Theo đó, người ta nói đến chuyên môn giỏi, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với công nghệ và tinh thần hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy và tiếp xúc với sinh viên, tôi nhận ra một yếu tố rất quan trọng nhưng đôi khi chưa được nhìn nhận đúng mức: năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Với tư cách là một giảng viên ngôn ngữ Anh, tôi từng gặp không ít trường hợp khiến mình vừa tiếc nuối vừa trăn trở. Có những sinh viên học rất tốt chuyên ngành, tư duy logic rõ ràng, thái độ làm việc nghiêm túc. Thế nhưng khi bước vào môi trường nghề nghiệp có yếu tố quốc tế, họ lại gặp rào cản lớn chỉ vì không đủ khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Một lần, một cựu sinh viên tìm gặp tôi sau khi tốt nghiệp vài năm. Em làm trong lĩnh vực kỹ thuật và được công ty cử tham gia một dự án có đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, vì khả năng tiếng Anh hạn chế nên em chỉ có thể đảm nhận những phần việc nhỏ, không được trực tiếp trao đổi chuyên môn với đối tác. “Thầy biết không, nhiều lúc em hiểu vấn đề chuyên môn nhưng không đủ tự tin để nói”, em chia sẻ.
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Tôi từng chứng kiến nhiều người có năng lực chuyên môn rất tốt nhưng đánh mất những cơ hội phát triển chỉ vì thiếu ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, điều đó càng trở nên đáng tiếc.
Thực tế cho thấy tri thức ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia. Hầu hết các tài liệu khoa học, công nghệ, kinh tế hay quản trị hiện đại đều được công bố bằng tiếng Anh. Nếu không có khả năng đọc hiểu ngoại ngữ, người học sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận những nguồn tri thức mới nhất của thế giới.
Điều này đặc biệt rõ trong môi trường đại học. Một sinh viên chỉ đọc giáo trình tiếng Việt có thể vẫn hoàn thành chương trình học.
Nhưng một sinh viên có khả năng đọc thêm tài liệu quốc tế sẽ có tầm nhìn rộng hơn rất nhiều. Các em có thể cập nhật nghiên cứu mới, so sánh các quan điểm học thuật và hiểu được xu hướng phát triển của ngành nghề. Ngoại ngữ vì thế không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là chìa khóa mở ra tri thức.
Vai trò của ngoại ngữ ở góc độ nghề nghiệp lại càng rõ ràng hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện nay hợp tác với đối tác quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc sử dụng công nghệ chuyển giao từ nước ngoài. Trong môi trường ấy, khả năng làm việc bằng ngoại ngữ trở thành một lợi thế lớn.
Một kỹ sư có thể rất giỏi chuyên môn, nhưng nếu không thể trao đổi trực tiếp với chuyên gia nước ngoài thì việc tiếp cận công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn. Một nhà nghiên cứu nếu không đọc được các công trình quốc tế sẽ khó bắt kịp nhịp phát triển của lĩnh vực mình theo đuổi.
Một doanh nhân nếu không giao tiếp được với đối tác quốc tế cũng sẽ bị hạn chế trong việc mở rộng thị trường… Từ đây, có thể thấy ngoại ngữ không chỉ là một kỹ năng bổ trợ, mà là một phần của năng lực chuyên môn trong thời đại toàn cầu hóa.
Tuy vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi cũng nhận thấy nhiều sinh viên vẫn xem việc học ngoại ngữ như một nghĩa vụ bắt buộc để vượt qua kỳ thi. Các em học để lấy chứng chỉ, để đủ điều kiện tốt nghiệp, nhưng chưa thật sự xem ngoại ngữ là công cụ cho tương lai nghề nghiệp của mình. Đây là một điều đáng suy nghĩ.
Việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ dừng ở việc đào tạo kiến thức chuyên ngành. Một người lao động trong thời đại mới cần có khả năng học hỏi liên tục, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Ngoại ngữ chính là chiếc cầu nối giúp họ thực hiện những điều đó.
Tất nhiên, việc học ngoại ngữ không phải là điều dễ dàng. Quá trình rèn luyện, cải thiện đòi hỏi sự kiên trì, thời gian và phương pháp phù hợp.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là nhận thức. Khi người học hiểu rằng ngoại ngữ là công cụ để mở rộng cơ hội nghề nghiệp và phát triển bản thân, họ sẽ có động lực học tập bền bỉ hơn.
Tôi nghĩ các trường đại học cũng cần nhìn nhận ngoại ngữ như một phần quan trọng trong chương trình đào tạo.
Việc dạy ngoại ngữ không nên chỉ tập trung vào ngữ pháp hay thi cử, mà cần hướng đến khả năng sử dụng thực tế: đọc tài liệu chuyên ngành, thuyết trình, trao đổi học thuật và làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần được khuyến khích tiếp xúc nhiều hơn với môi trường sử dụng ngoại ngữ. Các hoạt động học thuật, hội thảo quốc tế, chương trình trao đổi sinh viên hay những dự án hợp tác với đối tác nước ngoài đều là cơ hội quý để người học rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế.
Trong một thế giới ngày càng kết nối, khoảng cách giữa các quốc gia không còn nằm ở địa lý, mà nằm ở khả năng giao tiếp và hợp tác. Một người có chuyên môn giỏi nhưng thiếu ngoại ngữ giống như người có chìa khóa nhưng không mở được cánh cửa.
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao vì vậy không chỉ là đào tạo những người giỏi nghề, mà còn là đào tạo những con người có khả năng bước ra thế giới. Và trong hành trình ấy, ngoại ngữ chính là một trong những hành trang quan trọng nhất.
Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến dự thảo Điều lệ trường trung cấp, Điều lệ trường cao đẳng, trong đó nhiều nội dung mới liên quan đến quyền tự chủ tuyển sinh, tổ chức đào tạo, phân luồng học sinh và liên thông giữa các bậc học.
Dự thảo Điều lệ trường cao đẳng quy định trường cao đẳng có quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật.
Trường được tổ chức tuyển sinh, đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp, chương trình giáo dục trung học nghề, tự chủ xác định số lượng tuyển sinh, phương thức tuyển sinh, xây dựng kế hoạch tuyển sinh hằng năm trên cơ sở nhu cầu nhân lực và năng lực đào tạo…
Theo dự thảo, trường cao đẳng được liên kết với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp, tổ chức trong nước và nước ngoài để khai thác, huy động các nguồn lực xã hội trong thực hiện các chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với thị trường.
Trong khi đó dự thảo Điều lệ trường trung cấp quy định trường trung cấp được tổ chức tuyển sinh, đào tạo trình độ trung cấp, chương trình giáo dục trung học nghề.
Trường được tự chủ xác định số lượng tuyển sinh, phương thức tuyển sinh, xây dựng kế hoạch tuyển sinh hằng năm trên cơ sở nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của ngành, địa phương và năng lực đào tạo của nhà trường.
Trường trung cấp được thực hiện liên thông, liên kết đào tạo, tổ chức cho người học học tập, thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, liên kết với trường cao đẳng để tổ chức đào tạo liên thông từ trình độ sơ cấp, trung cấp lên cao đẳng, liên kết với cơ sở giáo dục đại học để tổ chức đào tạo trình độ đại học, đào tạo liên thông từ trung cấp lên đại học theo quy định.
Dự thảo cũng quy định trường trung cấp thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT khi được cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục có thẩm quyền cho phép, liên kết, phối hợp với trung tâm giáo dục thường xuyên.
ThS Võ Công Trí - Phó hiệu trưởng Trường cao đẳng Kỹ thuật và Du lịch Sài Gòn (TP.HCM) - cho rằng mở rộng quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo, từ tuyển sinh, xác định chỉ tiêu, phương thức tuyển sinh đến tổ chức đào tạo và xây dựng chương trình phù hợp hơn với thực tiễn ngành nghề.
Dự thảo nhấn mạnh liên kết doanh nghiệp cũng phù hợp với yêu cầu đào tạo hiện nay, khi doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào quá trình thực tập, góp ý điều chỉnh chương trình, hỗ trợ nhà trường đào tạo sát nhu cầu thị trường lao động.
Bên cạnh đó ông Trí đánh giá cao việc mở rộng phạm vi hoạt động đào tạo, trong đó trường cao đẳng được đào tạo trung học nghề trong bối cảnh phân luồng học sinh sau THCS, THPT còn nhiều vướng mắc.
Từ thực tiễn, ông Trí kiến nghị cần có quy định rõ hơn về một số điều kiện ràng buộc tối thiểu trong xét tuyển đại học, làm cơ sở phân luồng người học theo nhóm năng lực phù hợp với từng bậc học đại học, cao đẳng, trung cấp.
Theo ông, công tác định hướng cần được thực hiện từ cuối cấp, đặc biệt ở lớp 9 và lớp 12, để học sinh lựa chọn bậc học phù hợp, hạn chế lãng phí thời gian, nguồn lực của gia đình và xã hội.
Ông cũng đề xuất mở rộng cơ chế liên thông giữa các bậc học, tạo điều kiện để người học trung cấp, cao đẳng có lộ trình thuận tiện hơn khi học tiếp lên các trình độ cao hơn, trong đó có đại học.
TS Vũ Đình Bảy - Hiệu trưởng Trường cao đẳng Công nghệ cao Đồng An (TP.HCM) - đánh giá cao việc dự thảo nhấn mạnh quyền tự chủ của trường cao đẳng trong tuyển sinh, đào tạo, liên kết với doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đại học.
Tuy nhiên tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình, cần công khai chất lượng đào tạo, điều kiện bảo đảm chất lượng, tỉ lệ sinh viên có việc làm và hiệu quả hợp tác với doanh nghiệp…
Ngoài ra ông cho rằng quyền lợi người học cần được đặt ở vị trí trung tâm. Điều lệ nên làm rõ trách nhiệm của trường trong bảo đảm chất lượng thực tập, an toàn cho người học, hỗ trợ việc làm sau tốt nghiệp, công nhận tín chỉ, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp để người học có cơ hội học tiếp, chuyển đổi nghề và phát triển lâu dài.
"Nếu làm rõ được các cơ chế này, các trường cao đẳng vận hành linh hoạt hơn, nâng cao vị thế của giáo dục nghề nghiệp và mở thêm cơ hội học tập, việc làm cho người học", ông Bảy nói.
Thời hạn nhận đơn kéo dài đến hết ngày 12.7 và kết quả học bổng dự kiến công bố vào đầu tháng 9 năm nay, theo Cơ quan Giáo dục New Zealand (ENZ). NZUA là gói học bổng chính phủ dành riêng cho học sinh Việt và đây là năm thứ hai chương trình được triển khai. Mỗi suất trị giá 15.000 NZD (233 triệu đồng), áp dụng cho năm học đầu tiên trong chương trình cử nhân.
Trước khi ứng tuyển, học sinh cần nhận thư mời nhập học từ một trong 6 trường ĐH ở New Zealand có tham gia chương trình. Trong đó, các ĐH Waikato, Massey và Lincoln mỗi đơn vị được phân bổ 3 suất còn ĐH Auckland, Canterbury, Otago mỗi trường 2 suất. Ngoài ra, phần lớn các ĐH nêu trên còn cho phép sinh viên Việt Nam ứng tuyển thêm học bổng riêng của trường và có thể cộng gộp giá trị các học bổng.
Phần lớn ĐH New Zealand cũng cho phép học sinh Việt nộp đơn xin nhập học ngay khi có kết quả lớp 12 mà không cần đợi tới khi có chứng nhận tốt nghiệp THPT, hoặc ngay khi có điểm dự đoán IB hay A-level mà không cần phải đợi kết quả chính thức. Điều này giúp các bạn thuận tiện hơn khi xin thư mời nhập học.
Ngoài thư mời nhập học, ứng viên cần nộp thêm bảng điểm, chứng chỉ tiếng Anh đồng thời quay một video 90 giây để thể hiện bản sắc, sự sáng tạo và năng lực cá nhân. Trong đó yêu cầu tiếng Anh được điều chỉnh linh hoạt hơn, khi ứng viên cần đạt trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 7.0 là được, không bắt buộc đạt mức điểm tối thiểu nhất định ở từng kỹ năng.
"Chúng tôi luôn chủ động điều chỉnh quy trình ứng tuyển để NZUA trở nên gần gũi và thực tế hơn với học sinh Việt. Sự tham gia tích cực của các trường ĐH với cơ chế học bổng kép thể hiện rõ mong muốn của New Zealand trong việc chào đón những học sinh Việt tài giỏi", ông Ben Burrowes, Giám đốc khu vực châu Á của ENZ, nhấn mạnh.
Cũng theo ENZ, sinh viên du học tại New Zealand theo học bổng chính phủ NZUA sẽ được hưởng đầy đủ các quyền lợi làm việc trong thời gian học và sau khi tốt nghiệp. Cụ thể, sinh viên được làm thêm 25 giờ/tuần trong kỳ học và toàn thời gian trong kỳ nghỉ, tạo điều kiện để các có thêm trải nghiệm thực tế và trang trải chi phí khi đi học. Sau tốt nghiệp, sinh viên có thể ở lại làm việc 3 năm tại New Zealand để tích lũy kinh nghiệm làm việc quốc tế.
Nhằm hỗ trợ phụ huynh, học sinh hiểu rõ hơn về học bổng NZUA, ENZ sẽ tổ chức hội thảo trực tuyến để cung cấp thông tin đầy đủ về quy trình ứng tuyển, đồng thời giải đáp trực tiếp các thắc mắc liên quan đến chương trình. Hoạt động diễn ra từ 10 - 11 giờ ngày 24.5 và ai quan tâm có thể đăng ký tham dự miễn phí TẠI ĐÂY.
Theo thống kê từ ENZ, tính tới tháng 8.2025 có 83.535 du học sinh đang học ở các đơn vị cung cấp giáo dục ở New Zealand, tăng nhẹ so với tổng số lượng người nước ngoài tới học trong cả năm 2024 (83.524 người). Trong đó, Việt Nam có tổng cộng 1.895 người, tập trung đông nhất ở các ĐH (1.125), xếp sau sau đó là các trường phổ thông (350).
Chị Hạ Vy đang làm việc tại bộ phận tiếng Việt của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc, nơi sản xuất các nội dung hướng đến khán giả Việt Nam.
Bộ phận nơi chị Vy làm việc có 15 người, đảm nhiệm nhiều mảng khác nhau như bản tin thời sự, chương trình chuyên đề về văn hóa, kinh tế, du lịch và đời sống trên sóng radio và các kênh mạng xã hội. Đài cũng hợp tác với một số đài truyền hình tại Việt Nam để cùng sản xuất chương trình, trong đó chị Hạ Vy vừa là người dẫn chương trình vừa làm biên tập.
Điển hình như chuyên mục "Trung Quốc một góc nhìn" phát trên Đài truyền hình Việt Nam và một số chương trình ngắn phát sóng trên Báo và Phát thanh, truyền hình Hải Phòng cũng giới thiệu về văn hóa và đời sống tại Trung Quốc. Điều thú vị là bên cạnh công việc chính, chị Vy còn là một travel blogger (nhà sáng tạo nội dung du lịch) giới thiệu những điểm đến, văn hóa Trung Quốc bằng tiếng Việt cho… khán giả Việt.
Đến nay, kênh @HaVydulichTrungQuoc của chị có gần 37.000 người theo dõi, đã đăng tải trên 330 video, có một số video đạt hơn 100.000 lượt xem. Hạ Vy bắt đầu làm video du lịch bằng tiếng Việt vào khoảng năm 2020. Clip đầu tiên xuất hiện trong bối cảnh dịch COVID-19 giữa lúc một chợ nông sản lớn ở Bắc Kinh bị phong tỏa. Video giới thiệu về khu chợ, tình hình dịch và đời sống của chợ rất thời sự nên nhận sự quan tâm lớn từ khán giả Việt, đặc biệt là du học sinh tại Bắc Kinh lúc đó.
Sau giai đoạn giãn cách, nội dung của kênh mở rộng sang các chủ đề du lịch và trải nghiệm. Trung bình mỗi tháng chị đăng từ 2-4 video, mỗi video dài khoảng 10 phút. Các địa điểm du lịch được ghi lại trải dài từ Bắc Kinh đến Tân Cương, Quảng Châu, Nam Ninh và nhiều khu vực khác trên khắp Trung Quốc.
"Phần lớn khán giả của tôi là người Việt Nam. Nhiều bạn xem rồi mới hỏi "Ủa, chị là người Trung Quốc à?". Những lúc như vậy nói thật tôi thấy rất vui vì điều đó có nghĩa là tiếng Việt của mình đã đủ tự nhiên để mọi người nghe hiểu và cảm nhận được", chị Vy chia sẻ.
Chị Vy kể đã bắt đầu học tiếng Việt từ năm 2006 tại ĐH Dân tộc Quảng Tây ở Nam Ninh. Ban đầu chị lựa chọn ngành tiếng Thái, sau đó được phân bổ sang chuyên ngành tiếng Việt. Chị nói vì mình là người dân tộc Choang, ngôn ngữ có nhiều điểm gần gũi với tiếng Việt nên học tiếng Việt cũng khá thuận tiện.
Tuy nhiên chị tự nhủ phải luyện phát âm cho thật chắc. Trong những năm đầu, chị duy trì việc luyện phát âm mỗi sáng bên hồ Tương Tư trong khuôn viên trường, sử dụng các bản ghi âm và chương trình phát thanh để luyện nghe và đọc theo. Từ năm thứ hai, chị đã có thể giao tiếp cơ bản bằng tiếng Việt.
Đến năm thứ ba, khi tham gia chương trình học tập trao đổi tại Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), khả năng ngôn ngữ của Hạ Vy được cải thiện rõ rệt nhờ môi trường sử dụng thường xuyên. Sau khi tốt nghiệp, chị tiếp tục sang Việt Nam trong giai đoạn 2011-2013 để học thêm về báo chí tại Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội).
Từ đó đến nay, chị mỗi ngày đều duy trì việc học tiếng Việt liên tục cả trong công việc lẫn đời sống. Chị vẫn xem bản tin thời sự 19h của Đài truyền hình Việt Nam để luyện nghe và cập nhật cách sử dụng ngôn ngữ. Đồng thời chị vẫn thường theo dõi các nội dung về đời sống, du lịch của Việt Nam trên mạng xã hội để hiểu thêm cách người Việt kể chuyện và tiếp nhận thông tin.
"Học ngoại ngữ cần duy trì liên tục trong thời gian dài với nhịp độ đều đặn mỗi ngày. Có thể tiến từng bước nhỏ song người học cần giữ việc lặp lại và kiên trì bởi nếu ngắt quãng, khả năng ghi nhớ và sử dụng ngôn ngữ sẽ suy giảm rõ rệt", chị Vy chia sẻ.