50-80% bệnh nhân ung thư bị sụt cân, suy dinh dưỡng
TS.BS Hoàng Việt Bách, Trưởng khoa Dinh dưỡng lâm sàng, Bệnh viện K cho biết, dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng với sức khỏe, đặc biệt với bệnh nhân ung thư, dinh dưỡng vô cùng quan trọng.
Bên cạnh phác đồ điều trị cá thể hóa, dinh dưỡng phù hợp giúp người bệnh nâng cao thể trạng, tăng khả năng đáp ứng cũng như hiệu quả điều trị.
Thực tế, có tới 50-80% bệnh nhân ung thư bị sụt cân hoặc suy dinh dưỡng trong quá trình điều trị. “Suy dinh dưỡng trong ung thư không chỉ biểu hiện qua số cân nặng hao hụt nhìn thấy bằng mắt thường, mà nguy hiểm hơn, nó ẩn giấu dưới tình trạng mất khối cơ nghiêm trọng, giảm sức mạnh cơ bắp và suy giảm chức năng toàn cơ thể.
Nhiều bệnh nhân nhìn bề ngoài vẫn có thể thừa cân hoặc béo phì, nhưng thực tế đã bị suy giảm khối cơ nghiêm trọng. Vì thế, việc sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng ngay từ thời điểm chẩn đoán rất quan trọng”, TS Bách thông tin.
Theo ThS.BSNT Nguyễn Thị Thanh Hòa, Phó Trưởng khoa Dinh Dưỡng lâm sàng, Bệnh viện K, ở bệnh nhân ung thư, khối u kích thích phản ứng viêm mạn tính, làm thay đổi chuyển hóa tự nhiên của cơ thể, gây tăng tiêu hao năng lượng dẫn đến mất cơ. Song song đó, tác dụng phụ của hóa, xạ trị gây buồn nôn, nôn, chán ăn, thay đổi vị giác, khó nuốt khiến việc ăn uống trở nên khó khăn hơn với người bệnh.
Bên cạnh đó, nhiều người bệnh ung thư kiêng khem cực đoan, sợ ăn nhiều sẽ “nuôi khối u”, hoặc tự ý áp dụng các chế độ ăn truyền miệng thiếu căn cứ khoa học… khiến bệnh nhân suy kiệt nhanh hơn do thiếu hụt dinh dưỡng trầm trọng.
Trong khi đó, tình trạng suy dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lâm sàng. Khi thể trạng suy kiệt, cơ thể người bệnh sẽ rất khó dung nạp các đợt hóa – xạ trị hay phẫu thuật.
Bệnh nhân suy dinh dưỡng phải đối mặt với nguy cơ nhiễm trùng cao hơn, vết thương chậm lành, tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật gia tăng và thời gian hồi phục kéo dài. Thậm chí, không ít trường hợp đã phải trì hoãn liệu trình điều trị do thể trạng không đảm bảo.
Dinh dưỡng là một phương thức điều trị
Mới đây, Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị dinh dưỡng cho người bệnh ung thư” nhằm chuẩn hóa công tác chăm sóc dinh dưỡng trong các cơ sở khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm tỷ lệ biến chứng, tử vong ở người bệnh ung thư.
Theo BS Hòa, giá trị cốt lõi của hướng dẫn không chỉ dừng lại ở các phác đồ chuyên môn thuần túy, mà mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: thay đổi tư duy của cả thầy thuốc lẫn cộng đồng để khẳng định dinh dưỡng là một phương thức điều trị thiết yếu.
“Mục tiêu hàng đầu là đảm bảo mọi người bệnh ung thư tại Việt Nam đều được tiếp cận chăm sóc dinh dưỡng bài bản, chủ động ngay từ đầu, đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng ngay từ khi chẩn đoán, đồng thời có kế hoạch ăn uống và hỗ trợ dinh dưỡng phù hợp trong suốt quá trình điều trị”, BS Hòa nói.
Theo BS Hòa, dinh dưỡng là một phương thức điều trị. Suất ăn bệnh lý đúng đủ dinh dưỡng cùng phác đồ đặc hiệu sẽ góp phần nâng cao thể trạng, tăng khả năng đáp ứng điều trị.
Các chuyên gia cho biết, nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy người bệnh ung thư được đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm có khả năng đáp ứng điều trị tốt hơn hẳn, giảm thiểu đáng kể các biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện thời gian sống còn.
Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân điều trị ung thư thường chỉ tập trung vào các phương pháp điều trị, ít quan tâm dinh dưỡng. Trong khi đó, dinh dưỡng là nền tảng cốt lõi giúp người bệnh duy trì thể trạng, củng cố hệ miễn dịch nhằm đảm bảo sức khỏe tiếp nhận tối ưu các can thiệp đó.
Vì thế, tại Bệnh viện K, bệnh nhân được tư vấn chế độ ăn bệnh lý, đặc biệt áp dụng 100% với tất cả người bệnh sau phẫu thuật ung thư tiêu hóa.
Người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng cho bản thân, mỗi ngày nên bổ sung thực phẩm nào vào chế độ ăn; lượng ăn bao nhiêu là đủ; …. kèm theo đó là hướng dẫn vận động thể chất và hỗ trợ tâm lý tại khoa điều trị.
Thời gian tới, Bệnh viện K sẽ thực hiện sàng lọc 100%, duy trì và nâng cao chất lượng sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng cho toàn bộ bệnh nhân ngay từ thời điểm nhập viện.
Bên cạnh đó, thiết lập quy trình liên kết chặt chẽ giữa bác sĩ điều trị, bác sĩ dinh dưỡng, điều dưỡng và các chuyên gia liên quan nhằm xây dựng kế hoạch dinh dưỡng cá thể hóa, tối ưu cho từng ca bệnh.
Đặc biệt, Bệnh viện sẽ đẩy mạnh truyền thông để người bệnh, người nhà thực hành dinh dưỡng đúng cách, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
“Người bệnh ung thư tuyệt đối không tự ý áp dụng các chế độ ăn kiêng cực đoan hoặc cắt bỏ hoàn toàn bất kỳ nhóm thực phẩm thiết yếu nào nếu không có chỉ định y khoa. Thực đơn hàng ngày cần duy trì sự đa dạng, cân đối, đặc biệt ưu tiên nhóm thực phẩm giàu năng lượng và giàu đạm (protein) để bảo vệ khối cơ, tăng cường khả năng hồi phục cơ thể”, BS Hòa khuyến cáo.
Khi có dấu hiệu cảnh báo như sụt cân, ăn uống kém, mệt mỏi kéo dài hoặc suy giảm sức cơ, người bệnh cần được đưa đến gặp bác sĩ dinh dưỡng để đánh giá sớm.
Đài Loan hiện có tới khoảng 2 triệu người đang phải chung sống với bệnh thận mạn tính, trong đó thói quen ăn uống hàng ngày có ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe của cơ quan này. Theo bác sĩ Hung Yung-hsiang, chuyên gia thận học với hơn 20 năm kinh nghiệm, nhiều món ăn sáng phổ biến tại Đài Loan như cháo, cơm trắng, mì sợi trắng và bánh mì gối đều tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho những người có chức năng thận suy giảm. Trong đó, cháo là món ăn nguy hiểm nhất khi việc tiêu thụ trong thời gian dài sẽ đẩy nhanh tốc độ suy thoái của thận.
Xuất hiện trong chương trình truyền hình "The Big Bang: The Little Universe", bác sĩ Hung cho biết về bản chất, cháo chỉ đơn thuần là nước đường. Nhiều người có thói quen ăn cháo kèm với ruốc, vô tình tạo nên sự kết hợp giữa lượng carbohydrate cao và thực phẩm siêu chế biến, gây áp lực cực lớn lên thận. Để minh họa cho hậu quả của chế độ ăn sai lầm này, ông đưa ra một ví dụ. Nếu một người có thận yếu ăn sáng sai cách suốt 20 năm (từ tuổi 20 đến năm 40 tuổi), tốc độ suy giảm chức năng thận của họ sẽ nhanh gấp đôi người bình thường. Nói cách khác, đến năm 40 tuổi, chức năng thận của người đó đã bị tàn phá và già cỗi như một ông lão 80 tuổi.
Bác sĩ Hung kể từng điều trị cho một kỹ sư 62 tuổi có chỉ số GFR (mức lọc cầu thận) tại thời điểm thăm khám chỉ đạt 28 điểm, dấu hiệu cho thấy bệnh nhân đã rơi vào suy thận mạn tính giai đoạn 4 và đối mặt với nguy cơ cao phải chạy thận nhân tạo. Qua khai thác bệnh sử, bác sĩ phát hiện bệnh nhân này liên tục ăn bánh mì gối phết bơ đậu phộng kèm sữa giàu protein vào bữa sáng. Đây có thể được coi là một sự kết hợp lành mạnh với người bình thường nhưng với bệnh nhân lọc cầu thận kém, công thức giàu carbohydrate, phốt pho và protein này lại làm tăng đáng kể gánh nặng cho thận. Sau khi điều chỉnh thực đơn bữa sáng chỉ trong vòng 3 tháng, chỉ số GFR của bệnh nhân đã được cải thiện lên mức 48 điểm, giúp ông tạm thời thoát khỏi mối đe dọa phải chạy thận.
Trong bài đăng trên trang cá nhân, bác sĩ Hung chia sẻ thực đơn ăn sáng bảo vệ thận, với hai nguyên tắc cốt lõi. Thứ nhất, người bệnh cần kiêng tuyệt đối các loại tinh bột tinh chế như cháo, cơm trắng, mì sợi hay bánh mì gối, thay vào đó nên lựa chọn những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao hơn. Thứ hai, bệnh nhân thận phải đặc biệt ưu tiên bổ sung chất xơ. Nguyên nhân là do khi chức năng thận suy giảm, các độc tố urê tích tụ sẽ làm đảo lộn hệ vi sinh vật và phá hủy hàng rào bảo vệ đường ruột. Lúc này, việc nạp đủ chất xơ sẽ giúp liên kết và thu gom các chất thải chuyển hóa để đào thải ra ngoài, từ đó duy trì một hệ tiêu hóa khỏe mạnh.
Tuy nhiên, người mắc bệnh thận cần đặc biệt lưu ý đến hàm lượng kali nạp vào cơ thể khi tiêu thụ chất xơ. Chuyên gia khuyến nghị người bệnh nên ăn ít nhất 3 phần chất xơ vào bữa sáng, ưu tiên các loại rau củ quả lành tính như mướp, bí đao hoặc các loại rau lá xanh luộc. Bí quyết cốt lõi nằm ở cách chế biến: luộc rau trong nước sôi từ 3 đến 5 phút rồi chắt bỏ phần nước sẽ giúp loại bỏ hơn 50% lượng ion kali bám trong rau. Mẹo nhỏ này cho phép bệnh nhân thận thoải mái nạp đủ lượng chất xơ cần thiết để bảo vệ đường ruột mà không lo ảnh hưởng xấu đến chức năng lọc của thận.
Theo thông tin từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, qua thăm khám ban đầu, người bệnh được xác định gãy xương đòn trái, chấn thương khung chậu, gãy ngành ngồi mu, chậu mu hai bên.
Sau khi thăm khám và hội chẩn khẩn cấp, các bác sĩ đã chỉ định theo dõi chấn thương bàng quang, niệu đạo, chấn thương sọ não, hàm mặt.
Hiện tại người bệnh đang được tiếp tục điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Trước đó, Tuổi Trẻ Online đã đưa tin khoảng 6h50 ngày 4-5, xe buýt mang biển số 29E-208.XX di chuyển trên đường Nguyễn Văn Cừ (hướng đi cầu Chương Dương, Hà Nội).
Khi qua khu vực nút giao Nguyễn Sơn - Nguyễn Văn Cừ (phường Bồ Đề), xe buýt va chạm với xe máy do một phụ nữ điều khiển.
Cú va chạm khiến nữ tài xế bị kẹt dưới gầm xe buýt, nạn nhân mắc kẹt, bị thương.
Nhận tin báo, Công an phường Bồ Đề phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 5 cử cán bộ tới hiện trường.
Lực lượng chức năng đã phối hợp với gần 20 người dân hỗ trợ nâng xe buýt để giải cứu nạn nhân, đưa ra ngoài.
Tới khoảng 7h20 cùng ngày, hiện trường được giải phóng, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu.
Nguyên nhân vụ việc đang được cơ quan chức năng làm rõ.
Khoảng 1/3 trẻ ở Việt Nam mang phế cầu khuẩn ở vùng hầu họng nhưng không có triệu chứng. Trẻ dưới 5 tuổi có nguy cơ lây bệnh nhiều nhất cho người thân tiếp xúc gần.
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) hiện là một trong những tác nhân hàng đầu gây viêm phổi mắc phải trong cộng đồng và nhiều bệnh xâm lấn (IPD) có thể đe dọa tính mạng như nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não.
Đó là thông tin được nêu ra tại buổi tọa đàm khoa học chia sẻ và cập nhật thông tin y khoa về bệnh do phế cầu khuẩn ở trẻ, do Hội Y học dự phòng Việt Nam phối hợp Pfizer Việt Nam tổ chức ngày 24.6, tại TP.HCM.
Theo Phó giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Phạm Quang Thái, Phó trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, phế cầu khuẩn rất phổ biến, nó có thể hiện diện trong cơ thể người lành mang trùng.
Khảo sát tại một bệnh viện nhi tuyến Trung ương cho thấy, tỷ lệ tử vong ở bệnh nhi mắc phế cầu khuẩn xâm lấn là 8,8% (bình quân 11 trẻ mắc bệnh có 1 ca tử vong); còn khảo sát tại 2 bệnh viện nhi ở TP.HCM cho thấy, phế cầu khuẩn là tác nhân phổ biến nhất gây viêm màng não vi khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi (hơn 86%).
Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng TP.HCM, cho biết bệnh viện này tiếp nhận nhiều bệnh nhi viêm phổi nặng, viêm tai giữa tái phát và viêm màng não do phế cầu khuẩn.
Thực trạng kháng thuốc kháng sinh (vi khuẩn lờn thuốc) cũng được các chuyên gia đề cập. Tình trạng này khiến việc điều trị bệnh do phế cầu khuẩn gặp nhiều thách thức.
Theo Phó giáo sư Phạm Quang Thái, bức tranh dịch tễ phế cầu khuẩn ở trẻ em Việt Nam tiếp tục thay đổi theo thời gian, với sự đa dạng của các tuýp huyết thanh lưu hành. Giám sát dịch tễ liên tục và cập nhật dữ liệu khoa học là cơ sở cho các quyết định chuyên môn về y tế dự phòng.
Còn Phó giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Cao Hữu Nghĩa, Trưởng bộ môn Khoa học y sinh, Viện Pasteur TP.HCM, cho biết hiện bệnh do phế cầu khuẩn không chỉ là mối nguy ở nhóm trẻ nhũ nhi và trẻ dưới 5 tuổi mà còn có thể gây bệnh nặng và biến chứng ở một số trẻ lớn hơn có bệnh nền. Do đó, việc nhận diện đúng nhóm nguy cơ ở từng độ tuổi là quan trọng, giúp định hướng các biện pháp phòng ngừa phù hợp để giảm gánh nặng bệnh tật cho trẻ.
Giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Chủ tịch Hội Y học dự phòng Việt Nam, cho rằng việc dự phòng rất quan trọng. Có những bệnh nếu chúng ta chờ đến khi vào viện mới quan tâm thì thường đã muộn, đôi khi là những hậu quả nặng nề đối với trẻ. Bệnh do phế cầu khuẩn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em. Hiện nay, với tác động của ô nhiễm môi trường, quá trình đô thị hóa và tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh, khiến bức tranh bệnh tật do phế cầu khuẩn đang trở nên phức tạp hơn.
"Điều tôi muốn nhấn mạnh về vai trò của truyền thông báo chí trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bởi vì kiến thức y khoa nếu chỉ nằm trong bệnh viện, trong hội nghị hay trong các bài báo khoa học thì chưa đủ. Chỉ khi những thông tin đó được chuyển tải ra cộng đồng bằng ngôn ngữ dễ hiểu, chính xác và có trách nhiệm thì kiến thức mới thực sự trở thành giá trị", Giáo sư Phan Trọng Lân nói.