Để chuẩn bị cho luận văn tốt nghiệp, nam sinh chi hơn 1.000 nhân dân tệ (khoảng 3,8 triệu đồng) mua gối cao su non hỗ trợ giấc ngủ sâu, cai caffeine và thiết bị điện tử trước khi ngủ. “Tôi biết đây chỉ là giải pháp tình thế nhưng vẫn muốn thử”, Cheng nói khi tâm trí liên tục bị bủa vây bởi áp lực luận văn và nỗi lo việc làm. “Cơ thể tôi đã kiệt sức nhưng não không thể dừng lại. Trạng thái đó giống như một trình duyệt đang mở đồng thời 30 tab và không thể tìm thấy tab nào đang phát ra âm thanh”.
Những đêm trằn trọc của Cheng không phải là câu chuyện cá biệt mà đang phản ánh một xu hướng đáng báo động trên quy mô quốc gia. Theo nghiên cứu trên 100.000 người của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch biến (CDC) Trung Quốc, thời gian ngủ trung bình của người dân từ 15 tuổi trở lên đã giảm xuống chỉ còn 7,24 giờ mỗi đêm, so với con số gần 7,5 giờ của hai thập kỷ trước. Mức giảm khoảng 15 phút nghe có vẻ nhỏ nhưng xét trên quy mô dân số 1,4 tỷ người, các nhà nghiên cứu cảnh báo đây là một mối quan ngại lớn với sức khỏe cộng đồng.
Số liệu cũng chỉ ra trung bình, người trưởng thành tại Trung Quốc phải nằm trằn trọc khoảng nửa tiếng mới có thể vào giấc. Con số này thậm chí còn cao hơn ở nhóm trẻ tuổi, những người có xu hướng thức khuya hơn, mất nhiều thời gian để ngủ hơn và ngày càng phụ thuộc vào các sản phẩm hỗ trợ hoặc thuốc ngủ.
Giấc ngủ đã trở thành một cuộc chiến và với nhiều người, đó là một bệnh lý cần can thiệp y tế. Sách trắng năm 2024 của Hội Nghiên cứu Giấc ngủ Trung Quốc cho thấy sinh viên đại học thế hệ sinh sau năm 2000 dành trung bình 8 giờ mỗi ngày trước màn hình điện tử và nhiều người chỉ chịu đặt điện thoại xuống khi đã quá nửa đêm.
Khi các liệu pháp thông thường không còn hiệu quả, những người mất ngủ buộc phải tìm đến biện pháp can thiệp mạnh hơn. Vật lộn với chứng mất ngủ mạn tính hơn hai năm, anh Li, nhân viên văn phòng 28 tuổi ở thành phố Quảng Châu, phải dùng đến thuốc ngủ kê đơn và Đông y sau khi các liệu pháp thông thường không có hiệu quả.
Anh phải uống luân phiên zopiclone và zolpidem dù lo sợ tác dụng phụ như mệt mỏi hay mộng du. Hiện Li duy trì uống thuốc 2-3 đêm mỗi tuần dù biết đây là thói quen không thể kéo dài. “Uống thuốc vào tôi ngủ cũng chẳng ngon giấc nhưng nếu không có thuốc thì hoàn toàn không thể ngủ được”, Li chia sẻ.
Bác sĩ Pan Jiyang, Giám đốc Trung tâm Y học Giấc ngủ thuộc Bệnh viện Thống nhất số 1 của Đại học Ký Nam (Quảng Đông), nhận thấy xu hướng trẻ hóa bệnh nhân rối loạn giấc ngủ ngay tại phòng khám của ông. Khoa y học giấc ngủ, nơi một thập kỷ trước chủ yếu điều trị cho bệnh nhân trung niên và người cao tuổi, giờ đây đang chứng kiến làn sóng bệnh nhân ở độ tuổi 20 và đầu 30 tăng vọt.
Các lịch hẹn khám vốn trước đây rất dễ đăng ký thì nay trở nên khan hiếm, thời gian chờ đợi tại các bệnh viện lớn kéo dài đến vài tuần. Độ tuổi của bệnh nhân đã giảm đáng kể và tình trạng bệnh lý của họ thường không liên quan đến sự suy giảm chức năng sinh lý do tuổi tác mà gắn liền với các hội chứng lo âu, áp lực nghề nghiệp và sự kiệt quệ về mặt cảm xúc.
Với các bác sĩ lâm sàng chuyên khoa nhi và vị thành niên, chứng mất ngủ hiếm khi là một bệnh lý độc lập mà là biểu hiện bề nổi rõ ràng nhất của những bất ổn tâm lý sâu sắc hơn. Bác sĩ Ni Zhe, Phó trưởng khoa Dịch vụ Tâm lý Xã hội thuộc Trung tâm Sức khỏe Tâm thần, Đại học Y Chiết Giang, cho hay làn sóng rối loạn giấc ngủ ở người trẻ phản ánh thực trạng đáng báo động về sức khỏe tâm lý vị thành niên. Việc học sinh sợ đi học hoặc phải nghỉ học chữa bệnh tăng cao chính là hệ quả trực tiếp từ các rối loạn lo âu và trầm cảm tiềm ẩn.
“Trong công tác lâm sàng, chúng tôi ghi nhận ba hiện tượng gần như luôn xuất hiện đồng thời là: rối loạn giấc ngủ, lạm dụng Internet và mất kết nối xã hội. Chúng tạo thành một vòng xoắn bệnh lý nguy hiểm”, bác sĩ Ni nói.
Người bệnh bị lệch khỏi nhịp sinh học bình thường khi ăn uống không điều độ, lười vận động và hệ quả tất yếu là hệ thần kinh không thể thiết lập lại giấc ngủ tự nhiên.
Theo bác sĩ Ni, nguyên nhân gốc rễ nằm ở vùng vỏ não trước trán chưa hoàn thiện của người trẻ, nơi vốn có nhiệm vụ kiểm soát và điều hòa hành vi. Khi người trẻ tiếp xúc với các kích thích cường độ cao như xem các video ngắn và trò chơi điện tử suốt nhiều giờ, ngưỡng kích thích của não bộ sẽ tăng lên đáng kể. Trẻ luôn sống trong trạng thái “đói” kích thích và không thể tự cân bằng. Vì vậy, vào ban đêm, khi cơ thể phát tín hiệu cần thả lỏng để ngủ, não bộ lại chống cự vì vẫn đang quen chạy theo các kích thích mạnh ban ngày.
Bà Shi Yu, nhà sáng lập Studio Dịch vụ Tâm lý Mentaverse, Bắc Kinh, nhận định rối loạn giấc ngủ ở giới trẻ chỉ là bề nổi của các bệnh lý tâm thần như trầm cảm, lo âu. Tuy nhiên, nhiều trẻ phải khám lệch sang khoa giấc ngủ do cha mẹ sợ định kiến kép: vừa sợ con mang tiếng mắc bệnh tâm thần, vừa sợ bị coi là thất bại trong giáo dục.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu ngủ mạn tính mang tính thế hệ còn bị can thiệp bởi nhu cầu giành quyền tự chủ. Khi ban ngày bị bủa vây bởi áp lực học tập và sự giám sát, ban đêm là khoảng thời gian duy nhất trẻ cảm thấy tự do. Thức khuya chính là cách các em đổi giấc ngủ lấy không gian tự quyết cuối cùng.
Thực trạng này đạt đỉnh điểm bởi bầu không khí ngột ngạt trong các gia đình hiện đại. Lịch trình dày đặc, sự hoài nghi của cha mẹ và tương lai mờ mịt gieo rắc xung đột nội tâm âm ỉ. Qua nhiều năm, áp lực tích tụ thành trạng thái tâm lý cận lâm sàng. Khoảng trống bất ổn đó là môi trường lý tưởng để chứng mất ngủ bén rễ và tự lặp lại theo vòng xoáy độc hại.
Trước thực trạng này, các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu vào cuộc khi ban hành chỉ thị quy định khung giờ ngủ chuẩn cho học sinh và cấm các trường học bắt đầu tiết học quá sớm. Đến tháng 10/2025, chính sách được thắt chặt khi áp lực học tập, lạm dụng Internet và thiếu ngủ được xác định là nguyên nhân trực tiếp hủy hoại sức khỏe tâm thần vị thành niên. Cơ quan này yêu cầu lập hệ thống cảnh báo tâm lý toàn quốc, áp dụng “tuần không thi cử”, cấm xếp hạng điểm số và buộc học sinh vận động hai tiếng mỗi ngày.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo việc lùi giờ học chỉ giải quyết phần ngọn. Bà Yin Fei, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Giáo dục Gia đình, Đại học Sư phạm Nam Kinh, cho rằng nếu không giảm tải áp lực thực chất, học sinh sẽ chỉ đến trường muộn hơn nhưng đêm xuống vẫn đi ngủ muộn như cũ. Bà kêu gọi một giải pháp hệ thống hơn như tăng đầu tư vào y tế tâm thần học đường, siết quy định giờ làm việc của lao động trẻ và nâng cao năng lực sàng lọc rối loạn giấc ngủ ngay tại các cơ sở y tế ban đầu.
Với những người trẻ như Cheng, chiếc gối hỗ trợ giấc ngủ được mua vài tuần trước chỉ mang lại những chuyển biến ít ỏi, vài đêm có khá hơn nhưng phần lớn vẫn như cũ. Anh thừa nhận: “Tôi nghĩ điều mình thực sự cần là giảm bớt áp lực cuộc sống. Nhưng đó lại là thứ không thể mua được bằng tiền”.
Ngày 9-5, Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ phối hợp Hội Nhi khoa Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học nhi khoa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mở rộng lần thứ 10.
Tham dự và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực nhi khoa có GS.TS Phạm Nhật An - Phó chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam, cùng hơn 700 thầy thuốc đến từ các bệnh viện, trường đại học, cao đẳng chuyên ngành nhi trên cả nước.
Tại hội nghị, đề tài "Cập nhật gánh nặng bệnh tật và vắc xin phòng bệnh tay chân miệng" của TS.BS Lê Nguyễn Thanh Nhàn - Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) thu hút sự quan tâm của nhiều người.
Theo báo cáo, tình hình dịch tay chân miệng ở trẻ em năm nay đang rất "nóng" tại các tỉnh phía Nam với trên 18.000 ca mắc, đã có 8 trường hợp tử vong tại khu vực này.
Để giảm gánh nặng bệnh tật và nguy cơ tử vong của bệnh tay chân miệng, theo báo cáo hiện nay nhiều nước lân cận đang sử dụng vắc xin phòng tay chân miệng đạt hiệu quả phòng bệnh và an toàn.
Theo nhà sản xuất, vắc xin này được đánh giá bảo vệ 100% đối với chủng EV - A71 và hiệu quả miễn dịch kéo dài 5 năm. Trẻ từ 2 tháng tuổi đến dưới 2 tuổi theo khuyến cáo nên tiêm 3 mũi; trẻ từ 2 tuổi đến dưới 6 tuổi tiêm 2 mũi.
Theo tiến sĩ Nhàn, tại Việt Nam, vào tháng 3-2026, Bộ Y tế đã cấp phép lưu hành đối với vắc xin B4 (Envacgen), đây cũng là vắc xin được Hội Sơ sinh Đài Loan khuyến cáo sử dụng phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ em.
Tại hội nghị còn có nhiều bài báo cáo khoa học chuyên sâu của các chuyên gia nhi khoa đến từ Hà Nội, TP.HCM và các tỉnh, thành khu vực phía Nam. Trong đó có các báo cáo khoa học đề cập đến những vấn đề "nóng" trong lĩnh vực nhi khoa: sốt xuất huyết, vắc xin phòng bệnh, tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh, viêm phổi, chăm sóc toàn diện trẻ sinh non...
Bác sĩ chuyên khoa II Ông Huy Thanh - Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ, chia sẻ đây là cơ hội để các đồng nghiệp miền Tây Nam Bộ chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia lĩnh vực nhi khoa từ Hà Nội, TP.HCM. Vì vậy dù khó khăn, thách thức nhưng qua 10 lần tổ chức, hội nghị vẫn nhận được sự quan tâm của các thầy thuốc của cộng đồng nhi khoa.
Theo bác sĩ Trần Đăng Trường, Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện đa khoa Thủ Đức (TP.HCM), thực chất đột quỵ và đột tử hoàn toàn khác nhau về cơ chế, cách nhận biết và xử trí ban đầu.
Bệnh nhân nam T.T.K (62 tuổi, có bệnh nền tăng huyết áp) đột ngột bị méo miệng, yếu tay phải và nói khó. Khi đến khám tại Bệnh viện đa khoa Thủ Đức, các bác sĩ nhận định đây là trường hợp có nguy cơ đột quỵ điển hình; bệnh nhân sau đó được tiếp tục theo dõi kỹ để đề phòng cơn đột quỵ bất ngờ.
Trường hợp khác là bệnh nhân nam H.V.T (45 tuổi, có thói quen hút thuốc), đang chơi thể thao thì đột ngột ngã quỵ. Bệnh nhân không thở, không còn mạch, khi được đưa đến bệnh viện, các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân T. đã ngừng tim do rung thất (liên quan bệnh mạch vành tiềm ẩn) - một tình trạng đột tử tim mạch.
Đột quỵ xảy ra khi mạch máu não bị tắc hoặc vỡ, làm một vùng não bị tổn thương. Theo bác sĩ Đăng Trường, đột quỵ có 2 dạng chính:
Trong khi đó, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đột tử là tình trạng tử vong tự nhiên xảy ra rất nhanh, thường trong vòng 1 giờ từ khi xuất hiện triệu chứng. Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến tim mạch:
“Đột quỵ và đột tử khác nhau ở cơ quan bị ảnh hưởng và cách khởi phát. Đột quỵ liên quan đến não, xảy ra khi mạch máu não bị tắc hoặc vỡ, người bệnh lúc đầu có thể còn ý thức và có cơ hội cứu sống nếu được xử trí sớm. Trong khi đó, đột tử chủ yếu do tim, thường do ngừng tim hoặc rối loạn nhịp nặng, người bệnh thường mất ý thức ngay và khả năng sống còn phụ thuộc vào việc ép tim (CPR) kịp thời”, bác sĩ Đăng Trường cho hay.
Theo bác sĩ Trường, khi thấy 1 người đột ngột ngã quỵ, việc đầu tiên cần làm là kiểm tra thở và mạch.
Nếu không thở, không bắt được mạch, cần nghĩ ngay đến ngừng tim/đột tử. Lúc này phải gọi cấp cứu và ép tim (CPR) ngay lập tức. Nếu người bệnh vẫn còn thở, còn mạch, khả năng cao liên quan đến đột quỵ hoặc nguyên nhân thần kinh.
Để nhận diện nhanh đột quỵ, bác sĩ gợi ý mọi người có thể dựa vào quy tắc FAST của Hiệp hội Đột quỵ Mỹ (ASA):
Chỉ cần một trong các dấu hiệu trên, cũng phải xem như đột quỵ và gọi cấp cứu ngay.
“Với trường hợp nghi đột quỵ, cần ghi nhận giờ khởi phát, đặt người bệnh nằm nghiêng an toàn, không cho ăn uống và nhanh chóng đưa đến bệnh viện có khả năng can thiệp đột quỵ”, bác sĩ Đăng Trường nhấn mạnh.
Theo bác sĩ Trường, đột quỵ liên quan chặt chẽ nhất với tăng huyết áp. Ngoài ra còn có tiểu đường, rung nhĩ, xơ vữa động mạch và hút thuốc lá. Đây là những yếu tố làm tổn thương mạch máu não theo thời gian.
Trong khi đó, đột tử thường gắn với các bệnh lý tim mạch như bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim, suy tim, bệnh cơ tim. Ở người trẻ, nguyên nhân có thể đến từ các bất thường điện học tim bẩm sinh mà trước đó không có biểu hiện rõ ràng.
Bác sĩ Trường cho biết thêm, đột quỵ thường gặp ở người lớn tuổi, đặc biệt là người bị tăng huyết áp lâu năm. Đột tử có thể xảy ra ở người lớn có bệnh tim, nhưng cũng có thể xuất hiện ở người trẻ do rối loạn nhịp tim bẩm sinh.
Theo Aboluowang, Xiao Liu, cô gái trẻ ở Trung Quốc, từng nghiện điện thoại đến mức không rời thiết bị ngay cả trong bóng tối trước khi ngủ.
Một tối, khi đang lướt điện thoại, mắt cô bỗng tối sầm lại. Ban đầu, cô nghĩ chỉ do mệt mỏi nhưng sau khi nghỉ ngơi, thị lực vẫn không hồi phục. Kết quả thăm khám cho thấy cô bị tắc nghẽn động mạch võng mạc trung tâm, tình trạng nghiêm trọng được gọi là “đột quỵ mắt”.
Nguyên nhân chính: thói quen dùng điện thoại quá lâu trong môi trường thiếu sáng.
Câu chuyện này đặt ra câu hỏi: Việc dùng điện thoại trước khi ngủ có thực sự nguy hiểm, thậm chí liên quan đến ung thư như tin đồn?
Dùng điện thoại ban đêm và nguy cơ ung thư
Nghiên cứu đăng trên tạp chí CANCER theo dõi hơn 464.000 người trong 12,8 năm cho thấy tiếp xúc ánh sáng vào ban đêm có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp. Nhóm có mức phơi nhiễm cao nhất có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 55% so với nhóm thấp nhất, đặc biệt ở nữ giới.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ quan sát, chưa chứng minh mối quan hệ nhân quả. Các nghiên cứu khác về bức xạ điện thoại cho thấy khả năng gây ung thư não chưa có cơ sở khoa học vững chắc. Bức xạ từ điện thoại chỉ được xếp vào nhóm “có thể gây ung thư”, cần thêm nghiên cứu để khẳng định.
Mối liên hệ rõ ràng hơn là tiếp xúc ánh sáng ban đêm kéo dài dễ dẫn đến thức khuya, rối loạn đồng hồ sinh học, ảnh hưởng hệ miễn dịch và gián tiếp tăng nguy cơ bệnh tật.
5 hệ lụy sức khỏe khi dùng điện thoại trước khi ngủ
Khảo sát của Báo Thanh niên Trung Quốc cho thấy, 84,8% người trẻ dùng điện thoại trước khi ngủ, gần 70% gặp vấn đề giấc ngủ. Thói quen kéo dài ảnh hưởng nhiều mặt:
- Suy giảm thị lực, thậm chí đột quỵ mắt: Mắt phải điều tiết liên tục khi xem màn hình lâu, dễ mỏi mắt, giảm thị lực. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, tắc mạch võng mạc có thể xảy ra như trường hợp của Xiao Liu.
- Tăng nguy cơ suy giảm trí nhớ: Ánh sáng từ màn hình làm ức chế tiết melatonin, hormone điều hòa giấc ngủ. Thiếu ngủ kéo dài ảnh hưởng não bộ, tăng nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer.
- Lão hóa da sớm: Ánh sáng xanh xuyên sâu vào da, gây tổn thương oxy hóa, phá vỡ collagen, thúc đẩy hình thành sắc tố melanin, khiến da nhanh lão hóa, xuất hiện nếp nhăn và nám.
- Giấc ngủ kém chất lượng: Khoảng 70% người thức khuya liên quan đến dùng điện thoại. Nhiều người càng sử dụng càng tỉnh táo, dẫn đến mất ngủ kéo dài, giảm năng suất học tập và làm việc, ảnh hưởng sức khỏe tim mạch.
- Tổn thương cột sống cổ: Tư thế nằm dùng điện thoại, đặc biệt nằm nghiêng hoặc sấp, tạo áp lực lớn lên cổ. Lâu dài dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ, đau mỏi vai gáy, các vấn đề thần kinh liên quan.
Lời khuyên để giảm tác hại
Điện thoại đã trở thành vật bất ly thân, việc “cai” hoàn toàn khó. Tuy nhiên, tác hại có thể giảm thiểu bằng các điều chỉnh sau:
Giữ tư thế đúng: Nên nằm ngửa khi dùng điện thoại để giảm áp lực lên cổ và mắt. Tránh nằm nghiêng hoặc sấp.
Tránh dùng trước giờ ngủ 30 phút: Giúp cơ thể thư giãn, dễ đi vào giấc ngủ hơn.
Giảm độ sáng màn hình: Điều chỉnh ánh sáng thấp, không chiếu thẳng vào mắt; giữ góc khoảng 45 độ để mắt không bị mỏi.
Luôn bật đèn khi sử dụng: Không dùng điện thoại trong bóng tối hoàn toàn, tránh chênh lệch ánh sáng lớn gây hại mắt.
Áp dụng quy tắc 20-20-20: Sau mỗi 20 phút nhìn màn hình, nghỉ 20 giây và nhìn xa để mắt được thư giãn.