Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại TPHCM năm học 2026-2027 sẽ diễn ra trong hai ngày 1 và 2/6 với hơn 151.000 thí sinh dự thi. Trong sáng 31/5, thí sinh đến điểm thi sinh hoạt quy chế.
Đến muộn quá 15 phút không được vào thi
Theo quy định của Sở GD&ĐT TPHCM, thí sinh phải có mặt tại điểm thi, phòng thi đúng thời gian quy định; xuất trình căn cước/căn cước công dân và Phiếu báo danh.
Trường hợp chưa được cấp căn cước/căn cước công dân thì xuất trình Thẻ học sinh. Nếu thấy có những sai sót về họ, tên đệm, tên, ngày, tháng, năm sinh, đối tượng ưu tiên, khuyến khích phải báo ngay cho giám thị hoặc người làm nhiệm vụ tại điểm thi để xử lý kịp thời.
Trường hợp bị mất căn cước/căn cước công dân hoặc Phiếu báo danh, thí sinh phải báo cáo ngay cho trưởng điểm thi để xem xét, xử lý.
Mỗi buổi thi, thí sinh phải có mặt tại điểm thi, phòng thi đúng thời gian quy định, chấp hành hiệu lệnh của điểm thi và hướng dẫn của giám thị. Thí sinh đến chậm quá 15 phút sau khi có hiệu lệnh tính giờ làm bài sẽ không được dự thi buổi thi đó.
Những vật dụng được và không được mang vào phòng thi
Sở GD&ĐT TPHCM quy định, trong phòng thi, thí sinh phải ngồi đúng vị trí có ghi số báo danh của mình; xuất trình căn cước/căn cước công dân, Phiếu báo danh khi có yêu cầu của giám thị hoặc người làm nhiệm vụ tại điểm thi.
Để phục vụ quá trình làm bài thi, thí sinh được mang vào phòng thi, gồm: bút viết; thước kẻ; bút chì; tẩy chì; êke; thước vẽ đồ thị; dụng cụ vẽ hình; máy tính cầm tay không có chức năng soạn thảo văn bản, không có thẻ nhớ.
Các vật dụng thí sinh không được mang vào phòng thi, gồm: giấy than, bút xóa, đồ uống có cồn; vũ khí và chất gây nổ, gây cháy; tài liệu, thiết bị truyền tin (thu, phát sóng thông tin, ghi âm, ghi hình) hoặc chứa thông tin để gian lận trong quá trình làm bài thi; bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và bảng tính tan, tập bản đồ địa lý.
Trước khi làm bài thi, thí sinh phải ghi đầy đủ số báo danh và thông tin của mình vào đề thi, giấy thi, giấy nháp. Khi nhận đề thi, phải kiểm tra kỹ số trang, chất lượng các trang in; nếu phát hiện đề thi thiếu trang hoặc rách, hỏng, nhòe, mờ phải báo cáo ngay với giám thị, chậm nhất 5 phút từ thời điểm bắt đầu tính giờ làm bài.
Trong thời gian ở phòng thi, thí sinh phải giữ trật tự; báo cáo ngay cho giám thị khi người khác chép bài của mình hoặc cố ý can thiệp vào bài của mình; không được trao đổi, bàn bạc, chép bài của người khác, cho người khác chép bài, sử dụng tài liệu trái quy định để làm bài thi hoặc có những cử chỉ, hành động gian lận.
Nếu muốn có ý kiến, thí sinh phải giơ tay xin phép giám thị; sau khi được phép, thí sinh đứng trình bày công khai ý kiến của mình. Không được đánh dấu hoặc làm ký hiệu riêng, không được viết bằng bút chì, trừ vẽ đường tròn bằng compa; chỉ được viết bằng một màu mực xanh hoặc đen.
Thí sinh chỉ được ra khỏi phòng thi sau 2/3 thời gian làm bài và phải nộp bài làm, đề thi và giấy nháp trước khi rời phòng thi, khu vực thi. Nếu thí sinh nhất thiết phải tạm thời ra khỏi phòng thi thì giám thị phải báo cho giám thị giám sát coi thi để phối hợp thực hiện.
Việc ra khỏi phòng thi, khu vực thi của thí sinh trong trường hợp cần cấp cứu phải có sự giám sát của công an cùng giám thị giám sát coi thi cho tới khi hết giờ làm bài của buổi thi và do trưởng điểm thi quyết định.
Khi có hiệu lệnh hết giờ làm bài, thí sinh phải ngừng làm bài ngay, bảo quản bài thi. Khi nộp bài thi, phải ghi rõ số tờ giấy thi đã nộp và ký xác nhận vào 2 phiếu thu bài thi; thí sinh không làm được bài cũng phải nộp tờ giấy thi.
Ngoài ra, thí sinh phải tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn của giám thị và người có trách nhiệm tại điểm thi khi có sự việc bất thường xảy ra.
Xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm quy chế
Theo quy định của Sở GD&ĐT TPHCM, có 5 hình thức kỷ luật đối với thí sinh vi phạm quy chế thi.
Hình thức khiển trách áp dụng đối với thí sinh vi phạm lần đầu thông qua hành vi nhìn bài của thí sinh khác, liếc qua để xem bài làm hoặc trao đổi thông tin, câu trả lời, nội dung bài thi với thí sinh khác bằng lời nói, cử chỉ hoặc hình thức giao tiếp khác trong phòng thi. Thí sinh bị khiển trách trong khi thi bài thi nào sẽ bị trừ 25% tổng số điểm của bài thi đó.
Trong khi đó, hình thức cảnh cáo áp dụng đối với thí sinh đã bị khiển trách một lần nhưng vẫn tiếp tục vi phạm ở mức khiển trách; trao đổi bài làm hoặc giấy nháp; chép bài của thí sinh khác hoặc để thí sinh khác chép bài của mình. Thí sinh bị cảnh cáo trong khi thi bài thi nào sẽ bị trừ 50% tổng số điểm của bài thi đó.
Nghiêm trọng hơn là hình thức đình chỉ thi đối với các trường hợp đã bị cảnh cáo nhưng vẫn tiếp tục vi phạm; mang vật dụng, tài liệu trái phép vào phòng thi; đưa đề thi ra ngoài hoặc nhận bài giải từ ngoài vào; viết, vẽ nội dung không liên quan đến bài thi; có hành động gây gổ, đe dọa thí sinh khác và người làm nhiệm vụ trong điểm thi; không tuân thủ hướng dẫn của những người làm nhiệm vụ tại điểm thi khi di chuyển trong khu vực thi.
Khi bị đình chỉ thi, thí sinh phải nộp bài thi, đề thi, giấy nháp cho giám thị và ra khỏi phòng thi ngay sau khi có quyết định. Đồng thời, thí sinh chỉ được rời khỏi khu vực thi khi hết thời gian của buổi thi đó. Kết quả xử lý là điểm 0 cho bài thi vi phạm, không được tiếp tục dự thi các bài tiếp theo và bị hủy toàn bộ kết quả kỳ thi năm đó.
Ngoài ra, những bài thi có đánh dấu bị phát hiện trong khi chấm sẽ bị trừ 50% tổng số điểm của bài thi. Các trường hợp bị cho điểm 0 gồm: Bài thi được chép từ tài liệu mang trái phép vào phòng thi; có hai bài làm trở lên đối với một bài thi; bài thi có chữ viết của hai người trở lên; những phần của bài thi viết trên giấy nháp hoặc giấy không đúng quy định.
Đối với các hành vi giả mạo hồ sơ để hưởng chế độ ưu tiên, khuyến khích; nhờ người khác dự thi thay, làm bài thay; gây rối, phá hoại kỳ thi hoặc hành hung người tham gia công tác tổ chức thi, cơ quan chức năng sẽ hủy kết quả thi và lập hồ sơ gửi cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 công lập tại TPHCM năm học 2026-2027 được tổ chức tại 242 điểm thi, trong đó có 226 điểm thi thường và 16 điểm thi chuyên. Tổng chỉ tiêu vào lớp 10 công lập khoảng 118.550 học sinh.
Thí sinh dự thi 3 môn gồm ngữ văn, toán và ngoại ngữ; riêng thí sinh đăng ký vào lớp chuyên hoặc tích hợp sẽ thi thêm môn tương ứng.
Mời bạn đọc theo dõi đề thi và đáp án tuyển sinh lớp 10 năm 2026 của các tỉnh, thành được cập nhật liên tục tại: Đề thi và đáp án thi lớp 10 năm 2026 của tất cả 34 tỉnh, thành
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử, tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử.
Việc ban hành thông tư này nhằm cụ thể hóa những quy định về sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.
Theo thông tư trên, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sư phạm của nội dung dạy học.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật, quy chuẩn về lưu chiểu và các quy định của pháp luật có liên quan.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng khẳng định sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in, không mang tính bắt buộc với cơ sở giáo dục, giáo viên và học sinh.
Sách giáo khoa điện tử được công nhận và sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và xu thế giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Thông tư trên nêu rõ sách giáo khoa điện tử không thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định hiện hành. Người tổ chức sách giáo khoa điện tử phải đảm bảo bảo mật thông tin của cá nhân học sinh và giáo viên theo quy định của pháp luật.
Thông tư cũng quy định sách giáo khoa điện tử không chèn quảng cáo, nội dung kinh doanh, không chứa và không được hiển thị các liên kết độc hại hoặc nội dung không phù hợp với mục đích giáo dục.
Giao diện sách giáo khoa điện tử phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, hình ảnh, âm thanh, video trong sách giáo khoa điện tử được thiết kế và sử dụng như giải pháp sư phạm. Đây là ưu điểm của sách giáo khoa điện tử, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng tính trải nghiệm trong học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải tuân thủ các quy định hiện hành về kỹ thuật của xuất bản phẩm điện tử, khuyến khích sử dụng các chuẩn mở quốc tế cho xuất bản phẩm điện tử giáo dục.
Sách giáo khoa điện tử bảo đảm tính năng hỗ trợ sử dụng ngoại tuyến đối với nội dung tĩnh. Có thể sử dụng trên thiết bị cấu hình thấp, tích hợp các tính năng công nghệ hỗ trợ tiếp cận dành cho đối tượng học sinh khuyết tật và người yếu thế.
Về hạ tầng và bảo mật sách giáo khoa điện tử, thông tư trên quy định, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu đặt tại Việt Nam, có tên miền Internet Việt Nam, được bảo trì định kỳ và tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng theo quy định hiện hành.
Sách giáo khoa điện tử phải được hoạt động ổn định trên các thiết bị, nền tảng khác nhau, không phụ thuộc độc quyền vào công nghệ, cấu hình thiết bị riêng biệt, tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về dữ liệu để tích hợp được với các hệ thống quản lý học tập.
Đồng thời sách giáo khoa điện tử phải có cơ chế đồng bộ dữ liệu thông suốt giữa chế độ trực tuyến và ngoại tuyến.
Sách giáo khoa điện tử chỉ được chỉnh sửa, cập nhật khi sách giáo khoa bản in được chỉnh sửa, cập nhật. Việc chỉnh sửa, cập nhật sách giáo khoa điện tử do đơn vị chuyển thể tổ chức thực hiện, bảo đảm các nội dung cập nhật không làm giảm mức độ tiếp cận đã đạt được tại các phiên bản trước đó.
Việc tổ chức thực nghiệm kỹ thuật và đánh giá trải nghiệm người dùng trên các nhóm đối tượng học sinh, giáo viên đại diện vùng miền.
Cụ thể, số tiết thực nghiệm ít nhất 5% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 105 tiết/năm học trở lên; ít nhất 10% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 70 tiết/năm học đến dưới 105 tiết/năm học; ít nhất 15% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục còn lại.
Hình thức tổ chức thực nghiệm trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.
Đơn vị chuyển thể tổ chức chỉnh sửa, biên tập, hoàn thành bản mẫu sách giáo khoa điện tử và đề nghị với đơn vị tổ chức thẩm định, thẩm định bản mẫu sách giáo khoa điện tử.
Ngay sau khi đọc thông tin về vụ việc nữ sinh lớp 7 rơi từ tầng 3 xuống đất xảy ra tại Trường THCS Lạc Long Quân, đăng tải trên Dân trí, GS.TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam, lập tức chia sẻ về cách ứng xử khẩn cấp đối với những học sinh chứng kiến sự việc đau lòng.
Theo ông, khi chứng kiến sự việc này, học sinh có thể xuất hiện nhiều phản ứng sang chấn như hoang mang, lo sợ, ám ảnh hoặc thay đổi hành vi.
Từ các lý thuyết về “Dựa trên tiếp cận hỗ trợ tâm lý ban đầu (Psychological First Aid - PFA)…” và “Hành vi tìm kiếm trợ giúp (help-seeking)” cho thấy hỗ trợ tâm lý học đường đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm giúp các em ổn định cảm xúc, hiểu và chấp nhận phản ứng của bản thân, đồng thời giảm thiểu nguy cơ lan truyền tâm lý tiêu cực.
Việc can thiệp cần được thực hiện kịp thời, có hệ thống, kết hợp giữa nhà trường, gia đình và bạn bè, hướng đến xây dựng môi trường an toàn, lắng nghe và không kỳ thị.
Thứ nhất, ổn định tâm lý học sinh ngay trong 24-72 giờ đầu.
Nhà trường cần có một đầu mối phát ngôn thống nhất, thông báo ngắn gọn, đúng sự thật, tránh mô tả chi tiết gây ám ảnh; giúp giáo viên chủ nhiệm có thời gian “sẻ chia” cảm xúc với lớp; tạo không gian an toàn để học sinh nói “em đang sợ, hoang mang, lo cho bạn”.
Đặc biệt, tuyệt đối không gợi ý hay khai thác kể lại hiện trường, không bắt viết tường trình cảm xúc trước tập thể, không dùng ngôn ngữ trách phạt...
Những phản ứng như bàng hoàng, sợ hãi, mất tập trung, ám ảnh hình ảnh, khó ngủ trong ngắn hạn có thể xuất hiện sau biến cố, thầy cô cần trấn an, hiện diện và hướng dẫn tìm trợ giúp khi cần.
Thứ hai, sàng lọc nhóm cần hỗ trợ sâu hơn thay vì can thiệp đại trà
Bạn cùng lớp, học sinh trực tiếp chứng kiến, học sinh thân với nạn nhân, học sinh đã có tiền sử lo âu/trầm buồn/tự làm hại, các em đang chịu áp lực… cần được ưu tiên chú ý nếu có biểu hiện khác thường.
Cần chuyển ngay cho chuyên gia hoặc cơ sở y tế khi phát hiện học sinh có dấu hiệu: hoảng loạn kéo dài, mất ngủ nhiều đêm, né tránh đi học, ám ảnh lặp lại, thu mình rõ rệt, phát ngôn tuyệt vọng, tự trách quá mức, làm hại bản thân.
Quá trình chuyển học sinh đến các chuyên gia tâm lý hay y tế chuyên sâu cần đảm bảo quy trình, tuân thủ các nguyên tắc chuyển giao, có sự phối hợp với gia đình, đảm bảo sự hỗ trợ kịp thời hướng đến sự an toàn, tránh lây lan...
Có một nghịch lý là không ít học sinh có thể khá tự tin rằng mình “tự xử lý được”, nhưng chính điều đó đôi khi lại làm chậm việc tìm hỗ trợ chuyên môn. Vì vậy nhà trường không nên chờ các em đề nghị giúp đỡ rồi mới can thiệp.
Thứ ba, làm việc song song với gia đình cácem học sinh một cách tích cực
Cần gửi hướng dẫn ngắn cho phụ huynh về cách nói chuyện với con trong vài ngày đầu: hỏi mở, lắng nghe nhiều hơn dạy bảo, không ép “quên đi”, không mắng “con nghĩ nhiều quá”, hạn chế để trẻ xem lại video/tin đồn liên quan, giữ nhịp sinh hoạt đều, quan sát giấc ngủ - ăn uống - đi học.
Gia đình là nguồn hỗ trợ quan trọng, giúp định hướng hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh một cách đúng đắn và hiệu quả.
Thứ tư, củng cố hệ thống hỗ trợ trong trường ít nhất vài tuần sau biến cố
Không nên dừng ở một buổi “tư vấn tinh thần” đơn lẻ và tạm thời. Nhà trường nên bố trí lịch gặp riêng cho học sinh có nhu cầu, công bố thật rõ “khi cần thì gặp ai, ở đâu, giờ nào”, bảo đảm tính riêng tư.
Những thông tin này cần được nhắc lại nhiều lần thông qua giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh và các nhóm lớp.
Các can thiệp hiệu quả nên tập trung vào nâng cao hiểu biết, giảm kỳ thị, tăng khả năng tiếp cận và tăng niềm tin vào hỗ trợ chuyên môn. Một mặt sẽ thúc đẩy việc đối mặt chính thức với tình huống đã qua, một mặt sẽ góp phần tái lập sức mạnh nội tại của từng học sinh để thích ứng với sự thật…
Một sự việc đau lòng vẫn cần được đối diện một cách khoa học, tránh nguy cơ lan tỏa. Dù khó khăn, việc này vẫn cần được thực hiện. Các giải pháp mang tính “hỗ trợ tâm lý ban đầu và sàng lọc nguy cơ trong mô hình hỗ trợ đa tầng" trong tâm lý học đường là điều rất cần thiết.
Để làm được điều này, Ban Giám hiệu cần tư duy tích cực, có kế hoạch chăm sóc học sinh toàn trường song song với việc xử lý thấu đáo thực tế từng trường hợp, nhất là với trường hợp không may.
Ngoài ra, Ban Giám hiệu còn là đầu mối thông tin; bố trí tham vấn; đảm bảo bảo mật cho từng nhu cầu của học sinh là những hành động mang tính chăm sóc sức khỏe tâm thần kịp thời và hiệu quả.
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng lệnh cấm điện thoại cũng giúp giảm đáng kể hoạt động của điện thoại trong trường học, giúp học sinh bình an, khỏe mạnh (Well-being) hơn vào những năm tiếp theo dù thực tế năm đầu triển khai đã ghi nhận số vụ vi phạm nội quy gia tăng và chỉ số Well-being sụt giảm. Đây là thông tin sau khi quan sát các trường trong tối đa 3 năm từ lúc công bố lệnh cấm.
Kết quả được rút ra sau khi nhóm nghiên cứu đến từ các ĐH danh tiếng như Stanford, Duke và Pennsylvania thực hiện một cuộc nghiên cứu quy mô lớn với sự tham gia của hơn 43.000 trường THCS, THPT trên toàn nước Mỹ - trong đó có hơn 4.600 trường dùng túi khóa điện thoại. Nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng bao gồm đối sánh dữ liệu, khảo sát giáo viên cũng như phỏng vấn phụ huynh, học sinh.
Báo cáo sơ bộ đã được công bố ngày 4.5 bởi Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), song chưa trải qua quá trình bình duyệt.
Thông tin thêm về tác động của lệnh cấm đến điểm số của học sinh, báo cáo cho biết có sự khác biệt giữa nhóm THCS và THPT. Theo đó, bậc THPT ghi nhận điểm toán của học sinh có sự tăng trưởng nhẹ, song được cho là còn khiêm tốn so với các biện pháp giáo dục khác. Còn với bậc THCS, lệnh cấm lại khiến điểm toán của các bạn giảm nhẹ. Với môn ngữ văn, điểm ở cả hai bậc học hầu như không chịu tác động gì.
"Các kết quả trên cho thấy tác động trung bình ở mức gần như bằng 0 có thể là do sự bù trừ giữa tác động tích cực ở bậc THPT và tiêu cực ở bậc THCS", báo cáo nêu.
Nghiên cứu còn ghi nhận việc cấm học sinh dùng điện thoại trong trường cũng không giúp cải thiện tình trạng bắt nạt trực tuyến.
Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng nhìn nhận nghiên cứu còn một số hạn chế, như chỉ mới đánh giá tác động của lệnh cấm trong tối đa 3 năm chứ chưa xem xét dài hạn, hoặc chỉ tập trung vào mô hình cấm điện thoại suốt cả ngày học chứ chưa xét đến các hình thức hạn chế khác - như chỉ cấm trong giờ học hay cho phép linh hoạt sử dụng dựa trên yêu cầu của giáo viên. Đây là những dư địa cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ tác động của chính sách phổ biến này.
Hạn chế học sinh sử dụng điện thoại trong môi trường học đường là biện pháp giáo dục đã được triển khai từ nhiều thập kỷ qua, song mức độ thắt chặt và quy mô áp dụng đang ngày càng tăng cường kể từ sau dịch Covid-19. Chính sách xuất phát từ lo ngại việc liên tục tiếp cận các thiết bị kỹ thuật số, đặc biệt là điện thoại, có thể làm suy giảm kết quả học tập, khả năng tập trung cũng như sức khỏe tinh thần của học sinh.
Trong bối cảnh Việt Nam, Bộ GD-ĐT từ lâu đã không cho phép học sinh các khối lớp dùng điện thoại trong giờ học trừ trường hợp được giáo viên cho phép, tuy nhiên các bạn vẫn có thể sử dụng trong giờ ra chơi và các hoạt động ngoại khóa. Song từ năm 2025, TP.HCM và Hà Nội bắt đầu công bố biện pháp cứng rắn hơn khi hạn chế học sinh trường công dùng điện thoại cả trong giờ giải lao, ra chơi hoặc thu luôn điện thoại, cuối giờ học mới trả lại.
Trả lời đài NPR, GS Thomas Dee, công tác tại Trường sau ĐH về giáo dục của ĐH Stanford và là đồng tác giả của báo cáo, chia sẻ các nhà hoạch định chính sách sẽ mắc sai lầm nếu xem kết quả nghiên cứu nêu trên là lý do né tránh việc hạn chế học sinh dùng điện thoại. Bởi giữa những kết luận trái chiều vẫn còn đó những tín hiệu đáng khích lệ, chẳng hạn như lệnh cấm thực sự giúp học sinh giảm thiểu dùng thiết bị công nghệ.
"Dễ hiểu vì sao mọi người hào hứng với lệnh cấm điện thoại, song cần phải nhìn nhận rằng việc xây dựng môi trường học đường không điện thoại một cách hiệu quả sẽ không hề đơn giản hay nhanh chóng. Trải nghiệm năm đầu có thể khá tiêu cực, nhưng các chỉ số cho thấy khi trường dần thích nghi với chính sách mới, những lợi ích thực sự mới bắt đầu phát huy", GS Dee chia sẻ.
GS Brian Jacob tại ĐH Michigan (Mỹ), một đồng tác giả khác, thì chia sẻ với tờ The Epoch Times rằng kết quả nghiên cứu đã gióng lên "hồi chuông cảnh tỉnh" cho chính sách hạn chế điện thoại trong trường học. Tuy vậy, ông nhìn nhận các trường phổ thông vẫn đang thử nghiệm những phương pháp khác nhau để rút kinh nghiệm cách triển khai tốt nhất. Thế nên, khả năng trong tương lai sẽ xuất hiện mô hình thực sự giúp cải thiện thành tích học tập.
Trước đó, nhiều nghiên cứu quy mô quốc gia về lệnh cấm điện thoại đưa ra các kết luận trái ngược. Chẳng hạn, một nghiên cứu ở Tây Ban Nha công bố vào năm 2022 cho thấy tình trạng bắt nạt qua mạng đã giảm đáng kể ở hai khu vực ban hành lệnh cấm điện thoại trong trường. Tại một trong những khu vực khảo sát, điểm môn toán và khoa học cũng tăng lên đáng kể.
Trong khi đó, một nghiên cứu gần đây ở Na Uy thông tin những học sinh nữ bị cấm dùng điện thoại ở trường trung học có điểm trung bình cao hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy lệnh cấm "không có tác dụng" với điểm trung bình của nam sinh, có lẽ vì nữ sinh dành nhiều thời gian hơn cho điện thoại.