ro. Không thể thanh tra đại trà tất cả DN như nhau. Phải ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân loại rủi ro.
* Nhiều DN nói pháp luật thay đổi nhanh, họ không thể lập kế hoạch kinh doanh ổn định trong dài hạn, ông nghĩ sao?
Đây là một trong những phản ánh mà chúng tôi nhận được nhiều, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài và các DN có dự án dài hạn.
Hãy hình dung thế này, một DN đầu tư một nhà máy, vòng đời dự án 10 - 15 năm. Họ tính toán từ ưu đãi thuế, điều kiện sử dụng đất, quy chuẩn môi trường, chi phí lao động... Nhưng chưa đầy 1 - 2 năm, luật thay đổi, nghị định mới ra đời, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành thì luật đã bị sửa.
Tác động có hai tầng. Thứ nhất là chi phí tuân thủ trực tiếp, DN phải chỉnh quy trình nội bộ, đào tạo lại nhân sự, thậm chí thuê thêm luật sư và tư vấn xem mình có vi phạm gì không. Với DN nhỏ và vừa, chi phí này là gánh nặng lớn.
Tầng thứ hai nguy hiểm hơn: DN trì hoãn đầu tư, ngại mở rộng, không dám đổi mới. Đó là tổn thất mà chúng ta không nhìn thấy trên sổ sách nhưng rất thực.
Chúng tôi không đề nghị pháp luật đứng yên. Nhưng thời gian chuyển tiếp tối thiểu cần 12 - 24 tháng, trừ trường hợp khẩn cấp. Với dự án đầu tư lớn và dài hạn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư - tức là cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế, ưu đãi đầu tư trong một thời hạn nhất định. Đây là thông lệ quốc tế nhiều nước trong khu vực đã áp dụng.
* Việt Nam đẩy mạnh phân cấp phân quyền, vì sao VCCI kiến nghị bổ sung nguyên tắc "thống nhất thị trường quốc gia"?
Cộng đồng DN hoàn toàn ủng hộ việc phân cấp phân quyền nhưng phải có giới hạn là sự thống nhất của thị trường quốc gia.
Các DN hoạt động đa tỉnh thành phản ánh rất nhiều với chúng tôi rằng cùng một quy định pháp luật nhưng mỗi tỉnh hiểu và áp dụng một khác. Cùng một loại hàng hóa, ở tỉnh A thì được phép, sang tỉnh B thì bị yêu cầu thêm giấy phép.
Cùng một quy chuẩn phòng cháy chữa cháy, tỉnh này áp dụng thoáng, tỉnh kia áp dụng chặt... DN có nhà máy ở ba bốn tỉnh phải đối phó với ba bốn bộ quy tắc khác nhau.
Điều này gây ra chi phí tuân thủ tăng, bất bình đẳng, có thể đánh mất lợi thế quy mô. Vì vậy VCCI kiến nghị chính quyền địa phương không được ban hành quy định tạo ra rào cản đối với lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động, vốn giữa các địa phương.
Chính phủ cần tăng cường kiểm tra, rà soát. Đồng thời cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về cách áp dụng pháp luật của từng địa phương trong các lĩnh vực trọng yếu để DN có thể tra cứu và so sánh. Khi mọi thứ minh bạch, sự khác biệt vô lý sẽ tự động bị phát hiện và điều chỉnh.
Nguồn: https://tuoitre.vn/cai-cach-the-che-thuc-day-tang-truong-hai-con-so-20260405230658314.htm

