Khoảng một tháng trước, Tổng thống Donald Trump nói ông không “nóng lòng” kết thúc cuộc chiến với Iran. “Tôi có thời gian, nhưng Iran thì không”, ông nói trên mạng xã hội.
Nhưng khi các cuộc đàm phán kéo dài mà không tạo đột phá, áp lực chính trị nhằm tìm kiếm lối thoát cho xung đột tăng lên, với các cuộc khảo sát cho thấy ngày càng nhiều cử tri Mỹ không ủng hộ cuộc chiến, đặc biệt khi bầu cử giữa kỳ đang đến gần và giá xăng liên tục tăng, đánh thẳng vào túi tiền của người Mỹ.
Đến ngày 23/5, ông Trump bất ngờ tuyên bố “gần như đã đàm phán xong” với Iran. Ông trước đó đã hủy quyết định tái khởi động chiến dịch không kích Iran, liên tục bỏ qua những hạn chót do chính mình đặt ra để “tạo thuận lợi cho đàm phán”, dù Tehran không tuân thủ yêu cầu của ông.
Những thông tin rò rỉ về dự thảo thỏa thuận giữa Mỹ và Iran cho thấy hai bên dự kiến ngừng các hành động thù địch, dần mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt lệnh phong tỏa của Mỹ đối với các cảng biển Iran. Thỏa thuận này sẽ bao gồm việc phá băng một số tài sản của Iran, đồng thời Tehran cũng sẽ được phép tiếp tục bán nhiên liệu và dầu mỏ.
Thỏa thuận dự kiến bao gồm cam kết của Iran về việc không theo đuổi vũ khí hạt nhân và bắt đầu các cuộc đàm phán về việc từ bỏ kho dự trữ uranium làm giàu cấp độ cao của nước này.
Những điều khoản này khiến nhiều người có lập trường cứng rắn với Iran trong đảng Cộng hòa lo lắng, bởi chúng rất khác so với những gì ông Trump từng đặt ra khi bắt đầu xung đột. Có lúc Tổng thống Mỹ từng nói sẽ chỉ chấp nhận chấm dứt chiến sự khi Iran “đầu hàng vô điều kiện”.
Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Roger Wicker cho rằng ông Trump đang “nhận được những lời khuyên tồi khi theo đuổi một thỏa thuận không đáng giá bằng tờ giấy viết ra nó”.
Wicker, thượng nghị sĩ có quan điểm “diều hâu” của đảng Cộng hòa, thêm rằng việc Mỹ tìm mọi cách đạt được thỏa thuận với Iran, thay vì tiếp tục hành động quân sự, “có nguy cơ tạo ra cảm giác về sự yếu kém”.
Ông thậm chí cảnh báo rằng thỏa thuận đề xuất đồng nghĩa với việc “mọi thành quả đạt được từ chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng sẽ đổ sông đổ bể”.
Ngày 23/5, khi có tin tức rò rỉ rằng thỏa thuận Mỹ – Iran sắp được ký kết, nỗi hoảng loạn đã bùng phát một cách công khai trong nội bộ đảng Cộng hòa.
Thượng nghị sĩ Lindsey Graham, người vốn ủng hộ mạnh mẽ cho cuộc chiến, nói rằng việc tạo ra tiền lệ cho phép Iran có thể kiểm soát eo biển Hormuz và đe dọa cơ sở hạ tầng dầu mỏ của các nước láng giềng sẽ là “sự thay đổi lớn về cán cân quyền lực trong khu vực và theo thời gian sẽ là cơn ác mộng đối với Israel”.
Ông cũng lo lắng thỏa thuận như vậy sẽ tiếp thêm sức mạnh cho các nhóm vũ trang mà Iran hậu thuẫn ở Trung Đông như Hezbollah và Hamas.
“Phe diều hâu trong đảng Cộng hòa lo sợ ông Trump sẽ nóng lòng nhượng bộ để kết thúc cuộc chiến”, Aaron Blake, nhà bình luận cấp cao của CNN, nhận định. “Họ dường như e ngại kịch bản ông Trump sắp chấp nhận một kết quả thấp hơn kỳ vọng rất nhiều để ký thỏa thuận với Iran”.
Ted Cruz, thượng nghị sĩ Cộng hòa đại diện bang Texas, cho biết ông “quan ngại sâu sắc” về những thông tin mà ông nghe ngóng được và kịch bản những lãnh đạo cứng rắn ở Iran vẫn tiếp tục nắm quyền.
“Nếu giờ đây họ lại nhận được hàng tỷ USD, có thể tiếp tục làm giàu uranium và phát triển vũ khí hạt nhân, có quyền kiểm soát thực tế đối với eo biển Hormuz, đó sẽ là sai lầm thảm khốc”, Cruz nói.
Theo bình luận viên Blake, những phát biểu công khai của các nghị sĩ Cộng hòa cho thấy điều họ e ngại nhất hiện nay là Tổng thống Trump sẵn sàng chấp nhận những cam kết mà họ cho là “không mấy giá trị” từ Iran. Họ cũng tin rằng một thỏa thuận được ký vội vàng sẽ cho phép Iran tiếp tục biến eo biển Hormuz làm đòn bẩy vĩnh viễn, trong khi Mỹ “từ bỏ cơ hội lịch sử để thực sự chấm dứt mối đe dọa từ Iran”.
Các nhà bình luận bảo thủ có xu hướng ủng hộ đảng Cộng hòa như Mark Levin của Fox News cũng cảm thấy bất an. “Tôi nghĩ chúng ta có thể có rắc rối rồi”, Levin thốt lên sau khi nghe thông tin từ truyền thông Israel cho rằng các cố vấn của ông Trump đang nóng lòng đạt được một thỏa thuận với Iran.
Một số quan chức chủ chốt trong chính quyền nhiệm kỳ đầu của ông Trump cũng có chung quan điểm. Cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton ngày 24/5 nói rằng có vẻ như “các giáo sĩ Iran sẽ giành được chiến thắng quan trọng”.
Một cựu cố vấn an ninh quốc gia khác Michael Flynn, người có thiên hướng ủng hộ phong trào MAGA, ngày 24/5 cáo buộc Iran “từng nói dối trắng trợn” và khuyến cáo ông Trump không tin vào những cam kết mà Tehran đưa ra.
Mike Pompeo, cựu ngoại trưởng Mỹ, đã chỉ trích dữ dội các điều khoản trong dự thảo thỏa thuận, mô tả nó giống như thỏa thuận JCPOA do chính quyền Barack Obama từng ký với Iran năm 2015. Trong nhiệm kỳ đầu tiên ở Nhà Trắng, ông Trump đã rút Mỹ khỏi thỏa thuận này.
Ông nói điều này đồng nghĩa Mỹ “chi tiền cho Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) để xây dựng một chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt” cũng như tiếp tục các hành động quân sự ở Trung Đông.
Tình hình đã trở nên rắc rối đến mức các cố vấn thân cận của ông Trump bắt đầu quay sang đả kích những người chỉ trích trong đảng Cộng hòa. Giám đốc truyền thông Nhà Trắng Steven Cheung cho rằng ông Pompeo “không biết gì về những gì ông ấy đang nói”.
Alex Bruesewitz, cố vấn chính trị của ông Trump, nói với thượng nghị sĩ Cruz rằng “hãy ngừng phá hoại Tổng thống và chính quyền của ông ấy đi”.
Ngoại trưởng Marco Rubio cho hay cam kết của ông Trump trong việc ngăn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân “không nên bị bất kỳ ai nghi ngờ”. Ông nói những quan điểm cho rằng thỏa thuận của ông Trump có thể giúp Iran có vị thế mạnh mẽ hơn là điều “nực cười”.
Ông Trump cũng đã phản bác những chỉ trích về thỏa thuận tiềm năng giữa Mỹ với Iran, viết trên mạng xã hội Truth Social rằng “đừng nghe những người luôn chỉ trích về những gì họ chẳng biết”.
Nhưng những lời công kích từ phe cứng rắn trong đảng Cộng hòa dường như cũng đã tác động đến Tổng thống Mỹ. Ngày 24/5, ông cho biết đã yêu cầu các nhà đàm phán Mỹ không “vội vàng” đạt thỏa thuận với Iran. Ông nhấn mạnh nếu đạt thỏa thuận, “đó sẽ là thỏa thuận tốt và đúng đắn”.
Một ngày sau, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baqaei cho biết Tehran và Washington đã đạt được sự đồng thuận về nhiều vấn đề trong các cuộc trao đổi liên quan thỏa thuận. “Tuy nhiên, không ai có thể khẳng định điều đó đồng nghĩa hai bên sắp ký kết thỏa thuận”, ông nói, cáo buộc Mỹ “bất nhất” và liên tục thay đổi lập trường.
Theo bình luận viên Blake, ông Trump đã bắt đầu cuộc chiến bằng việc làm mất lòng một bộ phận trong đảng Cộng hòa vốn phản đối hành động can thiệp quân sự ở nước ngoài. Giờ đây, ông lại có nguy cơ làm mất lòng bên còn lại, những người thuộc phe “diều hâu” về chính sách đối ngoại.
“Những người có lập trường chống Iran xem đây là cơ hội thực sự để chấm dứt mối đe dọa trong khu vực. Nhưng họ lo sợ ông Trump đang chùn bước”, Blake nhận định.
Trang tin Army Recognition hôm 16.5 dẫn nội dung tài liệu Kế hoạch đóng tàu tháng 5.2026 của Hải quân Mỹ cho thấy lực lượng này đang cải tổ chương trình tàu khu trục lớp Zumwalt từng gây nhiều tranh cãi để trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược tác chiến hải quân tương lai của Mỹ.
Thông qua việc tích hợp hệ thống vũ khí tấn công nhanh phi hạt nhân (CPS), tức vũ khí bội siêu thanh, các tàu USS Zumwalt, USS Michael Monsoor và USS Lyndon B. Johnson sẽ được trang bị năng lực tấn công bội siêu thanh tầm xa trên mặt nước.
Động thái này được cho sẽ tiến tới tăng cường khả năng răn đe trên biển, tấn công thọc sâu và tác chiến phân tán của hạm đội Mỹ tại những vùng biển cạnh tranh chiến lược như Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Vụ phóng thử CPS đầu tiên cho tàu USS Zumwalt được dự kiến sẽ thực hiện năm sau. Nếu thành công, đây sẽ là cột mốc tác chiến quan trọng khi Hải quân Mỹ chuyển các loại vũ khí bội siêu thanh từ giai đoạn phát triển thử nghiệm sang triển khai trên các chiến hạm nổi ở tuyến đầu.
Bất chấp khởi đầu gây canh cãi của lớp Zumwalt, Hải quân Mỹ đang ngày càng xem lớp tàu này là cầu nối kỹ thuật hướng đến những chương trình tàu chiến nổi cỡ lớn trong tương lai.
Ở góc độ này, tàu khu trục lớp Zumwalt được sử dụng làm nền tảng kiểm chứng các hệ thống điện tử tiên tiến, thiết kế tàng hình, các công nghệ tác chiến tích hợp và mở rộng năng lực tấn công tầm xa vốn là những đặc điểm hình thành nên thế hệ kế tiếp của chiến tranh hải quân Mỹ.
Tài liệu về Kế hoạch đóng tàu tháng 5.2026 cũng đánh dấu sự thay đổi về học thuyết đối với vai trò của lớp Zumwalt. Ban đầu, lớp tàu này được thiết kế cho nhiệm vụ tấn công mặt đất và yểm trợ hỏa lực hải quân. Thế nhưng, phần lớn vai trò trên gần như bị đánh mất sau vụ hủy bỏ trang bị dòng đạn tầm xa vốn cần thiết cho hệ thống pháo tiên tiến của tàu.
Giờ đây, Hải quân Mỹ tái định nghĩa con tàu xoay quanh nhiệm vụ Tấn công chủ động tầm xa. Với CPS, lớp tàu Zumwalt được lột xác để trở thành các nền tảng tấn công tầm xa đủ sức hỗ trợ kiểm soát biển, tấn công tác chiến, triển khai hoạt động hải quân phân tán và xác định mục tiêu cho liên quân thông qua việc triển khai tấn công chính xác tấn công cao từ ngoài hoặc bên rìa những khu vực tranh chấp trên biển.
“Iran và Oman phải huy động toàn bộ nguồn lực của mình để vừa cung cấp các dịch vụ an ninh, vừa quản lý việc đi lại theo cách phù hợp nhất.
Điều này sẽ kéo theo chi phí và hiển nhiên là những ai muốn hưởng lợi từ tuyến hàng hải này cũng phải đóng góp phần của mình”, Đại sứ Iran tại Pháp Mohammad Amin-Nejad trả lời phỏng vấn Bloomberg, đồng thời nhấn mạnh cơ chế thu phí sẽ được vận hành một cách minh bạch.
Theo ông Amin-Nejad, việc lưu thông qua eo biển Hormuz vẫn chưa bị gián đoạn hoàn toàn. Phía Iran cho biết tổng cộng 26 tàu đã đi qua tuyến hàng hải chiến lược này từ ngày 19 đến 20-5.
Nhiều công ty vận tải biển đã tạm dừng đi qua eo biển Hormuz do lo ngại nguy cơ bị tên lửa và drone tấn công. Tuy nhiên nhà ngoại giao Iran cho rằng chi phí bảo hiểm cắt cổ mới là nguyên nhân khiến lưu lượng tàu sụt giảm.
Nằm giữa Iran và Oman, eo biển Hormuz nối liền Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương. Tuyến hàng hải này đóng vai trò quan trọng khi chiếm hơn 20% lượng dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu.
Trước đó vào ngày 20-5, Cơ quan quản lý eo biển vịnh Ba Tư do Iran thành lập đã ra tuyên bố mới về phạm vi kiểm soát của họ tại khu vực này.
Cụ thể, khu vực thuộc "quyền tài phán quản lý" của cơ quan này bao gồm vùng biển nằm giữa đường nối từ Kuh-e Mubarak của Iran tới phía nam Fujairah của Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), kéo dài tới đường nối đảo Qeshm của Iran với Umm Al-Quwain của UAE.
Cơ quan này khẳng định mọi tàu thuyền đi qua khu vực trên để vượt eo biển Hormuz đều phải có sự phối hợp và cho phép từ Tehran.
Điều này đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt từ UAE. Cố vấn Tổng thống UAE Anwar Gargash lên án: “Chính quyền Iran đang cố tạo ra một thực tế mới từ một thất bại quân sự rõ ràng, nhưng những nỗ lực kiểm soát eo biển Hormuz hay xâm phạm chủ quyền hàng hải của UAE chẳng khác nào giấc mơ hão huyền”, theo Hãng tin AFP.
Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở Trung Đông, hôm 28/2 tuyên bố máy bay không người lái (UAV) giá rẻ "được thiết kế dựa trên dòng Shahed" đã thực chiến lần đầu trong chiến dịch tấn công Iran.
Cơ quan này không nêu tên cụ thể, song ảnh đăng kèm cho thấy đó là dòng Lucas, có giá ước tính 35.000 USD mỗi chiếc. Đây cũng là mẫu UAV tự sát đầu tiên mà Mỹ triển khai trong xung đột với Iran.
Thông tin về hiệu quả thực chiến của nó vẫn còn hạn chế. Dù vậy, Wall Street Journal dẫn lời các quan chức quốc phòng cấp cao Mỹ giấu tên cho biết UAV Lucas đã được sử dụng trong những cuộc tập kích thành công nhằm vào hàng loạt địa điểm của quân đội Iran và Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC).
Những cuộc tấn công của Lucas đã góp phần khiến số đòn đánh bằng UAV của Iran giảm tới 83% trong những ngày đầu xung đột, theo nhóm quan chức.
"Từ giai đoạn đầu chiến sự, UAV FLM 136, còn gọi là Lucas, đã xóa sổ nhiều mục tiêu quân sự của Iran, trong khi những hệ thống UAV được đầu tư nhiều tiền của từ các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực quốc phòng lại tham gia rất ít", báo Mỹ cho hay.
Lucas không đến từ doanh nghiệp nào trong hơn 400 công ty khởi nghiệp về UAV được rót vốn đầu tư mạo hiểm tại Mỹ, cũng không phải sản phẩm của Thung lũng Silicon nổi tiếng. Thay vào đó, mẫu phi cơ này được chính quân đội Mỹ phát triển bằng cách sao chép công nghệ và thiết kế UAV tự sát Shahed-136 của Iran.
Dù lần đầu thực chiến trong xung đột Trung Đông, UAV Lucas thực chất được Mỹ chế tạo nhằm chuẩn bị cho xung đột với các đối thủ ngang hàng.
Trong những cuộc diễn tập mô phỏng kịch bản chiến tranh quy mô lớn, giới chuyên gia phát hiện rằng quân đội Mỹ sẽ cạn kiệt đạn dược thiết yếu chỉ trong vòng 2-3 tuần. Do đó, Lầu Năm Góc muốn sở hữu mẫu UAV có thể sản xuất nhanh chóng với số lượng lớn, đạt tầm bay xa và có giá thành đủ rẻ để không gây áp lực lớn lên ngân sách.
Dưới thời chính quyền cựu tổng thống Joe Biden, một nhóm nhỏ quan chức Lầu Năm Góc đã theo đuổi ý tưởng chế tạo một phiên bản UAV Shahed dành cho quân đội Mỹ, tương tự nhiều quốc gia và nhóm vũ trang phi nhà nước trên thế giới.
Năng lực của UAV dạng Shahed đã được chứng minh trong xung đột Ukraine. Nga được cho là sử dụng hàng nghìn UAV Geran-2, phiên bản tự sản xuất dựa trên dòng Shahed-136, để tập kích Ukraine mỗi tháng, trong đó có những trận đánh cao điểm huy động hơn 1.000 phi cơ chỉ trong một đêm.
Một đội ngũ nhỏ thuộc văn phòng kỹ thuật và nghiên cứu của quân đội Mỹ sau đó xây dựng kế hoạch tháo rời, phân tích UAV Geran-2 thu được từ Ukraine. Đây là lần đầu Mỹ áp dụng kỹ thuật đảo ngược để sao chép công nghệ quân sự của nước khác để phát triển sản phẩm nội địa trong vòng 50 năm.
Một cựu quan chức quốc phòng mô tả Lucas, viết tắt của cụm từ "hệ thống chiến đấu không người lái giá rẻ", không có đầy đủ tính năng như nhiều mẫu UAV đắt tiền và cũng không sử dụng linh kiện cao cấp nhất, song có chi phí chế tạo thấp và có thể sản xuất với số lượng lớn.
Michael Horowitz, cựu quan chức cấp cao Lầu Năm Góc và là một trong những lãnh đạo của đội ngũ phát triển Lucas, cho biết quân đội các nước có khả năng tự phát triển vũ khí tầm xa chính xác cao với giá rẻ. "Vấn đề là Mỹ không chi một đồng nào cho loại khí tài này", ông nói.
UAV Lucas hồi năm 2024 được lựa chọn để tham gia sáng kiến giúp triển khai hàng nghìn vũ khí tự hành trước tháng 8/2025. Động thái này đã gây ra nhiều tranh cãi, do mẫu UAV này khi đó mới chỉ tồn tại dưới dạng mô hình, song lại đánh bại nhiều hệ thống đã hoàn thiện.
Do Lucas là tài sản thuộc sở hữu trí tuệ của chính phủ, Mỹ đang dùng phương pháp từng áp dụng để chế tạo tàu chiến trong thời kỳ Thế chiến II, đó là huy động các nhà thầu thứ cấp để sản xuất hàng loạt UAV theo nhu cầu thời chiến.
Các công ty ít tên tuổi là SpektreWorks và Integration Innovation được giao nhiệm vụ chế tạo UAV Lucas. Tổng cộng 5 nhà sản xuất sẽ được chọn, trong đó mỗi hãng sẽ xuất xưởng khoảng 300 chiếc mỗi tháng, theo một cựu quan chức quốc phòng Mỹ am hiểu kế hoạch.
Thủy quân lục chiến Mỹ là lực lượng đầu tiên sử dụng UAV Lucas và đã đặt mua khoảng 6.000 chiếc để triển khai ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Số UAV trên đã được chuyển cho CENTCOM trước khi xung đột Trung Đông bùng phát.
Chính quyền Tổng thống Donald Trump đã tiến hành các cải cách sâu rộng trong lĩnh vực mua sắm quốc phòng, giúp quân đội mua vũ khí nhanh chóng và dễ dàng hơn, cũng như tăng cường sử dụng công nghệ dân sự để hiện đại hóa khí tài.
Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth hồi tháng 8/2025 ra quyết định hủy bỏ các quy trình và rào cản tồn tại từ lâu, giúp quân đội Mỹ nhanh chóng triển khai UAV Lucas.
Dù vậy, một số chuyên gia vẫn cảnh báo rằng thành công của Lucas trong xung đột Trung Đông, khi đối đầu với lưới phòng không đã suy yếu của Iran, không đồng nghĩa là nó sẽ đạt hiệu quả trong những cuộc chiến với các cường quốc quân sự ngang hàng với Mỹ.
"UAV Mỹ không phải đối mặt với biện pháp gây nhiễu đáng kể nào ở Trung Đông. Tình hình sẽ khác trong kịch bản xảy ra xung đột giữa Mỹ với Nga hoặc Trung Quốc. Mọi công nghệ đều sẽ bị đánh bại vào thời điểm nào đó", Jack De Santis, chuyên gia về tác chiến điện tử, nói với Wall Street Journal.
Một lo ngại khác với quân đội Mỹ là thiếu hụt công nghệ chống thiết bị bay không người lái (drone) giá rẻ. Thực trạng này đang giúp các nhóm dân quân thân Iran tiếp tục sử dụng drone cỡ nhỏ để tấn công những căn cứ đồn trú của Mỹ ở Trung Đông.
Sự thiếu hụt về vũ khí hiện đại giá rẻ trong xung đột với Iran được cho là lời cảnh tỉnh với quân đội Mỹ. "Chúng ta chưa sẵn sàng. Chính phủ không có thứ mình cần ở quy mô như nhu cầu", Julie Bush, đồng sáng lập công ty công nghệ quốc phòng Valinor Enterprises, nhận định.