Một trường hợp đau lòng xảy ra tại Đài Loan (Trung Quốc) gần đây, sau khi được chia sẻ lại trên mạng xã hội, đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng và giới chuyên gia y tế. Câu chuyện liên quan đến việc ăn mì để lâu ngày tưởng chừng đơn giản nhưng lại ẩn chứa những nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng, tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về thói quen bảo quản thực phẩm trong đời sống hằng ngày.
Người đàn ông 20 tuổi tử vong sau khi ăn mì để trong bếp khoảng 5 ngày. Điều đáng nói trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng như nôn mửa và tiêu chảy dữ dội. Tình trạng nhanh chóng diễn tiến xấu, dẫn đến hoại tử gan, nhiễm độc toàn thân và cuối cùng là suy đa cơ quan, không thể cứu chữa.
Theo bác sĩ Yen Tsung-hai, Trưởng khoa Độc chất học tại Bệnh viện Đa khoa Chang Gung Linkou Đài Loan (Trung Quốc), nguyên nhân nhiều khả năng liên quan đến hiện tượng được gọi là “hội chứng cơm chiên”, do vi khuẩn Bacillus cereus gây ra.
Sau khi thăm khám bác sĩ cho biết, nhiều người có thói quen nấu dư thức ăn, đặc biệt là cơm, mì hoặc các món giàu tinh bột, sau đó để ở nhiệt độ phòng trong thời gian dài rồi mới bảo quản lạnh hoặc hâm nóng lại. Đây là thói quen phổ biến trong sinh hoạt hằng ngày, nhưng lại tiềm ẩn rủi ro rất lớn về an toàn thực phẩm.
Trong điều kiện môi trường nóng ẩm, đặc biệt vào mùa hè khi nhiệt độ có thể vượt 30°C, thực phẩm dễ rơi vào “vùng nhiệt độ nguy hiểm” từ 7°C đến 60°C. Đây là khoảng nhiệt độ lý tưởng cho vi khuẩn sinh sôi nhanh chóng.
Nếu thực phẩm bị để ngoài môi trường quá lâu, vi khuẩn không chỉ phát triển mà còn có thể tạo ra độc tố. Điều đáng lo ngại là một số loại độc tố này có khả năng chịu nhiệt rất cao, nghĩa là dù đun sôi hay hâm nóng lại kỹ, chúng vẫn không bị phá hủy hoàn toàn.
“Hội chứng cơm chiên” là thuật ngữ y học dùng để chỉ tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra khi ăn phải cơm, mì hoặc các món giàu tinh bột đã để ở nhiệt độ phòng quá lâu và bị nhiễm Bacillus cereus.
Loại vi khuẩn này đặc biệt nguy hiểm vì có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt và sản sinh độc tố gây nôn hoặc tiêu chảy. Khi số lượng vi khuẩn tăng lên cao, độc tố được tạo ra có thể gây ra các triệu chứng cấp tính như:
– Buồn nôn dữ dội
– Nôn ói liên tục
– Đau bụng quặn thắt
– Tiêu chảy cấp
Trong các trường hợp nặng, độc tố có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến gan, thận, hệ thần kinh và dẫn đến suy đa tạng hoặc tử vong.
Điều nguy hiểm hơn là thực phẩm nhiễm khuẩn thường không có mùi hôi, không đổi màu và không có dấu hiệu hư hỏng rõ rệt, khiến người dùng dễ chủ quan. Nhiều người tin rằng chỉ cần hâm nóng lại là có thể an toàn, nhưng theo bác sĩ, đây là hiểu lầm cực kỳ nguy hiểm.
Theo các nghiên cứu được bác sĩ dẫn lại, độc tố do Bacillus cereus sản sinh có khả năng chịu nhiệt rất cao. Ngay cả khi được đun ở nhiệt độ lên đến khoảng 120°C trong thời gian dài, một phần độc tố vẫn có thể tồn tại.
Trong khi đó, các phương pháp nấu ăn thông thường như lò vi sóng, xào hoặc hâm nóng chỉ đạt khoảng 100°C trong thời gian ngắn, hoàn toàn không đủ để phá hủy độc tố.
Điều này đồng nghĩa với việc dù thực phẩm có được “đun sôi kỹ”, nguy cơ ngộ độc vẫn có thể xảy ra nếu vi khuẩn đã kịp sinh độc tố trước đó.
Ngoài “hội chứng cơm chiên”, bác sĩ Yen cũng cảnh báo nhiều loại vi khuẩn khác thường gây ngộ độc thực phẩm trong mùa hè:
– Salmonella: Thường xuất hiện trong trứng sống, thịt gia cầm hoặc thực phẩm chưa nấu chín kỹ. Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến gây ngộ độc thực phẩm nặng, đặc biệt nguy hiểm với trẻ nhỏ và người có hệ miễn dịch yếu.
– Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus): Vi khuẩn này có thể tồn tại trong nhiều loại thực phẩm như thịt, sữa, salad, bánh ngọt. Chúng phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ từ 35–37°C và có khả năng sản sinh độc tố gây ngộ độc cấp tính.
– Các nhóm vi khuẩn đường ruột khác: Ngoài ra còn nhiều tác nhân khác có thể gây rối loạn tiêu hóa, sốt, mất nước và biến chứng nặng nếu không được xử lý kịp thời.
Bác sĩ nhấn mạnh rằng ngộ độc thực phẩm không chỉ gây khó chịu tạm thời, mà trong một số trường hợp có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt ở:
– Người cao tuổi.
– Trẻ nhỏ.
– Phụ nữ mang thai.
– Người mắc bệnh mạn tính như tiểu đường, xơ gan, suy thận.
Ở các nhóm này, khả năng chống lại nhiễm trùng yếu hơn, nên nguy cơ tiến triển thành nhiễm trùng huyết hoặc suy đa tạng cao hơn đáng kể.
Trước tình hình các ca ngộ độc thực phẩm gia tăng vào mùa nóng, chuyên gia đưa ra 5 nguyên tắc quan trọng:
– Bảo quản thực phẩm đúng thời gian vàng
Thức ăn đã nấu chín cần được làm lạnh trong vòng 1 giờ sau khi nấu. Nếu để ở nhiệt độ phòng quá lâu, nguy cơ vi khuẩn phát triển tăng mạnh. Tốt nhất nên đưa vào tủ lạnh ở khoảng 4°C càng sớm càng tốt.
– Hạn chế sử dụng đồ ăn thừa
Thức ăn đã bảo quản lạnh chỉ nên sử dụng trong vòng 24 giờ. Không nên hâm đi hâm lại nhiều lần vì làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.
– Nấu chín kỹ thực phẩm giàu đạm
Thịt và trứng cần được nấu chín hoàn toàn, đảm bảo nhiệt độ bên trong đạt trên 70°C để tiêu diệt vi khuẩn.
– Tránh nhiễm chéo trong chế biến
Dao, thớt dùng cho thực phẩm sống và chín phải được tách biệt hoàn toàn để tránh lây nhiễm vi khuẩn.
– Không nấu ăn khi đang bị bệnh
Người đang mắc các bệnh đường tiêu hóa hoặc có vết thương hở nên hạn chế tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm để tránh nguy cơ lây lan vi khuẩn, theo Health 2.0.
Các chuyên gia y tế nhấn mạnh rằng an toàn thực phẩm không chỉ phụ thuộc vào việc “nấu chín kỹ” hay “hâm nóng lại”, mà quan trọng nhất là cách bảo quản ngay từ ban đầu. Chỉ một sai sót nhỏ trong khâu lưu trữ thực phẩm cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Bệnh nhân N.T.T (43 tuổi, phường Hà Lầm, Quảng Ninh) được đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh trong tình trạng tụt huyết áp, sốt kéo dài, mệt mỏi, đau nhức toàn thân.
Trước đó khoảng 5 ngày, người bệnh xuất hiện các triệu chứng ho, sốt, mệt nhiều đã tự uống thuốc tại nhà. Tuy nhiên, tình trạng ngày càng nặng nên gia đình đưa người bệnh vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh cấp cứu.
Qua thăm khám và thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây bệnh whitmore. Trong quá trình điều trị, tình trạng bệnh diễn biến nhanh, phức tạp. Người bệnh rơi vào sốc nhiễm khuẩn, suy hô hấp, suy thận cấp và tổn thương cơ tim. Mặc dù đã được áp dụng đồng thời nhiều biện pháp hồi sức tích cực, kháng sinh phối hợp, dùng thuốc vận mạch liều cao để duy trì huyết áp, nhưng tình trạng tuần hoàn vẫn không cải thiện.
Các bác sĩ hồi sức đánh giá đây là trường hợp nhiễm khuẩn huyết biến chứng sốc nhiễm khuẩn kèm bệnh cơ tim do Sepsis, một biến chứng rối loạn chức năng tim nguy hiểm tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời.
Hội chẩn khoa quyết định triển khai kỹ thuật ECMO-VA (tim phổi nhân tạo phương thức hỗ trợ tuần hoàn). Đây là kỹ thuật hồi sức chuyên sâu được chỉ định cho những trường hợp suy tuần hoàn nặng khi các phương pháp điều trị thông thường không còn hiệu quả. Các bác sĩ hồi sức đã nhanh chóng thiết lập hệ thống ECMO-VA, thay thế tạm thời chức năng bơm máu của tim và hỗ trợ trao đổi oxy cho cơ thể, tạo điều kiện để các cơ quan tổn thương có thời gian hồi phục.
Sau 4 ngày hồi sức tích cực với ECMO-VA, thở máy, lọc máu và kháng sinh theo kháng sinh đồ, người bệnh ổn định, chức năng tim hồi phục tốt, được dừng ECMO và rút ống nội khí quản.
Hiện người bệnh tỉnh táo, tiếp xúc tốt, tự vận động đi lại được, mạch huyết áp ổn định.
Whitmore là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra, có biểu hiện lâm sàng đa dạng và dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh lý nhiễm trùng khác. Vi khuẩn thường tồn tại trong đất, nước và xâm nhập vào cơ thể qua các vết xây xát trên da, đường hô hấp hoặc khi tiếp xúc với môi trường ô nhiễm. Bệnh có thể tiến triển nhanh thành nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan, đặc biệt ở những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh gan, thận hoặc phổi mạn tính.
Các bác sĩ khuyến cáo, Việt Nam là vùng dịch tễ lưu hành bệnh Whitmore. Người dân không nên chủ quan khi xuất hiện các biểu hiện sốt kéo dài, mệt mỏi toàn thân hoặc có các ổ viêm, áp xe nhiều nơi trên cơ thể, đặc biệt ở những người có bệnh nền. Việc thăm khám sớm giúp phát hiện và điều trị kịp thời, hạn chế nguy cơ biến chứng nguy hiểm.
Đằng sau những tấm thẻ xác nhận khuyết tật đối vớinhiều trường hợp sẽ là một hành trình đi xa và vất vả.
Thương mẹ, từ một người phụ nữ từng đi chợ, làm vườn, chăm lo mọi việc trong nhà, mẹ trở thành người cần được chăm sóc.
Gia đình tôi sau đó làm hồ sơ để mẹ được hưởng chế độ trợ cấp ở diện là con liệt sĩ bị khuyết tật (ông ngoại tôi là liệt sĩ, bà ngoại là thương binh). Khoản hỗ trợ hàng tháng tuy không lớn, nhưng phần nào giúp trang trải chi phí thuốc men cho mẹ. Chúng tôi rất biết ơn về sự hỗ trợ này, vì gia đình thuộc diện khó khăn và neo đơn. Nhưng để có được tấm giấy xác nhận ấy, hành trình với chúng tôi đúng là hành trình những chuyến đi xa.
Vì mẹ thuộc diện con liệt sĩ (theo quy định về thủ tục hành chính trường hợp thân nhân là conbị khuyết tật nặng phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh - TT) nên mẹ không thể chỉ khám ở xã như diện khuyết tật thông thường, mà phải nhiều lần xuống bệnh viện tuyến tỉnh theo chỉ định để khám và hoàn tất hồ sơ.
Quãng đường cả đi lẫn về hơn 100 cây số, trong khi mẹ không thể tự đi lại. Mỗi lần như vậy, gia đình đều phải thuê xe taxi, vì tuyến đường và phương tiện công cộng ở ngoài quê không phù hợp cho người ngồi xe lăn.
Chi phí khám bệnh, chi phí di chuyển, thời gian chờ đợi… tất cả dồn lại thành một gánh nặng không nhỏ cho mấy mẹ con. Thật vất vả, để được xác nhận là "khó khăn", người ta lại phải vượt qua một hành trình cũng khá khó khăn
Câu chuyện của mẹ tôi không phải là cá biệt. Nhiều người khuyết tật ở diện con em liệt sĩ, đặc biệt ở vùng nông thôn, đang gặp những rvtương tự khi tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Tôi nghĩ, một trong những điều cần được cải thiện là cách thức triển khai. Thay vì yêu cầu người khuyết tật di chuyển xa để thẩm định, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể tổ chức các đợt khám, đánh giá tại địa phương cấp thôn, xã. Việc cử đội ngũ y bác sĩ đến tận nơi, thậm chí là tận nhà (trường hợp nhiều người neo đơn, không thể đi lại,..) không chỉ giảm chi phí cho người dân, mà còn thể hiện sự chủ động của chính sách.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cũng cần được đơn giản hóa. Việc phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ phức tạp vô tình khiến nhiều người nản lòng, thậm chí từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình. Một chính sách nhân văn không chỉ nằm ở nội dung hỗ trợ, mà còn ở cách nó đến được với người cần.
Ngoài chính sách trợ cấp, vấn đề lớn hơn là khả năng tiếp cận các tiện ích và cơ hội việc làm của người khuyết tật.
Nhiều công trình công cộng vẫn thiếu lối đi cho xe lăn. Phương tiện giao thông chưa thân thiện. Nơi làm việc hiếm khi được thiết kế phù hợp. Điều đó khiến người khuyết tật, dù có năng lực, vẫn khó hòa nhập.
Để thay đổi điều này, cần có những quy định rõ ràng hơn về thiết kế không gian tiếp cận trong xây dựng, giao thông và môi trường làm việc.
Người khuyết tật không cần được "ưu tiên" theo nghĩa đặc biệt, mà cần một môi trường đủ công bằng để họ có thể tự bước đi theo cách của riêng mình.
Sau những tháng ngày đầu đầy tuyệt vọng, mẹ tôi dần học cách sống cùng chiếc xe lăn. Bà tập làm lại những việc nhỏ, từ việc tự di chuyển trong nhà, đến việc nấu ăn, chăm sóc bản thân. Có những ngày mẹ buồn, có những lúc mệt mỏi, nhưng bà không cho phép mình dừng lại quá lâu. Bà vẫn lọ mọ làm những việc trong khả năng để ngày trôi qua có ý nghĩa.
"Tàn nhưng không phế" - câu nói tưởng chừng quen thuộc ấy, với mẹ tôi, không phải là khẩu hiệu, mà là một hành trình.
Người khuyết tật, hơn ai hết, cần vượt qua chính mình. Nhưng để làm được điều đó, họ cần một môi trường không rào cản, một xã hội không định kiến, và một hệ thống chính sách đủ thấu hiểu.
Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, mà còn bằng cách nó đối xử với những người yếu thế nhất.
Người khuyết tật không cần những lời hứa lớn lao. Họ cần những thay đổi cụ thể từ chính sách thuận tiện hơn, không gian dễ tiếp cận hơn, và một ánh nhìn công bằng hơn từ cộng đồng.
"Có học sinh chạy không kịp, đi nặng luôn trong lớp. Tôi phải lấy nước lau dọn, xịt dầu gió để bớt mùi và dỗ dành các em vì sợ bị bạn bè trêu chọc", cô giáo Lê Thị Cúc kể.
Điểm trường làng Tpé 2 thuộc Trường Tiểu học và THCS Chơ Glong, xã Chơ Long nằm lọt thỏm giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có 75 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 theo học, nhưng không có nhà vệ sinh. Mỗi khi có nhu cầu, học sinh và giáo viên phải ra các bụi cây quanh trường.
Năm học 2025 - 2026, riêng lớp 1 và lớp 2 do cô Cúc phụ trách xảy ra 3-4 trường hợp học sinh đi vệ sinh ra quần. Do phụ huynh đi làm rẫy, cô giáo phải chở học sinh về thay quần áo rồi đưa trở lại lớp. Điểm trường hiện chỉ có hai phòng học. Vì thiếu phòng, một lớp phải chuyển sang học nhờ ở điểm trường khác cách hơn một km. Mỗi tuần, học sinh học 9 buổi tại trường.
Giáo viên cũng gặp bất tiện suốt nhiều năm qua. Cô Cúc và đồng nghiệp phải đợi học sinh về hết hoặc tranh thủ giờ nghỉ để giải quyết nhu cầu cá nhân. Hai giáo viên thường phải thay nhau, một người đi vệ sinh, một người đứng canh. Việc xin đi nhờ nhà dân xung quanh gặp khó khăn do giáo viên e ngại, đặc biệt trong giờ dạy hoặc khi chỉ có nam giới.
"Nhiều năm nay giáo viên đã kiến nghị với nhà trường, với các đoàn thiện nguyện nhưng chưa thực hiện được", cô Cúc cho biết.
Ông Phạm Đình Long, Chủ tịch UBND xã Chơ Long, cho biết địa bàn xã rộng, dân cư không tập trung. Toàn xã có 4 trường học với tổng số 1.836 học sinh. Ngoài điểm trường Tpé 2, còn hai điểm trường khác với hơn 100 giáo viên, học sinh cũng đang thiếu công trình vệ sinh. Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn ở mức cao. Những khó khăn đó phần nào ảnh hưởng đến công tác giáo dục, chăm sóc và tạo điều kiện học tập cho con em.
Cách đó hàng chục km, điểm trường làng Hrach Kôn thuộc Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Chư Krey cũng chung tình trạng. Điểm trường nằm cách trường chính 12 km, có 32 học sinh và ba giáo viên. Không có nhà vệ sinh, cô trò phải tìm đến những bụi cây ven làng.
Cô giáo Lê Thị Hoa cho biết mỗi lần đi vệ sinh phải quan sát xung quanh xem có người qua lại hay không. Vào những ngày mưa, các bụi cây ẩm ướt, trơn trượt. Nhiều học sinh trở lại lớp với quần áo ướt sũng.
Theo ông Nguyễn Xuân Ân, Hiệu trưởng nhà trường, ngoài điểm trường Hrach Kôn còn 4 điểm trường lẻ khác chưa được đầu tư. Tổng cộng hơn 200 giáo viên và học sinh của trường đang sinh hoạt trong điều kiện không có nhà vệ sinh đạt chuẩn.
Ở nhiều nơi, một nhà vệ sinh trường học là công trình bình thường. Nhưng tại các điểm trường vùng sâu Gia Lai, đó vẫn là mong ước kéo dài nhiều năm. "Mong muốn lớn nhất của chúng tôi bây giờ chỉ là học sinh có một nhà vệ sinh đàng hoàng để sử dụng mỗi ngày", cô Cúc nói.
Với những đứa trẻ người Ba Na, Jrai, có được nhà vệ sinh không chỉ giúp các em sinh hoạt thuận tiện hơn mà còn bảo đảm sức khỏe, sự an toàn và lòng tự trọng. Còn với những giáo viên cắm bản như cô Cúc hay cô Hoa, đó là điều kiện tối thiểu để họ yên tâm bám lớp, bám trường.