Người bệnh nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, nấc cụt liên tục, khó thở nặng nôn sau uống rượu. Ban đầu, các triệu chứng dễ nhầm lẫn với bệnh lý tim mạch hoặc hô hấp, tuy nhiên qua thăm khám lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và nội soi, các bác sĩ xác định đây là trường hợp vỡ thực quản tự phát – một cấp cứu ngoại khoa cực kỳ nguy hiểm.
TS.BS Nguyễn Xuân Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Tiêu hóa và Bệnh lý sàn chậu, cho hay ca bệnh đặc biệt phức tạp do tổn thương nằm ở 1/3 dưới thực quản – vị trí khó tiếp cận. Êkíp phải cân nhắc giữa phẫu thuật đường ngực hay đường bụng để xử trí. Sau hội chẩn chuyên sâu và đánh giá kỹ lưỡng qua nội soi, các bác sĩ quyết định lựa chọn tiếp cận qua đường bụng để phẫu tích và khâu lại thực quản.
Trong phẫu thuật, kỹ thuật này đòi hỏi kinh nghiệm cao bởi đường bụng chỉ cho phép tiếp cận thực quản trong phạm vi khoảng 8 – 10 cm. Nếu đánh giá sai vị trí tổn thương, phẫu thuật viên có thể gặp rất nhiều khó khăn trong xử trí.
“Điều quan trọng nhất với hội chứng Boerhaave là thời gian. Nếu được chẩn đoán trong vòng 24 giờ đầu, khả năng khâu bảo tồn thực quản và cứu sống người bệnh sẽ cao hơn rất nhiều”, TS Hòa nói.
Sau phẫu thuật 5 ngày, người bệnh đã có thể ngồi dậy, được rút dẫn lưu màng phổi. Kết quả chụp kiểm tra cho thấy thực quản liền tốt, không còn rò dịch. Người bệnh được rút ống thông dạ dày và tập ăn qua đường miệng, sau 3 – 4 tuần có thể ăn uống bình thường.
Trước đây, khi phương tiện chẩn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức và kỹ thuật ngoại khoa còn hạn chế, nhiều bệnh nhân tử vong hoặc để lại biến chứng nặng nề. Hiện nay, nhờ sự phát triển của chẩn đoán hiện đại, trình độ phẫu thuật chuyên sâu cùng hồi sức tích cực, phần lớn người bệnh đã được cứu sống thành công.
Các bác sĩ cho biết, cơ chế thường gặp của hội chứng Boerhaave là sau khi uống nhiều rượu, người bệnh nôn dữ dội làm áp lực trong thực quản tăng đột ngột dẫn tới rách, vỡ thực quản. Điều nguy hiểm là triệu chứng ban đầu có thể chỉ là đau ngực, khó thở hoặc nấc cụt nên nhiều người chủ quan.
Người dân không nên lạm dụng rượu bia. Nếu sau uống rượu xuất hiện nôn liên tục, đau ngực, khó thở hoặc nấc cụt kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế có chuyên khoa sâu về tiêu hóa và thực quản để được chẩn đoán, xử trí kịp thời, tránh nguy cơ tử vong.
Chuối là loại trái cây giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều kali có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, theo chuyên gia dinh dưỡng Aviv Joshua (Mỹ), chuối cũng chứa lượng đường tự nhiên nên có thể làm tăng đường huyết. Mức độ tăng này phụ thuộc nhiều vào khẩu phần ăn và độ chín của chuối.
Một quả chuối chín cỡ trung bình có chỉ số đường huyết GI khoảng 51 (thấp), nhưng chỉ số tải lượng đường huyết là 13 (ở mức trung bình). Khi chuối chín, tinh bột chuyển hóa thành đường, làm tăng chỉ số GI. Theo đó, chuối xanh (chưa chín) có GI thấp nhất (30 - 40), giúp đường huyết ổn định hơn. Ngược lại, chuối quá chín có GI cao nhất (65-70), khiến đường huyết tăng nhanh hơn.
Để thưởng thức chuối mà không gây tăng đột biến đường huyết, chuyên gia Joshua đưa ra lời khuyên đơn giản sau đây:
Chọn chuối xanh hoặc chưa chín: Hàm lượng tinh bột kháng cao trong chuối xanh giúp làm chậm quá trình tiêu hóa, giữ chỉ số GI thấp.
Lưu ý khẩu phần: Chọn quả nhỏ hơn hoặc chia nhỏ quả lớn để ăn rải rác trong ngày.
Kết hợp thực phẩm: Ăn chuối cùng protein, chất xơ hoặc chất béo lành mạnh (như các loại hạt, sữa chua, yến mạch) để trì hoãn sự tăng đường huyết.
Bảo quản lạnh: Giữ chuối trong tủ lạnh giúp làm chậm quá trình chín, trì hoãn việc chuyển hóa tinh bột thành đường và duy trì chỉ số GI thấp.
Đối với người tập thể dục, chuối là lựa chọn phổ biến vì carbohydrate cung cấp nguồn năng lượng nhanh chóng, còn kali hỗ trợ chức năng cơ bắp.
Hiệp hội Tiểu đường Mỹ khẳng định: Đối với hầu hết mọi người (kể cả người bệnh tiểu đường), chuối hoàn toàn có thể là một phần trong chế độ ăn uống cân bằng nếu bạn chú ý đến độ chín, khẩu phần và cách kết hợp thực phẩm đi kèm, theo trang tin sức khỏe Verywell Health.
Theo đó, sau khi báo Dân trí đăng tải bài viết về sự cố biến chứng thẩm mỹ sau khi hút mỡ tại phòng khám, lãnh đạo Sở Y tế TPHCM đã chuyển thông tin sự việc đến phòng Kiểm tra - Pháp chế của đơn vị. Phía phòng khám liên quan đã được cơ quan chức năng mời lên làm việc.
Đến chiều 16/5, đại diện phòng Kiểm tra - Pháp chế, Sở Y tế TPHCM cho biết, hồ sơ kiểm tra vụ việc đã hoàn tất và đang được trình lên cấp trên để xử lý theo quy định.
Như đã thông tin, ngày 8/5, một phụ nữ 53 tuổi (ngụ tại TPHCM) được chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu trong tình trạng co giật, hôn mê độ 3. Trước đó, bệnh nhân thực hiện thủ thuật hút mỡ vùng hông lưng và vùng cằm tại một phòng khám ở khu vực phường Chợ Lớn (TPHCM).
Bệnh nhân được các bác sĩ khoa Cấp cứu xử lý ổn định về huyết áp, hô hấp và tuần hoàn, sau đó chuyển lên khoa Bệnh Nhiệt đới để tiếp tục theo dõi, với chẩn đoán ngộ độc thuốc tê Lidocaine.
BSCKII Đỗ Thị Ngọc Khánh, Phó trưởng khoa Bệnh Nhiệt đới chia sẻ, ê-kíp điều trị đã xử trí cho bệnh nhân theo đúng phác đồ giải độc Lidocaine, đồng thời sử dụng đầy đủ các trang thiết bị y tế hiện đại, phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa liên quan để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị cho người phụ nữ.
Theo một bác sĩ chuyên khoa thẩm mỹ, nếu bệnh nhân thực hiện dịch vụ hút mỡ tại các cơ sở không bảo đảm điều kiện chuyên môn hoặc do người thực hiện chưa đủ năng lực chuyên môn dễ gây nhiều biến chứng như bầm tím, sưng tấy, lồi lõm, khó phục hồi về mặt thẩm mỹ. Nặng hơn, bệnh nhân có thể nhiễm trùng máu, thuyên tắc mạch phổi, tắc mạch máu… và nguy hiểm tính mạng.
Ngoài ra, ngộ độc thuốc tê trong quá trình can thiệp có thể xảy ra khi nồng độ thuốc tê trong máu tăng cao đột ngột, gây độc cho hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch. Đây là một tình trạng cấp cứu y khoa.
Các nghiên cứu trên thế giới cho biết, tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật hút mỡ khoảng 2,6%. Nếu bệnh nhân thực hiện dịch vụ này ở những cơ sở không uy tín, bác sĩ phẫu thuật tay nghề kém thì tỷ lệ biến chứng sẽ lớn hơn rất nhiều.
Các chuyên gia khuyến cáo về 5 tiêu chuẩn an toàn cần có trong phẫu thuật thẩm mỹ. Đó là "bệnh nhân an toàn", "bác sĩ an toàn", "phẫu thuật an toàn", "cơ sở an toàn" và "quản lý an toàn".
Thạc sĩ, dược sĩ Đoàn Thành Luân, Phó trưởng Bộ môn Dược học cổ truyền, Khoa Y học cổ truyền, Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết viêm gan B hiện chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Giai đoạn cấp tính thường tự phục hồi sau 6 tháng. Tuy nhiên, nếu bệnh kéo dài hơn (mạn tính), diễn biến sẽ phức tạp, đòi hỏi phải dùng thuốc và theo dõi định kỳ với tỷ lệ khỏi bệnh rất thấp.
Trước nỗi lo ngại về tác dụng phụ của thuốc hay viễn cảnh phải điều trị duy trì kéo dài, không ít người bệnh đã tự ý sử dụng thảo dược với hy vọng về một giải pháp "thanh lọc" cơ thể an toàn. Đó là lý do cà gai leo bỗng chốc trở thành một trong những cái tên "phủ sóng" khắp các diễn đàn, được ca tụng là "thần dược'" có thể thay thế thuốc đặc trị viêm gan B.
Cà gai leo có tên khoa học là Solanum procumpens Lour. Cà gai leo được sử dụng trong dân gian để điều trị các bệnh về gan như viêm gan, xơ gan và men gan cao. Theo các nghiên cứu hiện nay, cà gai leo chứa các hợp chất nhóm glycoalkaloid, đây là nhóm chất quan trọng có tác dụng bảo vệ gan, giải độc gan, làm hạ men gan, làm chậm tiến triển của xơ gan.
Ngoài ra đây cũng là một trong những dược liệu hiếm hoi có các nghiên cứu trên lâm sàng, các nghiên cứu trên bệnh nhân viêm gan B mạn tính tại các bệnh viện lớn là Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện 354, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã chứng minh hoạt chất glycoalkaloid trong cà gai leo có tác dụng hỗ trợ điều trị viêm gan virus, bệnh nhân đều cải thiện nhanh các triệu chứng bệnh như vàng da, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, đau tức hạ sườn…
Theo thạc sĩ, dược sĩ Đoàn Thành Luân, dù sở hữu những hoạt chất quý giá cho gan, nhưng về mặt bản chất y học, cà gai leo không thể thay thế phác đồ điều trị viêm gan đặc hiệu, đặc biệt là đối với virus viêm gan B. Trong khi các loại thuốc kháng virus như entecavir hay tenofovir tác động trực tiếp vào vòng đời của virus thông qua cơ chế ức chế enzyme sao chép ngược, từ đó ức chế sự nhân lên của virus, giúp đưa nồng độ virus về dưới ngưỡng phát hiện, thì cà gai leo chủ yếu đóng vai trò "giải quyết hậu quả".
Các hoạt chất như glycoalkaloid chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tế bào gan khỏi sự tấn công của các gốc tự do, giảm viêm và làm chậm quá trình xơ gan. Thực tế lâm sàng cho thấy, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào chứng minh cà gai leo có thể tiêu diệt hoàn toàn virus hay thay thế được khả năng kiểm soát virus bền vững của thuốc tây.
"Việc tự ý ngưng thuốc điều trị để chuyển sang dùng cà gai leo không chỉ khiến nồng độ virus bùng phát mạnh mẽ mà còn làm tăng nguy cơ kháng thuốc, đẩy người bệnh vào tình trạng suy gan cấp tính hoặc ung thư gan tiến triển nhanh chóng. Do đó, việc sử dụng cà gai leo chỉ nên được coi là một liệu pháp bổ trợ dưới sự theo dõi của bác sĩ, thay vì là một phương pháp thay thế hoàn toàn phác đồ điều trị", thạc sĩ Đoàn Thành Luân chia sẻ.