Sáng 31/5, Ngô Võ Tường Vy, học sinh trường THCS Lê Hồng Phong, đặc khu Côn Đảo, đứng lạc lõng giữa sân trường THCS Võ Trường Toản, phường Sài Gòn. Nữ sinh xem danh sách phòng thi rồi gửi balo để lên phòng sớm.
Em là học sinh duy nhất ở Côn Đảo dự thi vào lớp 10 công lập, theo thầy Trần Hải Bình, Trưởng điểm thi này. Bởi ở đặc khu Côn Đảo và xã đảo Thạnh An, học sinh tốt nghiệp THCS được xét tuyển bằng học bạ thay vì thi.
Vy kể cùng mẹ bay vào đất liền để chuẩn bị cho kỳ thi cách đây 5 ngày. Đầu năm lớp 9, em được gia đình định hướng vào đất liền học tập để tiếp xúc với thầy cô, bạn bè giỏi.
“Em cũng buồn vì phải xa nhà sớm nhưng chấp nhận để nâng cao lực học, mong sau này thi vào ngành Sư phạm Tiếng Anh”, Vy nói.
Nữ sinh đặt nguyện vọng lần lượt vào trường THPT Tây Thạnh, Nguyễn Thái Bình và Nguyễn Thị Diệu. Nếu đỗ, em sẽ ở lại nhà dì.
Nữ sinh kỳ vọng mỗi môn được 7 điểm nhưng chưa tự tin chưa tiếp xúc dạng đề của TP HCM nhiều. Vì trường không tổ chức ôn tập, Vy chủ yếu tự ôn và làm đề với sự hướng dẫn của thầy cô ở lớp dạy thêm.
“Đề thi lớp 10 của TP HCM khác với những dạng đề em từng học trước đây”, nữ sinh chia sẻ.
Năm nay, hơn 151.300 học sinh đăng ký thi lớp 10 công lập ở TP HCM, khoảng 78% đỗ. Sở Giáo dục và Đào tạo bố trí 242 điểm thi với hơn 6.400 phòng, dự kiến huy động gần 18.000 giáo viên.
Kỳ thi được tổ chức vào ngày 1-2/6. Học sinh làm ba bài thi Toán, Văn, Tiếng Anh, thi thêm môn chuyên nếu có nguyện vọng.
Lịch, giờ phát đề, làm bài các môn thi lớp 10 của TP HCM năm 2026 như sau:
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Giải pháp giảm áp lực thi lớp 10: Thay đổi cách tiếp cận về phân luồng

Từ năm học 2025 - 2026, công tác phân luồng học sinh (HS) sau THCS có nhiều chuyển biến tích cực nhờ giáo dục nghề nghiệp (GDNN) được Bộ GD-ĐT quản lý thống nhất, mở rộng liên thông và tăng cường hướng nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp nhiều khó khăn: nền kinh tế thiếu lao động kỹ thuật, nhưng phần lớn phụ huynh vẫn ưu tiên cho con vào lớp 10 THPT công lập rồi ĐH. Vấn đề phân luồng sau THCS vẫn là bài toán còn nhiều thách thức.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất hiện nay là việc GDNN được đưa về Bộ GD-ĐT quản lý thống nhất cùng với giáo dục phổ thông và giáo dục ĐH. Điều này giúp học viên có bằng nghề có cơ hội liên thông lên cao đẳng và ĐH.
Việc quản lý thống nhất mở ra cơ hội xây dựng một hệ thống giáo dục liên thông và linh hoạt hơn. Từ năm học 2025 - 2026, nhiều chính sách mới đã được triển khai theo hướng tăng cường hướng nghiệp thực chất thay vì phân luồng cơ học như trước.
Thông tư 16/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT quy định về hướng nghiệp và phân luồng đã quy định rõ việc phối hợp giữa trường phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong hoạt động hướng nghiệp. HS không chỉ được tư vấn lý thuyết mà còn được trải nghiệm nghề nghiệp, tiếp cận thông tin thị trường lao động và hiểu rõ hơn các con đường học tập sau THCS.
Bên cạnh đó, việc sửa đổi luật GDNN đã bổ sung mô hình "trung học nghề". Theo định hướng này, HS sau THCS có thể vừa học văn hóa vừa học nghề, sau khi tốt nghiệp được cấp bằng trung học nghề có giá trị tương đương THPT. Điều này giúp HS đi theo con đường tích hợp, vừa có nghề nghiệp sớm vừa duy trì cơ hội học lên cao đẳng hoặc ĐH.
Đây được xem là bước chuyển quan trọng nhằm giảm dần tâm lý "học nghề là hết đường học tiếp" vốn tồn tại nhiều năm.
Một thay đổi tích cực khác là chính sách miễn học phí đào tạo nghề cho HS tốt nghiệp THCS học trung cấp.
Trong bối cảnh nhiều gia đình còn khó khăn về kinh tế, chính sách này có ý nghĩa rất lớn. Với không ít HS ở nông thôn hay vùng khó khăn, việc vừa được học nghề miễn phí, vừa có thể tham gia thị trường lao động sớm là lựa chọn thực tế và phù hợp hơn.
Đặc biệt, bối cảnh kinh tế hiện nay cũng đang tạo ra cơ hội mới cho GDNN. VN đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh các ngành công nghệ và kỹ thuật cao như: cơ khí chính xác, tự động hóa, logistics, công nghệ ô tô, bán dẫn, sản xuất thông minh, AI và công nghệ số, các lĩnh vực dịch vụ bậc cao… Tất cả đều cần số lượng lớn lao động kỹ thuật tay nghề cao, kỹ thuật viên trình độ trung cấp, cao đẳng và kỹ sư thực hành.
Trong khi đó, nhiều năm qua, thị trường lao động VN rơi vào nghịch lý: thiếu lao động kỹ thuật nhưng dư thừa cử nhân ở nhiều ngành. Không ít sinh viên ĐH ra trường làm trái ngành hoặc làm các công việc không cần trình độ ĐH, trong khi doanh nghiệp lại rất khó tuyển kỹ thuật viên có tay nghề tốt.
Điều này khiến GNNN bắt đầu được nhìn nhận lại dưới góc độ thực tế hơn. Nếu trước đây nhiều phụ huynh xem học nghề là "lối đi phụ", thì nay ngày càng có nhiều gia đình bắt đầu quan tâm đến khả năng có việc làm sớm, thu nhập ổn định và cơ hội nghề nghiệp thực chất.
Dù có nhiều điều kiện thuận lợi mới, phân luồng sau THCS hiện vẫn đối mặt với những rào cản rất lớn.
Khó khăn lớn nhất vẫn nằm ở tâm lý xã hội. Trong nhiều gia đình, học THPT rồi ĐH vẫn được xem là con đường thành công "chuẩn mực". Ngược lại, học nghề thường bị gắn với hình ảnh HS học lực yếu hoặc thất bại trong cạnh tranh học tập. Đây là rào cản mang tính văn hóa rất khó thay đổi trong thời gian ngắn. Thực tế nhiều cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái ngành, nhưng hầu như phụ huynh vẫn muốn con học ĐH hơn là vào trường nghề từ sớm.
Từ đó dẫn đến nghịch lý đang tồn tại khá rõ: xã hội thiếu lao động kỹ thuật nhưng người học vẫn ngại học nghề.
Nếu trước đây phân luồng phần nào diễn ra do không đủ chỗ học THPT, do áp đặt chỉ tiêu (40% HS sau THCS tham gia GDNN) thì hiện nay cơ cơ hội THPT được mở, không áp đặt chỉ tiêu phân luồng cứng. Đây là thành tựu của phổ cập giáo dục, nhưng đồng thời cũng tạo thêm thách thức cho GDNN, khi cánh cửa vào THPT ngày càng rộng, HS sẽ ít lựa chọn trường nghề hơn, đặc biệt là HS khá giỏi.
Việc đưa mô hình trung học nghề vào luật Giáo dục và luật GDNN được xem là bước đi đáng chú ý. Đây là mô hình phù hợp xu hướng quốc tế khi nhiều nước công nghiệp phát triển mạnh các trường trung học kỹ thuật, trung học nghề gắn với công nghệ hiện đại và doanh nghiệp. Ở các nước này, học nghề không bị xem thấp hơn học hàn lâm, thậm chí nhiều trường kỹ thuật có chất lượng đào tạo cao và cơ hội việc làm rất hấp dẫn.
Tuy nhiên, tại VN, mô hình trung học nghề vẫn chưa đủ sức hút. Nhiều phụ huynh còn băn khoăn về giá trị xã hội của bằng trung học nghề, khả năng liên thông lên ĐH, cơ hội việc làm và thu nhập; đồng thời lo ngại học nghề từ năm 15 tuổi là quá sớm. Đặc biệt, quy chế thi tốt nghiệp trung học nghề hiện vẫn chưa được ban hành.
Bên cạnh đó, nhiều trường nghề chưa tạo được hình ảnh hiện đại đối với HS khá giỏi. Không ít người vẫn gắn học nghề với lao động chân tay, công việc vất vả, thu nhập thấp và ít cơ hội thăng tiến. Các hình mẫu thành công từ GDNN cũng chưa được truyền thông mạnh mẽ, khiến khoảng cách về vị thế xã hội của GDNN giữa VN và các nước công nghiệp vẫn còn khá lớn.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy phân luồng không thể thành công nếu chỉ dựa vào giảm chỉ tiêu lớp 10, áp lực tuyển sinh hay các biện pháp hành chính.
Người dân chỉ thay đổi lựa chọn khi thật sự nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp tốt, thu nhập ổn định, môi trường làm việc hiện đại và khả năng học tiếp rộng mở.
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy GDNN chỉ phát triển mạnh khi chất lượng đào tạo tốt, doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo, đầu ra nghề nghiệp hấp dẫn và hệ thống liên thông thật sự thông suốt.
VN đang bước vào giai đoạn phải thay đổi cách nhìn về phân luồng sau THCS. Trong một nền giáo dục hiện đại, phân luồng không nên mang ý nghĩa "sàng lọc", mà phải hướng tới tạo ra nhiều con đường phát triển thành công khác nhau cho người học.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Cambridge International Education và iSMART Education thúc đẩy mô hình Cambridge Associate tại Việt Nam

Thỏa thuận Associate Agreement lần này được xem là bước nâng chuẩn quan trọng: iSMART Education không chỉ triển khai chương trình, mà còn phối hợp trực tiếp với Cambridge International Education trong đào tạo giáo viên, đảm bảo chất lượng học thuật và tổ chức khảo thí theo tiêu chuẩn Cambridge.
Cambridge International Education thuộc Cambridge University Press & Assessment, Vương quốc Anh - tổ chức giáo dục quốc tế hiện diện tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong những chuẩn mực khảo thí và chương trình giáo dục phổ thông uy tín nhất thế giới.
Điểm đáng chú ý của thỏa thuận là phạm vi hợp tác toàn diện. Theo đó, iSMART Education sẽ phối hợp với Cambridge International Education trong 5 hoạt động trọng tâm: triển khai chương trình chuẩn Cambridge; phát triển và đào tạo giáo viên đạt chuẩn Cambridge; đảm bảo chất lượng học thuật; tổ chức khảo thí; và mở rộng mạng lưới trường Cambridge tại Việt Nam.
Đây là điểm khác biệt so với mô hình đưa tài liệu Cambridge vào trường học đơn thuần - mô hình Cambridge Associate đòi hỏi cam kết hệ thống từ hai phía, bao gồm cả kiểm soát chất lượng và đảm bảo học thuật từ phía Cambridge International.
Giai đoạn đầu, hai bên tập trung triển khai và chuẩn hóa chương trình cho 3 bậc học, tạo nên hành trình học thuật quốc tế liên tục. Ba chương trình cụ thể:
Cambridge Early Years - Mầm non quốc tế: Phát triển toàn diện tư duy, ngôn ngữ và kỹ năng từ giai đoạn nền tảng, theo chuẩn học thuật Cambridge.
Cambridge Primary - Tiểu học quốc tế: Xây dựng năng lực học thuật, tư duy phản biện và tiếng Anh học thuật theo chuẩn Cambridge cho học sinh tiểu học.
Cambridge Lower Secondary - THCS quốc tế: Phát triển năng lực học thuật chuyên sâu, chuẩn bị sẵn sàng cho các kỳ thi Cambridge quốc tế và lộ trình học thuật cao hơn.
Các chương trình được triển khai trước tiên tại Hà Nội và TP.HCM, với kế hoạch mở rộng lên hơn 20 trường và phục vụ hàng chục nghìn học sinh vào năm 2030. Hiện tại, một số trường mầm non, tiểu học và THCS tại Hà Nội đang triển khai thí điểm và được xem là những điển hình tiên phong trong việc tích hợp chương trình Cambridge vào môi trường giáo dục công lập.
Một trong những điểm mới của hợp tác lần này là mô hình iCam - iSMART Cambridge Virtual School. Thông qua hình thức blended learning - kết hợp học trực tiếp và trực tuyến qua hệ thống virtual school hubs - iCam hướng đến việc đưa chương trình Cambridge đến gần hơn với học sinh ở nhiều vùng và nhiều phân khúc kinh tế khác nhau, không chỉ dừng lại ở các trường tinh hoa tại đô thị lớn.
"Sáng kiến hợp tác chiến lược này thể hiện cam kết dài hạn của Cambridge International Education và iSMART Education trong việc đồng hành cùng quá trình đổi mới giáo dục tại Việt Nam, phát triển năng lực công dân toàn cầu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tương lai" - trích thông cáo báo chí chính thức.
Không ít chuyên gia giáo dục cho rằng thách thức lớn nhất khi triển khai chương trình Cambridge tại Việt Nam không phải là nội dung chương trình, mà là chất lượng giáo viên. Hợp tác lần này đặt trọng tâm đặc biệt vào phát triển đội ngũ giáo viên Việt Nam đạt chuẩn Cambridge - yếu tố được kỳ vọng sẽ tạo nên sự khác biệt thực chất trong chất lượng đào tạo so với mô hình "nhập tài liệu, dạy như cũ".
Hợp tác cũng hướng đến việc thúc đẩy mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong giáo dục, đồng hành cùng chủ trương hội nhập quốc tế và đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
IELTS từ 5.5 mới có thể học công nghệ bán dẫn tốt, làm việc ngay khi ra trường

Sáng 11-4, tại Hà Nội, diễn ra hội thảo Tương lai ngành bán dẫn: Giải mã con chip, định hình tương lai, giúp các bạn học sinh hiểu rõ cơ hội nghề nghiệp, có thêm định hướng trong ngành bán dẫn.
Tại hội thảo, do Viện Đại học quốc tế FPT (Tập đoàn FPT) tổ chức, PGS.TS Phạm Thị Liên - Giám đốc đào tạo Đại học Gachon tại Việt Nam - cho biết theo dự báo, thị trường nhân lực bán dẫn toàn cầu có thể đạt quy mô 1.000 tỉ USD vào năm 2030.
Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ này kéo theo sự thiếu hụt về nguồn nhân lực. Trong đó đến cuối 2030, toàn cầu dự kiến thiếu khoảng 1 triệu kỹ sư bán dẫn.
Để khắc phục sự thiếu hụt nguồn nhân lực, Việt Nam đã đặt mục tiêu quốc gia đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030. Tuy nhiên thời điểm hiện tại mới đáp ứng khoảng 20% nguồn nhân lực trên thị trường.
"Ngoài thiếu hụt số lượng, hiện chúng ta còn đang thiếu hụt về chất lượng. Các kỹ sư khi được đào tạo ra gặp một số hạn chế về khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Cụ thể như thiếu hụt trầm trọng kỹ sư thiết kế vi mạch và quy trình sản xuất, thiếu kinh nghiệm thực chiến. Đặc biệt, còn gặp rào cản ngoại ngữ khi làm việc tại môi trường có yếu tố nước ngoài", bà Liên nói.
Theo bà Liên, bán dẫn là một ngành học mới, học liệu mới gần như đều được cập nhật bằng tiếng Anh. Khi có khả năng ngoại ngữ tốt, sinh viên có thể tiếp cận, đọc hiểu tài liệu nhanh hơn nhiều lần. Nếu ngoại ngữ không tốt, sinh viên dễ bị lạc hậu, bỏ sau về kiến thức.
"Để học tốt lĩnh vực bán dẫn, người học cần có trình độ IELTS tối thiểu từ 5.5. Ngoại ngữ sẽ như một tấm "hộ chiếu" để những người theo đuổi bán dẫn cập nhật kiến thức toàn cầu, đi được đường dài trong học tập, phát triển sự nghiệp", bà Liên nói thêm nếu cùng năng lực, người có ngoại ngữ lương có thể cao hơn gấp 1,5 lần.
Còn tiến sĩ Jimmy Le - Phó viện trưởng Viện Quantum AI, Tập đoàn FPT - cho rằng để phát triển bản thân, mỗi người cần phải vượt qua các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, phá vỡ những giới hạn để thể hiện năng lực bản thân.
Ông Jimmy Le cho rằng học sinh THPT tại Việt Nam có nhiều tiềm năng, nằm trong top 34 trình độ học sinh toàn cầu. Tuy nhiên các em cần tự tin hơn trong việc học tập, kết nối kiến thức, thể hiện năng lực bản thân để cạnh tranh với toàn cầu.
"Nếu chúng ta cứ chọn việc dễ thì không bao giờ việc đến với chúng ta. Hãy chọn công việc có nhiều thách thức, việc khó, để chúng ta cố gắng. Chúng ta hơn người khác là nhờ sự vượt khó", ông Jimmy Le nhắn nhủ các bạn học sinh khi chọn ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn cần có sự đầu tư, quyết tâm, quyết liệt vô cùng lớn.
Theo ThS Võ Hoài Xuân - Phó giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam cho thấy tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ với sự gia nhập của các tập đoàn hàng đầu thế giới và sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn. Hiện Việt Nam có hơn 50 công ty thiết kế, 15 công ty đóng gói và kiểm tra vi mạch…
Ông Xuân cho biết phát triển công nghiệp bán dẫn là nhiệm vụ khó khăn liên quan đến các ngành với nhiều thách thức. Trong đó hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn trong nước vẫn trong giai đoạn hình thành, tiếp tục phát triển để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu.
Hiện nguồn lực chất lượng cao còn thiếu, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư thực hành và nhân lực trình độ chuyên sâu; hạ tầng kỹ thuật tiêu chuẩn cao. Do đó lĩnh vực bán dẫn cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế và đi vào chiều sâu, đặc biệt trong chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực.
Tại hội thảo, Trường đại học FPT và Đại học Gachon (Hàn Quốc) cũng đã ra mắt chương trình cử nhân công nghệ bán dẫn do hai bên hợp tác. Sinh viên theo học sẽ có cơ hội học tập 2 năm ở Việt Nam và 2 năm tại Hàn Quốc.

