Tôi lập gia đình, cả hai cùng nhau cố gắng cả chục năm mới mua được một căn hộ chung cư.
Mua xong lại đưa cha mẹ lên ở để chăm sóc khi tuổi già. Rồi sáng nào cũng tất bật đưa con đến nhà trẻ, chiều tối đón về. Ban ngày cha mẹ ở nhà một mình, con ở trường cả ngày, còn hai vợ chồng cắm mặt đi làm để trả nợ ngân hàng và kiếm tiền nuôi cả gia đình.
Một bạn cùng tuổi khái quát cuộc sống đa phần của thế hệ 8X mà tôi đọc được trên mạng xã hội và thấy vô cùng tâm đắc:
– Kiếm tiền mua nhà để cha mẹ ở trong bốn bức tường suốt ngày.
– Kiếm tiền gửi con đến trường từ sáng đến chiều.
– Kiếm tiền thuê người chăm sóc khi cha mẹ đau yếu.
Có lúc tôi tự hỏi, rốt cuộc mình đang xây dựng một cuộc sống tốt hơn hay chỉ đang xoay vòng trong guồng quay mà ai cũng phải chấp nhận?
Thế hệ 8X có lẽ là một thế hệ khá đặc biệt. Chúng tôi sinh ra trong những năm kinh tế đang manh nha phát triển, lớn lên cùng những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế. Cha mẹ dành cả đời tích cóp để nuôi con ăn học với niềm tin rằng con cái sẽ có cuộc sống sung túc hơn.
Quả thật, chúng tôi có nhà cao tầng thay cho mái ngói, có điều hòa thay cho quạt giấy, có ôtô thay cho xe đạp. Thu nhập nhìn chung cũng cao hơn thế hệ trước.
Nhưng cảm giác đủ đầy lại không có hơn bởi chi phí của cuộc sống hiện đại không chỉ nằm ở tiền bạc, mà còn nằm ở thời gian. Ngày xưa, nhiều gia đình ba thế hệ sống cùng nhau trong những căn nhà nhỏ. Ông bà trông cháu, bố mẹ đi làm. Chiều về cả nhà ăn cơm, trẻ con chạy nhảy ngoài sân.
Ngày nay, không gian sống rộng hơn nhưng khoảng cách giữa các thành viên dường như lại xa hơn. Ông bà sống trong căn hộ đầy đủ tiện nghi nhưng ít người trò chuyện. Đứa trẻ được học đủ kỹ năng nhưng thiếu những buổi chiều rong chơi cùng người thân. Người lớn đi làm từ sáng đến tối, cuối tuần lại tranh thủ xử lý những việc còn dang dở vì “bận, mệt do ‘cố gắng vì gia đình'”.
Tôi thấy có một vấn đề là xã hội ngày càng được thiết kế theo hướng mọi dịch vụ đều có thể mua bằng tiền, trong khi thời gian dành cho nhau thì không thể mua lại.
Có lẽ vì vậy mà nhiều người thuộc thế hệ 8X, thậm chí cả 9X, bắt đầu nói nhiều hơn về khái niệm “cân bằng”.
Không phải vì họ lười làm việc đâu, mà vì họ nhận ra kiếm thêm vài triệu đồng từ công việc làm thêm mỗi buổi tối đôi khi không đáng bằng một bữa cơm đủ mặt các thành viên trong gia đình.
Sau bài viết Chiều cao người Việt thuộc nhóm trung bình thấp nhất thế giới, tôi thấy nhiều người bàn tán sôi nổi, chỉ ra các nguyên nhân do: học hành nhiều, ít vận động, do dinh dưỡng (sữa) và thời tiết - nước ta ở vùng nhiệt đới nên trung bình kích thước cơ thể thon gọn để tối ưu trao đổi nhiệt, tiết kiệm năng lượng và do di truyền.
Nhiều họ hàng, bạn bè và người quen, nếu có con sinh cùng tuổi, khi gặp nhau, câu hỏi thăm đầu tiên sẽ là: "Con nặng bao nhiêu cân"?, "Có sổ sữa không?". Đến khi trẻ biết đi, biết chạy cho đến lúc vào tiểu học, thì mối quan tâm vẫn là câu chuyện "có bụ bẫm không", "nặng bao nhiêu".
Trong hai thông số cân nặng và chiều cao, tôi thấy đa số các bậc phụ huynh Việt vẫn quan tâm "bề ngang" hơn là "bề dài" với các mối bận tâm: "Ăn gì để con tăng cân" hơn là "làm sao để con cao lớn". Một trong những lý do dẫn đến việc này, theo họ là vì gen ảnh hưởng. "Bố mẹ không cao, con thấp là chuyện bình thường".
Trong khi đó, tôi thuộc thế hệ 8X, vợ chồng tôi cao chưa đến 1m7, tôi cao 1m69, vợ tôi 1m6 nhưng con trai tôi lúc học lớp 9 đã cao 1m76. Ngay từ khi con còn nhỏ, vợ chồng tôi đã tìm tòi nhiều phương pháp để cứu vãn chiều cao của "thế hệ F2".
Nếu các bạn đến các trường cấp 2, 3 bây giờ, có thể nhận thấy trẻ ngày nay cao trên 1m7 không hiếm. Số trẻ cao chạm mốc 1m8 cũng không ít.
Tôi nghĩ để có kết quả này, ngoài việc phụ thuộc các yếu tố di truyền, khí hậu... thì đây là kết quả của dinh dưỡng, vận động và đặc biệt là sự quan tâm cải thiện chiều cao cho con của các bậc cha mẹ.
Tại lễ phát động chiến dịch Vì một kỷ nguyên cao khỏe diễn ra ở Hà Nội hôm 12/5, TS. BS Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, cho biết nam giới nước ta hiện đạt 168,1 cm và nữ giới cao 156,2 cm.
Bảng thống kê của mạng lưới NCD Risk Factor Collaboration xếp người Việt đứng thứ 153 trên tổng số 201 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thanh niên Việt Nam hiện còn thấp hơn khoảng 3 cm so với mức trung bình 171 cm của nam giới toàn cầu.
Cách đây vài ngày, dưới ánh nắng gay gắt và oi bức của miền Nam, tôi đã đặt một cuốc xe công nghệ do một phụ nữ trung niên cầm lái. Cô khoảng 40 tuổi, mặc chiếc áo đồng phục đã cũ và sờn màu.
Dáng người tương đối nhỏ nên cô phải loay hoay với chiếc xe tay ga trong lúc chờ đợi và gạt chống để đón tôi lên xe.
Những năm gần đây, nền kinh tế chia sẻ đang ngày càng phổ biến hơn đối với nhóm lao động tự do. Vài năm trước, tài xế công nghệ vốn chủ yếu dành cho nam giới, giờ đây ngày càng nhiều phụ nữ hơn 30 tuổi tham gia lĩnh vực này.
Cô tài xế công nghệ chia sẻ với tôi rằng công việc này linh hoạt về mặt thời gian, giúp cô thu xếp về nhà nấu ăn và đưa đón con đi học do hai vợ chồng ở trọ tại thành phố, không có ông bà nội ngoại phụ giúp.
Tuy nhiên, đây chẳng phải là ưu tiên của cô, mà là cô không có sự lựa chọn tốt hơn. Trước khi sinh con, cô từng là nhân viên bán hàng cho một chuỗi quần áo, nhưng sau kỳ nghỉ thai sản, cô không thể tìm được công việc phù hợp với kinh nghiệm trước đó nên chấp nhận làm tài xế công nghệ.
Cô ấy cũng không phải trường hợp duy nhất buộc phải làm tài xế công nghệ để mưu sinh. Nhiều người phụ nữ hơn 30 tuổi phải làm những công việc đòi hỏi thể lực như tài xế công nghệ, vệ sinh máy lạnh... cho thấy việc mưu sinh chưa bao giờ điều dễ dàng đối với nhóm lao động tự do.
Điều này làm tôi nhớ đến một người phụ nữ trung niên đến nhà tôi dọn dẹp do vợ tôi đặt qua một ứng dụng công nghệ. Chị ấy mặc áo đồng phục màu cam hơi phai màu và phải chở theo một túi dụng cụ khá to và bất tiện trên xe máy.
Tương tự chị tài xế công nghệ, họ đều đang bán sức lao động để mưu sinh. Khi bị đẩy ra khỏi thị trường lao động chính thức, họ trở thành lao động tự do với muôn vàn bấp bênh: không có hợp đồng lao động, không được hưởng các chế độ an sinh xã hội, trong khi rủi ro tai nạn và bệnh lý nghề nghiệp rất cao.
Tôi tự hỏi rằng những công việc này có thật sự linh hoạt và tự do, hay chỉ là những người phụ nữ này buộc phải chấp nhận do không còn lựa chọn nào khác? Đến khi nào những người phụ nữ này mới có thể thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự bấp bênh dưới danh nghĩa "tự do"?
Có một chi tiết trong báo cáo của Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 khiến tôi phải dừng lại rất lâu: gần một nửa số cuộc gọi trong tháng 4/2026 là do chính trẻ em tự gọi đến để cầu cứu, không phải người lớn phát hiện rồi lên tiếng. 46.111 cuộc gọi trong một tháng là số lần trẻ em cố gắng phát tín hiệu giữa cảm giác cô độc, hoảng loạn và bế tắc. Nghiêm trọng hơn, gần 75% trong số các ca bạo lực này lại do chính người thân trong gia đình như bố mẹ, chú bác, ông bà gây ra.
Có em gọi vì bị bạo hành trong chính ngôi nhà của mình. Có em run rẩy kể về những dòng xúc phạm trên mạng xã hội. Có em mới 13-14 tuổi đã nói về chuyện tự làm đau bản thân như một cách giải thoát. Có em bật khóc vì áp lực thi cử, vì sợ làm bố mẹ thất vọng, vì cảm thấy mình "không đủ tốt" dù đã cố gắng đến kiệt sức. Và đau lòng nhất là nhiều em nói rằng mình không biết phải tâm sự với ai trước khi gọi đến một số điện thoại xa lạ.
Người lớn thường hay an ủi nhau rằng trẻ con bây giờ "sướng hơn ngày xưa". Đúng là các em có điều kiện sống tốt hơn, được tiếp cận công nghệ sớm hơn, đầy đủ vật chất hơn, nhưng áp lực lại lớn hơn nhiều. Không ít cha mẹ ở cạnh con cả ngày nhưng lại chẳng thực sự biết con đang nghĩ gì, sợ gì, tổn thương vì điều gì? Chúng ta đầu tư cho con học thêm, học kỹ năng, học ngoại ngữ, nhưng lại ít khi dạy con cách đối diện với thất bại, nỗi buồn hay cảm giác bị bỏ rơi.
Một đứa trẻ nếu cảm thấy an toàn trong chính gia đình mình, thường sẽ không phải ôm điện thoại khóc với người chưa từng gặp mặt để hỏi: "Cô ơi, cháu phải làm sao bây giờ?". Câu hỏi ấy không chỉ cho thấy khủng hoảng tâm lý của trẻ em đang gia tăng, mà còn phản chiếu khoảng trống lắng nghe đang tồn tại trong nhiều gia đình và trường học hiện nay.
Phần lớn trẻ bị bạo lực lại tổn thương bởi chính những người thân gần gũi nhất - cha mẹ, ông bà, người chăm sóc. Đây là sự thật không dễ nghe, bởi gia đình vốn được xem là nơi an toàn nhất của một đứa trẻ. Nhưng cũng chính vì trẻ yêu và phụ thuộc vào gia đình nhiều nhất, nên những tổn thương đến từ người thân thường để lại vết hằn sâu nhất.
>> Cả nhà thay nhau đánh đòn tôi đến tận 5 tuổi
Nhiều người lớn vẫn nghĩ bạo lực trẻ em chỉ là những trận đòn để lại thương tích trên cơ thể. Thực ra, có những kiểu tổn thương không để lại vết bầm ngoài da, nhưng theo một đứa trẻ suốt nhiều năm trưởng thành. Đó là những lời nói lặp đi lặp lại mỗi ngày: "Có mỗi chuyện học cũng không xong", "sao không được như con nhà người ta?", "mày làm bố mẹ mất mặt", "nín đi, có gì đâu mà khóc"... Người lớn nhiều khi nói trong lúc nóng giận rồi quên rất nhanh. Nhưng trẻ con thì khác, các em thường mang theo những câu nói ấy như một phần cách nhìn về chính bản thân mình.
Một đứa trẻ bị chê bai quá lâu sẽ không còn cố gắng để tốt hơn, mà bắt đầu tin rằng mình thật sự vô dụng. Một đứa trẻ liên tục bị phủ nhận cảm xúc sẽ dần học cách im lặng, vì nghĩ rằng nỗi buồn của mình là phiền phức. Và nguy hiểm nhất là khi trẻ không còn tìm thấy sự an toàn trong chính gia đình, các em sẽ đi tìm cảm giác được công nhận ở nơi khác - đôi khi là mạng xã hội, những mối quan hệ độc hại, những hành vi tự hủy hoại bản thân để giải tỏa áp lực.
Có một nghịch lý rất phổ biến trong nhiều gia đình hiện nay: cha mẹ sẵn sàng đầu tư rất nhiều tiền cho việc học của con, nhưng lại rất ít đầu tư thời gian để hiểu đời sống tinh thần của con. Nhiều phụ huynh thuộc lịch học thêm của con hơn thuộc tâm trạng của con. Có người biết chính xác tháng này con cần thi chứng chỉ gì, nhưng không nhớ lần gần nhất hai mẹ con ngồi nói chuyện thật lòng với nhau là khi nào?
Không ai sinh ra đã biết cách làm cha mẹ. Nhưng trong một xã hội mà trẻ em đang chịu áp lực ngày càng lớn, người lớn cũng cần học lại cách yêu thương con đúng cách. Đôi khi, điều giúp trẻ vượt qua khủng hoảng chỉ đơn giản là cảm giác rằng dù chuyện gì xảy ra, vẫn có một mái nhà chịu lắng nghe và ôm lấy mình. Bởi với trẻ em, gia đình không chỉ là nơi để lớn lên mà còn là nơi quyết định chúng sẽ nhìn bản thân mình bằng ánh mắt yêu thương hay đầy mặc cảm trong suốt quãng đời còn lại.