Những trường THPT có điểm chuẩn lớp 10 cao nhất TP.HCM ở cả 3 khu vực, tính từ mức 23 điểm trở lên như sau:
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 của TP.HCM năm nay là kỳ thi đầu tiên sau sáp nhập với số thí sinh dự thi đông nhất từ trước đến nay, khoảng 151.000 thí sinh. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 công lập năm nay là 118.550 học sinh.
Theo thống kê, các trường có tỷ lệ chọi lớp 10 cao nhất là THPT Bùi Thị Xuân, THCS – THPT Trần Đại Nghĩa, Thủ Đức, Nguyễn Thượng Hiền, Lê Trọng Tấn, Dĩ An…
Cụ thể, dẫn đầu là Trường THPT Bùi Thị Xuân với tỷ lệ chọi là 2,84; tiếp đến là Trường THCS – THPT Trần Đại Nghĩa với tỷ lệ chọi 2,79.
Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (2,51), Trường THPT Lê Trọng Tấn (2,45), Trường THPT Dĩ An (2,34) và Trường THPT Trịnh Hoài Đức (2,31).
Nhóm các trường có tỷ lệ chọi lớp 10 cao tiếp theo gồm Trường THPT Lê Quý Đôn (2,30), Trường THPT Trần Văn Ơn (2,25), Trường THPT Mạc Đĩnh Chi (2,25). Đáng chú ý, cùng mức 2,16 còn có Trường THPT Phạm Văn Sáng và Trường THPT Vĩnh Lộc.
Để tham khảo toàn bộ thông tin liên quan đến thi lớp 10 năm 2026 và các năm trước, bạn đọc có thể tra cứu TẠI ĐÂY.
Tin Gốc: Thanh Niên

Dựa vào dữ liệu do Bộ GD-ĐT cung cấp, Báo Thanh Niên phân tích nguồn tuyển thực tế dựa trên số lượng thí sinh (TS) để dự báo điểm chuẩn. Dựa vào các nhóm yêu cầu đầu vào khác nhau của các cơ sở giáo dục ĐH (sau đây gọi chung là các trường), chúng tôi chia dữ liệu thành các nhóm tổ hợp tuyển sinh tương ứng với các khối thi truyền thống: khối A, khối B, khối C, khối D.
Theo quy định của Bộ GD-ĐT, TS chỉ chọn ngành, các trường sẽ lấy điểm tổ hợp cao nhất trong các tổ hợp của ngành để xét tuyển. Phần lớn TS dự thi 4 môn để được xét tốt nghiệp THPT (trừ TS tự do vì các em chỉ cần thi 3 môn để lấy điểm xét tuyển ĐH), trong đó có 2 môn bắt buộc là văn và toán. Trong khi đó, Bộ GD-ĐT yêu cầu thành phần môn tạo nên tổ hợp phải có văn hoặc toán, nên mỗi em có thể được xét đồng thời nhiều tổ hợp. Vì vậy, chúng tôi phân tích dữ liệu của nhóm tổ hợp này bằng hàm max (tổ hợp có điểm cao nhất của mỗi TS). Việc lấy mức điểm cao nhất phản ánh chính xác năng lực cạnh tranh thực tế của TS khi nộp hồ sơ.
Nhóm tổ hợp A00, A01, D07 tập trung nguồn tuyển chủ yếu cho khối ngành kỹ thuật (và cả công nghệ, kinh tế). So sánh với dữ liệu năm 2025, nhận thấy điểm chuẩn năm nay dự báo có sự biến động tùy theo từng dải điểm (phân khúc điểm). Với dải điểm từ 25 đến 30 (thường là khung điểm chuẩn của nhóm ngành tốp 1 ở trường tốp 1), lượng TS đạt các mức điểm trong phân khúc này năm 2026 lao dốc rất mạnh (giảm từ 16 - 45%). Mốc từ 27 điểm trở lên giảm từ 7.719 xuống 4.607 em; mốc từ 25 điểm trở lên giảm từ 27.546 xuống 23.069 em. Nguồn tuyển thiếu hụt nghiêm trọng khiến điểm chuẩn dự báo giảm mạnh từ 0,5 đến 1 điểm.
Với dải điểm từ 23 đến 25 (nhóm ngành tốp 2 của trường tốp 1), nguồn tuyển ổn định, đồ thị biểu diễn nguồn tuyển gần như đi ngang. Dù mốc từ 24 điểm trở lên năm nay giảm nhẹ (6%) nhưng từ mốc 23 điểm trở lên cả 2 năm gần như bằng nhau tuyệt đối (hơn 60.800 em). Vì vậy, nhóm trường tốp 2 sẽ có mức điểm chuẩn giảm nhẹ hoặc đi ngang (có thể giảm khoảng 0,25 điểm).
Với các trường tốp giữa (từ 20 đến 23 điểm), lượng TS trượt khỏi mốc điểm cao rơi xuống vùng này, nguồn tuyển ở đây phình to ra (tăng 2 - 3%). Cụ thể, lượng TS dồn ở khúc 20 - 22 điểm năm nay đông hơn năm ngoái khoảng vài nghìn em. Sự dồn ứ này khiến độ cạnh tranh tăng lên, dự báo điểm chuẩn tăng nhẹ (từ 0,25 đến 0,5 điểm).
Với trường tốp dưới (dưới 20 điểm), tổng lượng TS đạt mức điểm trung bình giảm đều (4 - 8%), thấp hơn năm ngoái (mốc từ 15 điểm trở lên giảm gần 23.000 em). Do đó, điểm chuẩn dự báo sẽ hạ nhẹ (từ 0,25 đến 0,5 điểm) để đảm bảo tuyển đủ chỉ tiêu.
Cả 3 môn thi cấu thành nên tổ hợp D01 là toán, văn, tiếng Anh đều có phổ điểm biến động so với năm 2025. Trong đó, phổ điểm môn văn sụt giảm diện rộng so với 2025. Tỷ lệ TS đạt từ 7 điểm trở lên giảm từ hơn 59% xuống chỉ còn 44%, điểm trung bình từ 7 rơi xuống 6,5. Sự sụt giảm của một môn thi tự luận bắt buộc sẽ kéo theo toàn bộ mặt bằng điểm của tổ hợp D01 dịch chuyển xuống mức thấp hơn. Môn tiếng Anh tuy phổ điểm thấp hơn hẳn năm ngoái nhưng ở phân khúc điểm cao (từ 7 trở lên) số TS bằng tương đương năm ngoái. Dù vậy, phổ điểm môn toán tốt hơn năm ngoái đã kéo phổ điểm chung của tổ hợp lên.
Nếu so sánh trong nội vi tổ hợp D01 trong 3 năm (2024, 2025, 2026) chúng tôi nhận thấy phổ điểm năm nay tương đương 2025, thậm chí nguồn tuyển còn tăng ở mốc từ 19 điểm trở lên (tăng 6%). Điều đáng nói, càng lên mốc điểm cao, nguồn tuyển càng tăng. Mốc 21,5 điểm, nguồn tuyển tăng 30%. Mốc 24 điểm, là mức điểm chuẩn thông thường của các ngành tốp trên, nguồn tuyển tăng 69%. Mốc 25 điểm, nguồn tuyển tăng 88%. Do đó, với những trường hoặc ngành tốp trên mà nguồn tuyển chủ yếu là TS dùng tổ hợp D01, điểm chuẩn dự báo sẽ tăng mạnh.
Nếu mở rộng nguồn tuyển sang các tổ hợp A00, A01 (do những trường xét chủ yếu tổ hợp D01 thường mở rộng nguồn tuyển sang 2 tổ hợp này) chúng tôi nhận thấy ở mức điểm thấp TS D01 có nhiều lợi thế. Chẳng hạn, ở mức từ 17,5 đến 21 điểm, nếu các trường cùng xét 3 tổ hợp này không đặt điểm chênh thì danh sách trúng tuyển sẽ bị TS D01 "tràn" vào. Nếu lấy điểm của tổ hợp A00 làm gốc, ở mức 17,5 điểm, D01 có điểm chênh lên 3,25; ở mốc 20 điểm, A01 có nguồn tuyển ngang mốc 21,5 điểm của D01 (chênh 1,5 điểm); mốc 21 mức chênh giảm xuống còn 1 điểm.
Từ mốc 24 điểm, TS D01 bắt đầu "thiệt" so với TS tổ hợp A00. Ở mốc này, A00 có nguồn tuyển tương đương D01 mức điểm 23,75. Lên 25 điểm, mức chênh là 0,5; mốc 26 mức chênh 0,75; mốc 27 là 1 (phần "thiệt" là TS sử dụng tổ hợp D01). Do đó, nếu lấy điểm chuẩn ở mức 25 mà không đặt điểm chênh cho giữa tổ hợp A00 với D01, TS trúng tuyển bằng tổ hợp A00 chiếm đa số.
Phân tích dữ liệu điểm thi 3 năm nay của tổ hợp C00, chúng tôi nhận thấy có sự sụt giảm nguồn tuyển cực kỳ rõ rệt trong năm 2026. Đường lũy kế biểu diễn số lượng TS năm 2026 nằm thấp hơn một khoảng rất xa so với năm 2025 trên toàn bộ dải điểm từ 15 đến 29. Ở mọi mốc xét tuyển, số lượng TS cạnh tranh đều vơi đi đáng kể (giảm hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn TS tùy theo từng dải điểm).
Với những trường tốp đầu (điểm chuẩn từ 26 trở lên), điểm chuẩn sẽ giảm rất mạnh, do nguồn tuyển năm nay giảm mạnh, chỉ còn 11% so với năm ngoái. Các mốc điểm thấp hơn, tỷ lệ giảm của nguồn tuyển "đỡ" hơn nhưng vẫn ở mức chênh nhau hàng trăm ngàn TS. Chẳng hạn, ở mốc 24 điểm, nguồn tuyển năm nay chỉ bằng 24% của năm ngoái.
Những năm trước, điểm chuẩn nhiều ngành lấy tổ hợp C00 lên đến 27 - 29 điểm, nhưng năm nay nhiều khả năng không còn ngành nào có mức điểm chuẩn này. Cụ thể, ở mốc 27 điểm, năm ngoái cả nước có 9.243 TS đạt thì năm nay chỉ có 534 em; mốc 28 năm ngoái có 2.380 em đạt thì năm nay chỉ vỏn vẹn 44 em.
Với các trường tốp giữa và dưới, điểm chuẩn có thể giảm sâu lên đến 3 - 4 điểm nếu nguồn tuyển chủ yếu phụ thuộc vào TS C00. Dữ liệu cho thấy nguồn tuyển mốc 22 điểm năm ngoái tương đương nguồn tuyển 18,25 của năm nay.
Trái ngược với C00, phân tích dữ liệu tổ hợp B00 qua 3 năm cho thấy phổ điểm năm nay có phần nhỉnh hơn so với năm 2025. Ở phân khúc điểm từ trung bình đến khá - giỏi (từ mốc 15 đến 24,5), đường lũy kế biểu diễn nguồn tuyển năm 2026 luôn nằm cao hơn một chút so với năm 2025. Ở mốc 20 điểm, nguồn tuyển năm nay cao hơn năm ngoái 20%. Từ mốc 23 đến mốc 26 điểm, nguồn tuyển năm nay cao hơn năm ngoái trên dưới 30%.
Với khung 27 - 28 điểm (ngành y khoa các trường tốp trên thường có mức điểm chuẩn trong khung này), nguồn tuyển năm nay cao hơn năm ngoái từ 44 - 95%. Cụ thể, mốc 28 điểm năm ngoái cả nước chỉ có 311 em đạt được thì năm nay có 605 em. Xét nguồn tuyển tương đương nhau thì mốc 28,5 điểm năm nay bằng 28 điểm năm ngoái. Con số này cho thấy nhiều khả năng điểm chuẩn ngành y khoa cao nhất có thể lên đến 28 - 28,5 điểm, thậm chí nhiều hơn do các trường y dược ngày càng đẩy mạnh xu hướng tuyển thẳng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
'Gieo' tiếng Việt trên đất Thái: Từ đĩa mềm đến lớp học rộn rã nhạc V-Pop

Tại ĐH Chulalongkorn (Thái Lan), hành trình đưa tiếng Việt tỏa sáng được vun đắp bởi một người con xa xứ miệt mài gìn giữ cội nguồn và một cô giáo người Thái "say nắng" ngôn ngữ Việt.
Đến Thái Lan vào năm 1995, cô Đỗ Thúy Hà, giảng viên tiếng Việt tại ngành tiếng Việt, bộ môn ngôn ngữ phương Đông, Khoa Ngữ văn, ĐH Chulalongkorn, được mời chia sẻ các chuyên đề về lịch sử, văn học so sánh và thơ lục bát cho sinh viên sau đại học.
Cô Hà cho biết lứa sinh viên Thái Lan đầu tiên tìm đến môn tiếng Việt chủ yếu là những người chuyên nghiên cứu, học để tìm hiểu lịch sử VN. Những năm 1990, công nghệ chưa phát triển nên việc dạy tiếng Việt khá gian nan. "Lúc đầu không có giáo trình dạy tiếng Việt cho người Thái, tôi phải dạy thông qua tiếng Anh", cô Hà nhớ lại.
Đến năm 2000, cô Hà quyết tâm tự biên soạn cuốn giáo trình tiếng Việt - tiếng Thái đầu tiên. Thời điểm đó, máy tính ở Thái Lan chưa hỗ trợ phông chữ tiếng Việt. Cô phải nhờ mua 6 đĩa mềm chứa phông chữ ABC từ VN mang sang.
"Hai phần mềm tiếng Việt và tiếng Thái không hỗ trợ nhau. Tôi gõ xong phần tiếng Việt, in ra, rồi phải tắt phần mềm đi. Lúc tắt, chữ trên màn hình biến thành ô vuông. Tôi lại cầm tờ giấy in, đối chiếu để gõ phần nghĩa bằng tiếng Thái. Cứ tắt qua tắt lại như thế để dò từng chữ", cô Hà kể về kỷ niệm khó quên với "cả một rổ đĩa mềm" của bộ giáo trình năm xưa.
Sau gần 30 năm, nếu thế hệ trước học tiếng Việt để nghiên cứu hoặc tìm kiếm cơ hội việc làm thì động lực của sinh viên Thái Lan ngày nay đã mang màu sắc hoàn toàn mới.
Tiếp nối với cô Hà là TS Chari Hamratanaphon, một giảng viên thế hệ 9X người Thái tại ngành tiếng Việt của ĐH Chulalongkorn, có tên tiếng Việt cực kỳ đáng yêu: Linh Chi.
Cơ duyên của cô Linh Chi bắt đầu từ 11 năm trước, qua lời rủ của một người bạn quen trên mạng: "Học tiếng Việt đi, để tụi mình nói chuyện với nhau". Sau đó, cô đến Hà Nội du học, làm luận án tiến sĩ về tín ngưỡng của người Việt và nay trở thành người "truyền lửa" tiếng Việt trên bục giảng.
Khi dạy tiếng Việt, cô Đỗ Thúy Hà và cô Linh Chi đều ngạc nhiên trước sự "bắt trend" nhanh chóng của sinh viên Thái Lan. Cô Hà chia sẻ bây giờ các bạn trẻ học tiếng Việt đơn giản là để đi du lịch, mua sắm tại VN hoặc để hiểu thần tượng của mình hát gì.
"Chính tôi cũng nhiều lần "đứng hình" và phải học ngược lại từ sinh viên. Trong quá trình làm khóa luận, các em chọn chủ đề về một ca sĩ mà cô chưa nghe bao giờ. Cô giáo phải hì hục mở nghe các ca khúc của Sơn Tùng M-TP để hiểu cảm nhận của sinh viên. Hay có nhiều bạn hỏi về ca sĩ Quang Hùng MasterD làm tôi cũng sốc vì không ngờ nam ca sĩ lại nổi tiếng ở Thái đến vậy", cô Hà hào hứng kể.
Thậm chí, có những sinh viên người Thái tự học, tự hát và mang ca khúc Bắc Bling đi thi trong các chương trình tại trường. Bên cạnh đó, cô Hà chia sẻ có sinh viên tiến bộ vượt bậc nhờ chơi game trực tuyến và giao tiếp với game thủ VN.
Nắm bắt tâm lý sinh viên hiện nay, TS Linh Chi đã biến giảng đường thành một không gian giao lưu đầy màu sắc. Đặc biệt, cô tích cực mang xu hướng của giới trẻ vào giáo án. Khi dạy hệ thống đại từ nhân xưng "anh - em", cô mở bài hát See Tình đình đám. "Đây vẫn đảm bảo nội dung học thuật, mà đồng thời các bạn sinh viên cũng cảm thấy vui và dễ nhớ hơn", TS Linh Chi cho biết.
Cô Linh Chi cho biết thêm các sinh viên theo dõi chương trình du lịch VN, nghe V-Pop trên mạng và chính các bạn giới thiệu nhạc Việt cho cô nghe. Chưa hết, để tạo sự gần gũi với các bạn trẻ, cô Linh Chi dùng cả bộ bài "Măm Tarot" bốc ngẫu nhiên để luyện gọi món ăn, hay kể về kiệt tác văn học VN qua bộ bài "Tarot Kiều".
Không dừng lại ở lớp học, TS Linh Chi còn sáng lập dự án cộng đồng "Đi chơi đi", tạo không gian giao lưu giữa người Thái học tiếng Việt và người Việt học tiếng Thái tại Bangkok. Dự án đã giúp nhiều sinh viên từ xa lạ trở thành bạn thân, tạo động lực để cùng nhau rèn luyện ngoại ngữ.
Sự phát triển của tiếng Việt tại Thái Lan hiện nay không chỉ dừng lại ở bậc đại học. Hơn chục năm qua, hàng chục trường THCS, THPT công lập trên khắp Thái Lan đã đưa tiếng Việt vào giảng dạy.
Cô Đỗ Thúy Hà nhìn nhận tiếng Việt sẽ ngày càng phát triển tại Thái Lan và trong tương lai sẽ có nhiều người Thái hiểu và nói được tiếng Việt. Tương tự, TS Linh Chi cảm thấy người Thái quan tâm đến tiếng Việt hơn trước rất nhiều. Một phần là vì VN đang phát triển mạnh mẽ, cả về du lịch, kinh tế lẫn hình ảnh đất nước trên mạng xã hội. "Điều đó khiến nhiều người Thái nhận ra VN rất thú vị và giàu tiềm năng cả về văn hóa lẫn cơ hội nghề nghiệp", cô Linh Chi chia sẻ.
Theo TS Linh Chi, các sinh viên Thái Lan nêu lý do chọn học tiếng Việt vì muốn đi du lịch VN hoặc cảm thấy quen thuộc với VN qua mạng xã hội, âm nhạc, ẩm thực... Bên cạnh đó, các ngành nghề liên quan đến tiếng Việt vẫn còn rất nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là phiên dịch, biên dịch hay những vị trí liên quan đến hợp tác đầu tư VN - Thái Lan.
"Hiện nay ở Thái Lan cũng có nhiều trường đại học mở các lớp tiếng Việt cho người ngoài vào học, ở ĐH Chulalongkorn cũng vậy. Vẫn có người đăng ký học đều đặn, nên mình cảm thấy sự quan tâm đối với tiếng Việt không chỉ là xu hướng nhất thời, mà thật sự đang phát triển mạnh hơn theo thời gian", cô Chi chia sẻ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo đó, người ta nói đến chuyên môn giỏi, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với công nghệ và tinh thần hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy và tiếp xúc với sinh viên, tôi nhận ra một yếu tố rất quan trọng nhưng đôi khi chưa được nhìn nhận đúng mức: năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Với tư cách là một giảng viên ngôn ngữ Anh, tôi từng gặp không ít trường hợp khiến mình vừa tiếc nuối vừa trăn trở. Có những sinh viên học rất tốt chuyên ngành, tư duy logic rõ ràng, thái độ làm việc nghiêm túc. Thế nhưng khi bước vào môi trường nghề nghiệp có yếu tố quốc tế, họ lại gặp rào cản lớn chỉ vì không đủ khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Một lần, một cựu sinh viên tìm gặp tôi sau khi tốt nghiệp vài năm. Em làm trong lĩnh vực kỹ thuật và được công ty cử tham gia một dự án có đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, vì khả năng tiếng Anh hạn chế nên em chỉ có thể đảm nhận những phần việc nhỏ, không được trực tiếp trao đổi chuyên môn với đối tác. "Thầy biết không, nhiều lúc em hiểu vấn đề chuyên môn nhưng không đủ tự tin để nói", em chia sẻ.
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Tôi từng chứng kiến nhiều người có năng lực chuyên môn rất tốt nhưng đánh mất những cơ hội phát triển chỉ vì thiếu ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, điều đó càng trở nên đáng tiếc.
Thực tế cho thấy tri thức ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia. Hầu hết các tài liệu khoa học, công nghệ, kinh tế hay quản trị hiện đại đều được công bố bằng tiếng Anh. Nếu không có khả năng đọc hiểu ngoại ngữ, người học sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận những nguồn tri thức mới nhất của thế giới.
Điều này đặc biệt rõ trong môi trường đại học. Một sinh viên chỉ đọc giáo trình tiếng Việt có thể vẫn hoàn thành chương trình học.
Nhưng một sinh viên có khả năng đọc thêm tài liệu quốc tế sẽ có tầm nhìn rộng hơn rất nhiều. Các em có thể cập nhật nghiên cứu mới, so sánh các quan điểm học thuật và hiểu được xu hướng phát triển của ngành nghề. Ngoại ngữ vì thế không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là chìa khóa mở ra tri thức.
Vai trò của ngoại ngữ ở góc độ nghề nghiệp lại càng rõ ràng hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện nay hợp tác với đối tác quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc sử dụng công nghệ chuyển giao từ nước ngoài. Trong môi trường ấy, khả năng làm việc bằng ngoại ngữ trở thành một lợi thế lớn.
Một kỹ sư có thể rất giỏi chuyên môn, nhưng nếu không thể trao đổi trực tiếp với chuyên gia nước ngoài thì việc tiếp cận công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn. Một nhà nghiên cứu nếu không đọc được các công trình quốc tế sẽ khó bắt kịp nhịp phát triển của lĩnh vực mình theo đuổi.
Một doanh nhân nếu không giao tiếp được với đối tác quốc tế cũng sẽ bị hạn chế trong việc mở rộng thị trường… Từ đây, có thể thấy ngoại ngữ không chỉ là một kỹ năng bổ trợ, mà là một phần của năng lực chuyên môn trong thời đại toàn cầu hóa.
Tuy vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi cũng nhận thấy nhiều sinh viên vẫn xem việc học ngoại ngữ như một nghĩa vụ bắt buộc để vượt qua kỳ thi. Các em học để lấy chứng chỉ, để đủ điều kiện tốt nghiệp, nhưng chưa thật sự xem ngoại ngữ là công cụ cho tương lai nghề nghiệp của mình. Đây là một điều đáng suy nghĩ.
Việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ dừng ở việc đào tạo kiến thức chuyên ngành. Một người lao động trong thời đại mới cần có khả năng học hỏi liên tục, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Ngoại ngữ chính là chiếc cầu nối giúp họ thực hiện những điều đó.
Tất nhiên, việc học ngoại ngữ không phải là điều dễ dàng. Quá trình rèn luyện, cải thiện đòi hỏi sự kiên trì, thời gian và phương pháp phù hợp.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là nhận thức. Khi người học hiểu rằng ngoại ngữ là công cụ để mở rộng cơ hội nghề nghiệp và phát triển bản thân, họ sẽ có động lực học tập bền bỉ hơn.
Tôi nghĩ các trường đại học cũng cần nhìn nhận ngoại ngữ như một phần quan trọng trong chương trình đào tạo.
Việc dạy ngoại ngữ không nên chỉ tập trung vào ngữ pháp hay thi cử, mà cần hướng đến khả năng sử dụng thực tế: đọc tài liệu chuyên ngành, thuyết trình, trao đổi học thuật và làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần được khuyến khích tiếp xúc nhiều hơn với môi trường sử dụng ngoại ngữ. Các hoạt động học thuật, hội thảo quốc tế, chương trình trao đổi sinh viên hay những dự án hợp tác với đối tác nước ngoài đều là cơ hội quý để người học rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế.
Trong một thế giới ngày càng kết nối, khoảng cách giữa các quốc gia không còn nằm ở địa lý, mà nằm ở khả năng giao tiếp và hợp tác. Một người có chuyên môn giỏi nhưng thiếu ngoại ngữ giống như người có chìa khóa nhưng không mở được cánh cửa.
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao vì vậy không chỉ là đào tạo những người giỏi nghề, mà còn là đào tạo những con người có khả năng bước ra thế giới. Và trong hành trình ấy, ngoại ngữ chính là một trong những hành trang quan trọng nhất.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

