“Khi người dân được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả một cách công bằng, họ sẽ chủ động lựa chọn y học cổ truyền ngay từ cơ sở”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về công tác y học cổ truyền Việt Nam, chiều 20/5.
Theo ông, việc tích hợp dịch vụ kỹ thuật, bài thuốc cổ truyền chính thống vào danh mục BHYT chi trả là “chìa khóa” để đưa y học cổ truyền về gần nhân dân. Phát triển y học cổ truyền không phải là quay về phương thức cũ kỹ, thủ công mà phải kế thừa, phát triển tinh hoa của cha ông, trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại. Y học cổ truyền phải trở thành bộ phận hữu cơ của y học quốc gia, nguồn lực để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Các cơ quan nghiên cứu xây dựng một số mô hình thí điểm trung tâm chăm sóc sức khỏe, khu nghỉ dưỡng, khu dưỡng sinh, làng dược liệu, vùng phát triển dược liệu gắn với giảm nghèo bền vững và du lịch sinh thái.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý phải khẩn trương số hóa toàn bộ kho tàng, bài thuốc gia truyền, tri thức bản địa quý giá của các dân tộc Việt Nam; xây dựng hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền. Chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các lĩnh vực dược liệu, những bài thuốc có giá trị cao cần gắn với thương mại hóa và thị trường, có sự phối hợp giữa viện nghiên cứu, đại học với bệnh viện, doanh nghiệp địa phương.
“Nghiên cứu xây dựng, củng cố một số trung tâm y học cổ truyền mạnh mang tầm quốc gia và khu vực, không chỉ để khám, chữa bệnh mà còn là trung tâm nghiên cứu, đào tạo, bảo tồn, chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và quảng bá văn hóa y học Việt Nam”, ông nói và nhấn mạnh phát triển ngành công nghiệp dược liệu là ngành kinh tế, đồng bộ theo chuỗi từ giống, vùng trồng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, bào chế sản phẩm, thương hiệu và thị trường xuất khẩu.
Việc tích hợp Đông Tây y cần theo hướng chứng thực. Hai nền y học không thể đối lập mà phải bổ trợ hoàn hảo cho nhau. Để phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền, nguồn nhân lực chất lượng cao và giữ gìn y đức, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và kiểm soát chất lượng; khuyến khích và tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn dược phẩm lớn tham gia đầu tư nghiên cứu, chế biến sâu và phát triển chuỗi nhà thuốc y học cổ truyền.
“Phải biến các nhà thuốc đông y tư nhân, các phòng chẩn trị của lương y thành những cánh tay nối dài hiệu quả của mạng lưới y tế công; phải có chính sách đặc thù để phát hiện, tôn vinh, bảo tồn, ứng dụng rộng rãi các bài thuốc gia truyền, các phương pháp điều trị độc đáo đang giữ trong nhân dân, không để những di sản quý báu này bị mai một, thất truyền”, ông nói và yêu cầu kiên quyết xử lý, không dung thứ hành vi sai phạm, trục lợi trên sức khỏe nhân dân.
Các trường đại học y, dược cần cải cách chương trình đào tạo y bác sĩ y học cổ truyền. Người thầy thuốc y học cổ truyền phải am tường cả về y lý Đông y lẫn các thành tựu cận lâm sàng hiện đại của Tây y.
Đối với Đông y, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý trước hết là y đạo, không để thương mại hóa cực đoan, quảng cáo sai sự thật, chữa bệnh phản khoa học ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. Đây không chỉ là yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp mà còn là nền tảng để bảo vệ giá trị chân chính của nền y học cổ truyền dân tộc, gìn giữ niềm tin trong dân.
Việc xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam cần đẩy mạnh, gắn với kinh tế sức khỏe, du lịch chữa lành, xuất khẩu sản phẩm và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Thương hiệu này phải dựa trên ba trụ cột, bản sắc Việt Nam, bằng chứng khoa học về sản phẩm, dịch vụ đạt chuẩn quốc tế.
Bộ Y tế được giao sớm xây dựng và trình ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bà Trần Ngọc Sen (76 tuổi, khối phố Bàn Thạch, P.Hương Trà, TP.Đà Nẵng) trước đây làm giấy tờ phải đi nhiều lần, có khi thiếu giấy tờ lại phải về bổ sung. Nay cán bộ hướng dẫn rất kỹ, hồ sơ gần như hoàn chỉnh ngay từ đầu. Bà kể, có những thủ tục chỉ cần đi một lần là xong. "Người dân đánh giá rất cao cách làm việc của chính quyền mới khi tinh gọn, hiệu quả và gần dân hơn", bà nói.
Với P.Hương Trà, địa bàn đồng bằng với mật độ dân cư đông, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai trong bối cảnh khối lượng công việc tăng cao, trong khi cơ sở vật chất và dữ liệu chưa đồng bộ hoàn toàn. Đây là thách thức không nhỏ đối với đội ngũ cán bộ, công chức.
Áp lực công việc rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, nhưng cán bộ phường luôn nỗ lực hết mình để không làm gián đoạn quá trình giải quyết thủ tục. Minh chứng rõ ràng nhất là chỉ sau gần 1 tháng vận hành chính thức, phường đã trao 35 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người dân. Đến nay, số trường hợp được cấp giấy lần đầu đã gần chạm mốc 100.
Quy trình xử lý hồ sơ cũng trở nên minh bạch, rõ ràng hơn. Người dân có thể theo dõi tiến độ giải quyết thông qua hệ thống số hóa hoặc được hướng dẫn cụ thể ngay tại bộ phận tiếp nhận. Cũng đã có sự thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa chính quyền và người dân: trước đây người dân đôi khi e ngại khi tiếp cận cơ quan công quyền (do khoảng cách về thủ tục), nay sự gần gũi đã được cải thiện rõ rệt.
Mô hình 1 cửa điện tử đang là điểm sáng tại P.Hương Trà khi hầu hết các thủ tục đều được tiếp nhận và xử lý trên phần mềm, giúp giảm thiểu giấy tờ, tiết kiệm thời gian và hạn chế sai sót. "Tôi nộp hồ sơ qua mạng, thanh toán cũng trực tuyến nên không cần phải nghỉ làm để đi lại. Có vướng mắc thì gọi điện hoặc nhắn tin là được cán bộ hỗ trợ ngay. Chính quyền bây giờ rất gần gũi, không còn cảm giác xa cách như trước", anh Nguyễn Văn Nhật (36 tuổi, ở P.Hương Trà), chủ một hộ kinh doanh nhỏ, chia sẻ.
Nếu Hương Trà là câu chuyện của một phường đồng bằng với áp lực lớn về khối lượng công việc, thì Trà Tân lại là hình ảnh của một xã miền núi nỗ lực vượt khó để đưa dịch vụ công đến gần hơn với người dân.
Xã Trà Tân chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, nên hình ảnh cán bộ "cầm tay chỉ việc" không còn xa lạ do phần lớn người dân còn lúng túng trong việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Cán bộ phải dành nhiều thời gian để hướng dẫn từng bước, là yếu tố then chốt giúp nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Ông Hồ Văn Bảy (53 tuổi, ở xã Trà Tân) cho hay: "Nhà tôi ở xa trung tâm, trước đây mỗi lần đi làm giấy tờ là cả ngày. Giờ xã giải quyết được nhiều việc ngay tại chỗ, đỡ vất vả hơn rất nhiều. Ngoài ra, cán bộ thì nhiệt tình, hỏi gì cũng được giải thích rõ ràng".
Những ngày đầu áp dụng mô hình mới, cán bộ vùng cao Trà Tân gặp một số khó khăn do khối lượng công việc tăng lên. Tuy nhiên, nhờ được tập huấn và hướng dẫn kịp thời, mọi việc dần đi vào ổn định. Theo bà Hồ Thị Minh Diệu, Phó giám đốc Trung tâm phục vụ hành chính công xã Trà Tân, hiện nay quy trình đã rõ ràng hơn, trách nhiệm cũng cụ thể hơn, nên công việc trôi chảy hơn trước. "Nhiều người dân chưa quen với công nghệ, chúng tôi phải hướng dẫn từ việc tạo tài khoản, nộp hồ sơ đến thanh toán trực tuyến. Dù vất vả hơn, nhưng đổi lại người dân dần quen và chủ động", bà Diệu nói.
Dù điều kiện khác nhau, nhưng phường đồng bằng (Hương Trà) và xã miền núi (Trà Tân) đều có điểm chung: sự thay đổi trong tư duy phục vụ. Chính quyền không còn đứng trên, mà đã "đi cùng" người dân, hướng đến một mục tiêu là làm sao để người dân hài lòng.
Ông Trần Trung Hậu, Chủ tịch UBND P.Hương Trà, cho biết khi người dân đến làm thủ tục, cán bộ địa phương có thể xử lý nhanh chóng, không phải chờ xin ý kiến cấp trên quá nhiều như trước do có sự phân cấp mạnh hơn cho cơ sở. Trách nhiệm của từng cán bộ và niềm tin từ phía người dân cũng được nâng lên. "Cải cách hành chính không chỉ là cắt giảm thủ tục mà còn là thay đổi tư duy phục vụ. Cán bộ phải coi người dân là trung tâm, là đối tượng được phục vụ, từ đó điều chỉnh cách làm việc sao cho hiệu quả và thân thiện hơn", ông Hậu khẳng định.
Theo ông Hậu, địa phương đang nỗ lực xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ. Ở đó, 1 cửa không chỉ là mô hình mà là cam kết; trực tuyến không chỉ là công nghệ mà là công cụ để rút ngắn khoảng cách; gần dân không chỉ là khẩu hiệu mà là hành động cụ thể mỗi ngày. "Chúng tôi luôn tâm niệm rằng, mỗi hồ sơ không chỉ là một thủ tục mà là quyền lợi của người dân. Giải quyết nhanh, đúng và thuận tiện chính là cách tốt nhất để phục vụ nhân dân", ông Hậu nhấn mạnh.
Việc phân cấp mạnh cho cơ sở có ý nghĩa rất lớn đối với địa bàn miền núi như Trà Tân. Ông Lê Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Trà Tân, cho rằng cải cách hành chính ở miền núi không chỉ dừng ở việc tinh giản thủ tục mà còn phải gắn với điều kiện cụ thể của địa phương. Ví dụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần có sự linh hoạt, kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp để phù hợp với trình độ tiếp cận của người dân. "Lãnh đạo xã luôn yêu cầu cán bộ phải gần dân, hiểu dân và hỗ trợ đến nơi đến chốn", ông Chiến nói. (còn tiếp)
Chiều 1.6, Thủ tướng Lê Minh Hưng, Trưởng đoàn Kiểm tra, giám sát số 4 của Bộ Chính trị chủ trì hội nghị thông qua dự thảo Báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát (đợt 2) của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng.
Theo Thủ tướng, Hải Phòng là một trong những tỉnh, thành phố đã đạt được nhiều kết quả tích cực, có nhiều bài học kinh nghiệm tốt cần được đánh giá và nhân rộng.
Đặc biệt, thành phố đã chủ động cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính cao hơn nhiều yêu cầu của Trung ương. Theo đó, Trung ương yêu cầu cắt giảm 30%, nhưng Hải Phòng đã chủ động cắt giảm tới 50%; thời gian tuân thủ hiện vẫn đang tiếp tục được rà soát cắt giảm thêm.
"Trung ương xây dựng thể chế, chính sách, địa phương thực thi, nhưng môi trường kinh doanh có được cải thiện, có thu hút được nhà đầu tư hay không, phụ thuộc rất nhiều vào thủ tục hành chính ở địa phương và năng lực thực thi của các sở ngành, của các xã phường", Thủ tướng nhấn mạnh.
Về tăng trưởng kinh tế, Hải Phòng có tốc độ tăng trưởng GRDP liên tục đạt hai con số trong nhiều năm, riêng năm 2025 xấp xỉ đạt 11,9%, xếp thứ 2 cả nước. Quý 1/2026, kinh tế ước tăng 11,21%, tuy chưa đạt mục tiêu kịch bản đề ra (12%) nhưng đây vẫn là con số rất cao, đứng thứ 3 cả nước và dẫn đầu 6 thành phố trực thuộc Trung ương.
Đặc biệt, Hải Phòng nằm trong nhóm 5 địa phương có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất cả nước theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Thủ tướng nêu rõ, bên cạnh những kết quả tích cực, cần nhìn nhận thẳng thắn những khó khăn, thách thức, hạn chế và những vấn đề cần hoàn thiện.
Về tăng trưởng kinh tế, người đứng đầu Chính phủ cho rằng, Hải Phòng hoàn toàn có thể khai thác tốt hơn nữa tiềm năng và lợi thế, đạt kết quả tăng trưởng kinh tế tốt hơn; đồng thời cần đánh giá kỹ lưỡng hơn về sự bền vững trong thu ngân sách.
"Hải Phòng chắc chắn phải là một trong những tỉnh, thành phố đi đầu và đóng góp cho cả nước trong đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng theo Nghị quyết 57", Thủ tướng nhấn mạnh. Cùng với đó, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, gắn với chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong nước…
Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 từ 13 - 14% với Hải Phòng, Thủ tướng nêu rõ, cần tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết 226 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.Hải Phòng, đồng thời chủ động phối hợp với các bộ ngành Trung ương mạnh dạn đề xuất sửa đổi để tạo cơ chế rất mạnh cho Hải Phòng phát triển.
Thủ tướng cũng lưu ý, khẩn trương bàn giao mặt bằng triển khai dự án nhiệt điện khí Hải Phòng; phát triển mạnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trọng điểm như Tiên Lãng 1, Nam Đình Vũ, Khu công nghiệp và khu phi thuế quan Xuân Cầu…
Cùng đó, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là các dự án đường sắt qua địa bàn, cảng hàng không quốc tế Cát Bi (nhà ga T2), đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đường kết nối Đông Tây của Hải Phòng. Phát huy thế mạnh cảng biển, xây dựng hệ thống logistics, kinh tế biển hiện đại, có kết nối cao trong nước và quốc tế, sớm hoàn thiện thủ tục xây dựng bến cảng tại khu cảng Lạch Huyện…
Thủ tướng cũng cho rằng, Hải Phòng cần triển khai hiệu quả chương trình nhà ở xã hội, đặc biệt là nhà ở cho thuê theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Phát triển tốt nguồn nhân lực và có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao...
Sáng 10/4, ông Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết, áp thấp nhiệt đới trên vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương đã mạnh lên thành bão, có tên quốc tế là Sinlaku.
Đây là cơn bão thứ 4 hình thành trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương từ đầu năm 2026 đến nay.
Theo Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA), vào lúc 9h cùng ngày, tâm bão Sinlaku đang ở cách Philippines gần 3.000km về phía Đông.
Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão đạt cấp 9, giật cấp 12. Dự báo trong 2 ngày tới, bão gần như ít di chuyển nhưng tiếp tục mạnh lên nhanh.
Đến sáng 12/4, bão có khả năng đạt cấp 13. Sau đó, bão chủ yếu di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc rồi Tây Bắc với tốc độ khoảng 15km/h, cường độ có thể tăng lên cấp 15.
Cơ quan khí tượng nhận định, do chịu tác động của lưỡi áp cao cận nhiệt đới, bão Sinlaku nhiều khả năng di chuyển lên phía Bắc, sau đó chuyển hướng Tây Tây Bắc, tiến về khu vực phía nam Nhật Bản.
Hiện các yếu tố khí quyển và mô hình dự báo đều cho thấy khả năng bão đi vào Biển Đông là rất thấp.
Đây là dạng quỹ đạo điển hình của các cơn bão đầu mùa trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, thường di chuyển theo đường cong dạng parabol.
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia dự báo năm 2026, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng thấp hơn trung bình nhiều năm.
Theo thống kê, trung bình mỗi năm Biển Đông có khoảng 12,7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, trong đó khoảng 5,1 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta.
Tuy vậy, cơ quan khí tượng cảnh báo cần đặc biệt lưu ý nguy cơ xuất hiện các cơn bão mạnh, thậm chí rất mạnh, có thể tăng cường nhanh với quỹ đạo và thời điểm hoạt động phức tạp, khó dự báo.