Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio ngày 24/6 bắt đầu chuyến công du đến ba nước vùng Vịnh gồm Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Kuwait và Bahrain. Đây là lần đầu tiên ông tới khu vực này kể từ khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch nhằm vào Iran hồi cuối tháng 2.
Mỹ và Iran tuần trước ký bản ghi nhớ 14 điểm, đồng ý ngừng bắn, mở lại eo biển Hormuz và bắt đầu đàm phán hướng đến thỏa thuận hòa bình lâu dài. Tuy nhiên, văn kiện không đề cập chương trình hạt nhân và tên lửa của Iran, khiến các nước Arab lo ngại. Chuyến công du của ông Rubio vì thế được xem là nỗ lực của Mỹ nhằm thuyết phục các đồng minh vùng Vịnh về thỏa thuận này.
“Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ và thống nhất quan điểm với các đối tác vùng Vịnh”, Ngoại trưởng Mỹ nói, khẳng định Washington sẽ “tham vấn với họ về mọi quyết định được đưa ra trong quá trình đàm phán”.
Sau khi ký thỏa thuận sơ bộ, Mỹ và Iran bắt đầu đàm phán tại Thụy Sĩ hôm 21/6, với sự tham gia của bên trung gian là Pakistan và Qatar. Đại diện Mỹ là Phó tổng thống JD Vance, trong khi phái đoàn Iran do Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf dẫn đầu.
Nỗ lực hòa đàm diễn ra trong bối cảnh hầu hết thành viên Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), gồm Arab Saudi, Kuwait, UAE, Qatar, Bahrain và Oman, đều đã bị Iran tập kích để trả đũa Mỹ trong hơn ba tháng xung đột. GCC còn chịu thiệt hại kinh tế do eo biển Hormuz bị phong tỏa, khiến hoạt động xuất khẩu dầu khí vùng Vịnh bị gián đoạn nhiều tuần.
“Nhiều quốc gia vùng Vịnh cho rằng chiến sự đáng lẽ không nên xảy ra. Họ đều lo ngại Mỹ đang góp phần khiến Iran mạnh hơn”, Steven Cook, chuyên gia tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, trụ sở tại Mỹ, nói với AFP.
Những diễn biến trong cuộc chiến khiến nhiều nước Arab nhận ra mức độ dễ tổn thương trước các cuộc khủng hoảng khu vực, nhưng họ lại không được trực tiếp tham gia bất cứ cuộc đàm phán nào. Điều này làm dấy lên lo ngại rằng các ưu tiên an ninh của họ có thể không được phản ánh đầy đủ trong thỏa thuận cuối cùng giữa Mỹ với Iran.
Dania Thafer, giám đốc điều hành viện chính sách Diễn đàn vùng Vịnh Quốc tế, cho rằng hiện trạng tại khu vực “tồi tệ hơn cả trước chiến sự”.
“Những quốc gia Arab đó chưa bao giờ bị tấn công thường xuyên ở mức độ như vậy. Mọi lằn ranh đỏ đều đã bị vượt qua”, bà Thafer nói.
Ngoại trưởng Rubio ngày 24/6 đã đến UAE gặp Tổng thống Mohamed bin Zayed Al-Nahyan cùng các quan chức cấp cao nước này, “tái khẳng định cam kết của Mỹ với an ninh UAE”. Trước đó, ông tuyên bố Hormuz là tuyến hàng hải quốc tế và không quốc gia nào được thu phí tại đây, bác bỏ tuyên bố từ Iran và Oman rằng họ sẽ nghiên cứu về việc quản lý eo biển, các dịch vụ liên quan và “chi phí đi kèm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế”.
Ông Rubio sau đó tới Kuwait, dự lễ thượng cờ tại đại sứ quán Mỹ ở Kuwait City, nối lại hoạt động của cơ sở này sau thời gian bị gián đoạn vì chiến sự. Tại Bahrain, ông Rubio ngày 25/6 gặp Quốc vương Hamad bin Isa Al-Khalifa, sau đó họp với 6 người đồng cấp GCC ở thủ đô Manama.
Ngoại trưởng Mỹ tiếp tục trấn an các nước Arab rằng “sẽ không có nội dung nào trong thỏa thuận cuối cùng với Iran làm xói mòn an ninh, ổn định và thịnh vượng của bất kỳ đối tác nào tại vùng Vịnh”.
Ông cũng thừa nhận các nước Arab muốn được cập nhật thông tin thường xuyên hơn thay vì chỉ biết diễn biến đàm phán thông qua truyền thông. Chính quyền Mỹ vì thế dự định thiết lập cơ chế trao đổi để các đồng minh vùng Vịnh nắm rõ tiến trình trao đổi với Iran.
“Ông Rubio trấn an các đối tác vùng Vịnh với thông điệp rằng ‘chúng tôi vẫn ở đây và sẽ tiếp tục sát cánh cùng các bạn'”, HA Hellyer, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI), nói, thêm rằng chuyến thăm này khó có thể tạo ra thay đổi đáng kể.
“Các nước trong khu vực vốn không có ý định giảm nhẹ vai trò của Mỹ. Điều họ quan tâm hơn lúc này là mức độ đáng tin cậy trong các cam kết từ Washington”, ông Hellyer tiếp tục.
Nếu thỏa thuận được thực hiện đúng tiến độ, Iran có thể nhận hàng trăm tỷ USD để tái thiết đất nước. Tehran còn hưởng lợi từ việc nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với hoạt động xuất khẩu dầu mỏ.
Theo ông Michael Ratney, cựu đại sứ Mỹ tại Arab Saudi, vùng Vịnh lo ngại sau khi đạt thỏa thuận với Mỹ, Iran sẽ có thêm nguồn lực để tiếp tục theo đuổi các hoạt động mà họ cho là gây bất ổn trong khu vực, trong khi biện pháp răn đe duy nhất còn lại chỉ là “một lời cảnh báo khá mơ hồ từ ông Trump về khả năng nối lại chiến dịch không kích”.
Thủ tướng Qatar Mohammed bin Abdulrahman Al-Thani cho biết vùng Vịnh đang nỗ lực xây dựng một khuôn khổ an ninh khu vực với sự tham gia của Iran. Theo các nguồn tin ngoại giao, những cuộc thảo luận riêng giữa Iran và các nước Arab cũng đang được chuẩn bị.
Ngay cả UAE, một trong những quốc gia có phản ứng cứng rắn nhất trước các cuộc tấn công của Iran, cũng dần chấp nhận rằng họ sẽ phải tiếp cận theo hướng thực dụng và tìm cách hợp tác với giới lãnh đạo mới ở Tehran.
“Chúng tôi đều hiểu rằng không bên nào giành được chiến thắng tuyệt đối”, ông Abdulkhaleq Abdulla, giáo sư khoa học chính trị tại Dubai, nhận định.
Tuyên bố chung sau cuộc họp hôm 25/6 giữa ông Rubio với ngoại trưởng các nước GCC cho biết các quốc gia Arab vùng Vịnh hoan nghênh thỏa thuận với Iran, nhưng nhấn mạnh các bên cần duy trì “động lực và sự đoàn kết” trong suốt quá trình thương lượng.
Các nước vùng Vịnh cũng khẳng định để đạt được hòa bình và an ninh lâu dài trong khu vực, tiến trình đàm phán cần giải quyết cả những mối đe dọa khác từ Iran, bao gồm chương trình tên lửa đạn đạo, UAV và sự hậu thuẫn dành cho các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực.
Ông Andrew Leber, học giả Chương trình Trung Đông của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, cho rằng vùng Vịnh nhìn chung đã chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận như một thực tế khó tránh khỏi. Theo ông, cả Arab Saudi và UAE đều coi đây là kết quả tốt nhất mà họ có thể kỳ vọng từ một Tổng thống Mỹ không còn chú tâm vào cuộc chiến.
“Tổng thống Trump dường như không thể đạt một thỏa thuận tốt hơn, nên hiện chuyển sang nỗ lực thuyết phục các đồng minh chấp nhận thỏa thuận mà ông đã có được”, ông Leber nói.
Sự kiện không chỉ mang ý nghĩa cá nhân, mà còn được xem là bước ngoặt đối với nền chính trị vốn lâu nay do nam giới chi phối tại Nhật Bản, theo tạp chí TIME ngày 15-4.
Trong phần giới thiệu đăng kèm về phần vinh danh Thủ tướng Takaichi, Thống đốc Tokyo Yuriko Koike nhận định việc bà Takaichi trở thành thủ tướng vào tháng 10 là một "thời khắc mang tính chuyển đổi và lịch sử".
Theo bà Yuriko Koike, chính trường Nhật Bản từng tồn tại những định kiến khiến phụ nữ khó có thể tiếp cận vị trí lãnh đạo cao nhất. Suốt nhiều năm hoạt động chính trị, bà Takaichi đã không ngừng thách thức rào cản này.
"80 năm sau khi phụ nữ Nhật Bản giành được quyền bầu cử, bà ấy cuối cùng đã phá vỡ rào cản đó", bà Koike viết, cho rằng sự kiện này đã tạo ra cú hích mạnh mẽ đối với một môi trường chính trị lâu nay mang nặng tính kế thừa nam giới.
Theo bà, việc bà Takaichi được bầu làm thủ tướng cho thấy xã hội Nhật Bản đã đủ sẵn sàng để lựa chọn và đón nhận một nữ lãnh đạo ở cấp cao nhất.
Thống đốc Tokyo cũng nhấn mạnh ý nghĩa rộng hơn của bước ngoặt này đối với xã hội. Theo bà, một xã hội tạo điều kiện để phụ nữ phát triển cũng là nơi mọi cá nhân có thể thể hiện trọn vẹn năng lực và bản sắc của mình.
"Chỉ khi phụ nữ - chiếm một nửa dân số - có thể tỏa sáng hơn, tương lai của chúng ta mới thực sự tràn đầy sức sống", bà viết, gọi việc bà Takaichi lên nắm quyền là một "bước tiến vững chắc" hướng tới mục tiêu đó.
Bên cạnh bà Takaichi, danh sách năm nay của tạp chí TIME còn vinh danh nhiều nhân vật nổi bật khác trên thế giới, bao gồm vận động viên trượt băng nghệ thuật Alysa Liu, nhà thiết kế thời trang Ralph Lauren và Giám đốc điều hành Google Sundar Pichai.
Ở lĩnh vực chính trị và tôn giáo, danh sách bao gồm những tên tuổi như Giáo hoàng Leo XIV, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Vào năm ngoái, diễn viên Nhật Bản Hiroyuki Sanada cũng xuất hiện trong danh sách này.
Theo báo Kyodo ngày 18-6, phát biểu tại cuộc họp báo sau Hội nghị thượng đỉnh Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) ở Evian-les-Bains của Pháp, ông Trump dành nhiều lời khen ngợi cho nữ thủ tướng Nhật Bản.
"Nhật Bản đang làm rất tốt. Bà ấy cũng đánh giá cao những gì tôi đã làm được. Các bạn nên gọi cho bà ấy mà hỏi. Nhân tiện thì bà ấy cũng đang hoàn thành tốt vai trò của mình", ông Trump nói.
Bình luận của nhà lãnh đạo Mỹ được đưa ra khi ông được hỏi liệu có đề nghị các nước thành viên G7 như Anh, Đức và Nhật Bản điều động lực lượng vũ trang liên quan đến tình hình tại eo biển Hormuz hay không.
Eo biển Hormuz, tuyến hàng hải chiến lược vận chuyển phần lớn lượng dầu xuất khẩu từ Trung Đông ra thế giới, trên thực tế đã bị gián đoạn nghiêm trọng kể từ sau khi Mỹ và Israel tiến hành các cuộc không kích nhằm vào Iran hồi cuối tháng 2.
Tuy nhiên, ngay trước thềm hội nghị G7, Washington và Tehran đã đạt được một thỏa thuận hòa bình sơ bộ.
Theo đó, hai bên sẽ kéo dài lệnh ngừng bắn thêm 60 ngày để tiếp tục đàm phán về một thỏa thuận lâu dài hơn, trong khi Iran cam kết mở lại hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz.
Khác với nhiều lãnh đạo G7 khác, bà Takaichi đến nay vẫn tránh công khai chỉ trích ông Trump liên quan đến cuộc chiến với Iran hay các vấn đề gây tranh cãi khác trong quan hệ quốc tế.
Trong cuộc gặp tại Nhà Trắng hồi tháng 3, bà Takaichi từng ca ngợi ông Trump là "người duy nhất có thể mang lại hòa bình và thịnh vượng cho toàn thế giới", qua đó thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với nhà lãnh đạo Mỹ.
Ông Trump cũng cho biết Mỹ hiện không còn thực sự cần đến sự hỗ trợ của các quốc gia khác trong vấn đề Iran, dù ông thừa nhận thất vọng vì các đồng minh đã không hành động sớm hơn.
"Thực ra Nhật Bản có đề nghị tham gia, nhưng tôi phải nói thật rằng họ không sẵn sàng can dự trong thời gian chiến sự", ông Trump nói.
Tổng thống Mỹ tiết lộ ông từng trực tiếp hỏi bà Takaichi liệu Tokyo có muốn tham gia nhiều hơn hay không: "Tôi không gây áp lực mạnh, nhưng họ nói: 'Không, chúng tôi không muốn can dự'. Không ai muốn cả".
Nhà lãnh đạo cho biết cuối cùng Mỹ đã tự mình xử lý cuộc khủng hoảng cùng với Israel và các quốc gia Ả Rập trong khu vực.
Trang ScienceAlert ngày 24.6 dẫn một nghiên cứu mới về người trưởng thành cho thấy những người thuộc các thế hệ gần đây có tuổi sinh học cao hơn những người thuộc các thế hệ trước khi so sánh ở cùng độ tuổi, dựa trên một loạt các chỉ số máu.
Điều này không có nghĩa là Gen Z hay thế hệ Alpha sẽ cần khung tập đi và vitamin B12 trước tuổi 30, nhưng phát hiện này có thể giúp giải thích tại sao một số loại ung thư gia tăng ở các thế hệ trẻ hơn, bao gồm ung thư phổi, tử cung và đường tiêu hóa.
Xu hướng đáng lo ngại này có thể bắt nguồn từ sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân. Việc xác định rõ từng yếu tố có thể giúp các nhà khoa học và chuyên gia y tế tìm cách giảm thiểu tác động.
"Nếu xác định được những người trẻ tuổi có nguy cơ mắc ung thư cao nhất khi họ vẫn còn khỏe mạnh, chúng ta có thể tập trung vào các chiến lược phòng ngừa và phát hiện sớm cho những người sẽ được hưởng lợi nhiều nhất", theo nhà dịch tễ học phân tử Yin Cao thuộc Đại học Washington ở St. Louis (Mỹ).
Nhóm của bà Cao đã nghiên cứu 3 thế hệ người thuộc hai nhóm đối tượng lớn tại Anh và Mỹ. Công cụ chính mà họ sử dụng là PhenoAge, một thước đo quá trình lão hóa sinh học dựa trên tuổi tác theo thời gian và 9 chỉ số sinh học trong máu.
Sử dụng các chỉ số này, nhóm nghiên cứu đã tính toán điểm "khoảng cách tuổi" để ước tính xem một người trông già hơn hay trẻ hơn về mặt sinh học so với tuổi thật của họ.
Kết quả cho thấy sự khác biệt giữa các thế hệ rất rõ rệt. Nói cách khác, các nhóm sinh sau này có vẻ lão hóa sinh học nhanh hơn so với các nhóm sinh trước đó ở cùng độ tuổi.
Chẩn đoán ung thư thường liên quan tuổi tác. Điều này là do ung thư phát sinh khi tổn thương di truyền tích tụ trong tế bào, cho phép chúng phát triển và phân chia ngoài tầm kiểm soát.
Theo thời gian, cơ thể con người có thể tích lũy tổn thương ADN từ thức ăn, không khí và các thói quen khác. ADN bị tổn thương có thể tạo ra các chỉ dẫn sai lệch, khiến quá trình phân chia tế bào diễn ra không đúng hướng.
Càng sống lâu, càng có nhiều cơ hội để những tổn thương đó tích lũy. Đó là một trong những lý do khiến nguy cơ ung thư tăng mạnh theo tuổi tác. Tuy nhiên, trong thập niên qua, dữ liệu cho thấy sự gia tăng đáng báo động về ung thư ở thế hệ trẻ.