Nhưng ngay cả khi sở hữu Apple Watch một thời gian, nhiều tính năng của thiết bị có thể người dùng chưa từng nghe đến, trong đó có một chi tiết thú vị liên quan đến các lỗ ở cạnh bên Apple Watch.
Khi nhìn thấy những lỗ này, nhiều người có thể nghĩ rằng đó là công tắc khởi động lại hoặc nơi để mở khay SIM. Tuy nhiên, Apple xác nhận rằng Apple Watch không có nút reset vật lý hay khay SIM. Thực tế, các lỗ này phục vụ một số chức năng chính.
Đầu tiên, chúng là nơi đặt loa và micro để người dùng nhận cuộc gọi, tương tác với Siri và thậm chí ghi âm. Một số micro còn có khả năng kiểm tra tiếng ồn quá lớn, góp phần vào các tính năng liên quan đến sức khỏe của thiết bị.
Ngoài ra, trên một số mẫu Apple Watch mới hơn, các lỗ này còn giúp đo độ sâu của nước. Chẳng hạn, Apple Watch Ultra có khả năng đo độ sâu không chỉ để cung cấp thông tin hữu ích cho hoạt động bơi lội mà còn bảo vệ thiết bị khỏi những rủi ro khi tiếp xúc với nước.
Mặc dù được quảng cáo là có khả năng chống nước, nhưng thực tế cho thấy không phải tất cả các mẫu Apple Watch đều hoàn toàn chống nước. Hầu hết các mẫu đều có khả năng chống nước ở độ sâu tối đa 40 mét. Các phiên bản cũ hơn, như Watch Series 2, chỉ có thể sử dụng cho các hoạt động ở vùng nước nông mà không được đánh giá khả năng chống nước ở độ sâu hơn.
Dẫu vậy, thông tin về cách thức hoạt động của lỗ khoét trên Apple Watch chưa bao giờ được Apple giải thích chi tiết trong tài liệu chính thức. Có thể lỗ khoét này cũng chứa một số cảm biến bên cạnh micro, giúp đo âm lượng và nhận diện giọng nói. Apple sử dụng dữ liệu thu thập từ lỗ khoét này kết hợp với ứng dụng đo độ sâu trên Apple Watch để cung cấp thông tin cần thiết cho người dùng.
Để xác định xem Apple Watch của mình có hỗ trợ đo độ sâu hay không, người dùng chỉ cần kiểm tra model thiết bị. Nếu sở hữu Apple Watch Ultra hoặc phiên bản mới hơn, thiết bị có khả năng chống nước ở độ sâu lên đến 40 mét. Ngược lại, nếu đang sử dụng một phiên bản cũ hơn, không nên lặn với đồng hồ vì điều này có thể gây hại cho thiết bị.
Google vừa công bố nâng cấp đáng chú ý cho Google Maps khi tích hợp mô hình AI Gemini nhằm tự động tạo và gợi ý chú thích cho ảnh, video do người dùng đóng góp.
Theo đó, thay vì để người dùng tự nhập mô tả như trước, hệ thống sẽ phân tích nội dung hình ảnh và đề xuất chú thích phù hợp theo ngữ cảnh. Người dùng có thể chọn giữ nguyên, chỉnh sửa hoặc bỏ qua gợi ý trước khi đăng.
Google cho biết mục tiêu của tính năng này là giải quyết tình trạng nhiều ảnh trên Google Maps thiếu chú thích khiến dữ liệu cộng đồng bị hạn chế giá trị sử dụng. Việc AI hỗ trợ viết mô tả giúp người dùng không còn gặp "khung trống" khi đăng tải, từ đó khuyến khích chia sẻ nhiều hơn.
Trên thực tế, hệ sinh thái của Google Maps phụ thuộc rất lớn vào dữ liệu do người dùng đóng góp như ảnh, đánh giá và cập nhật địa điểm. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để đảm bảo bản đồ luôn phản ánh đúng thay đổi thực tế của các địa điểm.
Song song với AI, Google Maps cũng cải tiến tab "Đóng góp" theo hướng trực quan hơn, đồng thời gợi ý ảnh từ thư viện điện thoại để rút ngắn thao tác chia sẻ.
Google cũng mở rộng cơ chế "game hóa" trải nghiệm bằng hệ thống điểm, huy hiệu và cấp độ "Hướng dẫn viên địa phương". Các danh hiệu như "Nhiếp ảnh gia hàng đầu" hay "Người kiểm chứng thông tin" được hiển thị rõ hơn nhằm tạo động lực đóng góp thường xuyên.
Theo giới phân tích, việc tích hợp AI vào quy trình đóng góp nội dung không chỉ giúp tăng tiện lợi cho người dùng mà còn củng cố lợi thế dữ liệu của Google trong dài hạn. Khi dữ liệu được cập nhật nhanh hơn và đầy đủ hơn, chất lượng bản đồ sẽ cải thiện theo thời gian thực.
Google định hướng phát triển Maps thành một "bản đồ sống", nơi AI và cộng đồng người dùng cùng phối hợp để liên tục làm giàu dữ liệu, phục vụ hàng tỉ người dùng trên toàn cầu.
Theo TechRadar, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong công việc đang tăng nhanh, nhưng kéo theo khoảng trống quản lý mà nhiều doanh nghiệp chưa kịp xử lý. Dù 82% doanh nghiệp đã đầu tư vào kỹ năng AI và dữ liệu, 45% các lãnh đạo IT cho biết họ vẫn chưa có đủ khả năng theo dõi dữ liệu công ty đang được chia sẻ ở đâu và bằng cách nào qua các công cụ AI.
Thực tế này tạo ra một “vùng mù” trong kiểm soát thông tin. Khi dùng AI để viết nội dung, phân tích dữ liệu hoặc hỗ trợ lập trình, nhân viên có thể đưa vào tài liệu nội bộ, thông tin khách hàng hoặc mã nguồn. Những dữ liệu này có thể bị lưu trữ, xử lý trên hệ thống bên thứ ba, vượt ngoài phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp.
Vấn đề không chỉ nằm ở các công cụ GenAI không được phê duyệt. Nhiều lãnh đạo IT xác nhận AI agent có những hành động ngoài ý muốn, như truy cập hoặc chia sẻ sai dữ liệu. Trong khi đó, 12% doanh nghiệp đang bổ sung tới 10.000 AI agent hoặc tài khoản truy cập của máy và phần mềm mỗi tháng, khiến bài toán kiểm soát danh tính và quyền truy cập trở nên phức tạp hơn.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu chính sách rõ ràng. Nhiều công ty chưa ban hành quy định cụ thể về việc sử dụng AI trong công việc, hoặc chưa triển khai công cụ giám sát phù hợp. Điều này khiến nhân viên có xu hướng tự tìm công cụ bên ngoài để tăng hiệu suất, thay vì dùng các nền tảng đã được kiểm soát.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Lê Minh, giám đốc dự án tại một công ty phát hành game ở TP.HCM, ví giải pháp AI dành cho doanh nghiệp như một “phòng xử lý” nội bộ có thể tiếp nhận khối lượng dữ liệu rất lớn, nhưng tri thức và bí mật kinh doanh vẫn được cần giữ trong phạm vi kiểm soát của tổ chức.
“Nếu đã xác định dùng AI, doanh nghiệp nên chọn các nền tảng có cơ chế bảo mật và quản trị rõ ràng, như Microsoft Copilot hoặc Google Workspace thay vì để nhân viên tự sử dụng công cụ bên ngoài”, ông Minh nói.
Doanh nghiệp cần thừa nhận nhu cầu dùng AI của nhân viên, đặt rào chắn phù hợp cho các công cụ cần thiết và xem AI như một bài toán quản trị danh tính, trong đó quyền truy cập dữ liệu phải được kiểm soát chặt chẽ hơn.
Theo Hội Thiên văn và Vũ trụ học Việt Nam (VACA), thời điểm quan sát lý tưởng nhất hiện tượng này là rạng sáng 6/5, khoảng từ sau 2h tới khi trời sáng. Dù vậy, vào đêm trước và sau thời điểm này, người yêu thiên văn cũng có thể nhìn thấy nhiều sao băng nếu có điều kiện quan sát tốt.
Thời gian quan sát nêu trên tương ứng với giai đoạn trăng khuyết. Ánh trăng sẽ cản trở việc quan sát sao băng mờ, do đó, chỉ có thể nhìn thấy những sao băng sáng nhất ở vùng bầu trời ít bị ánh trăng ảnh hưởng. Bên cạnh đó, những ai ở khu vực ít bị ô nhiễm ánh sáng đô thị và quang mây cũng có cơ hội quan sát tốt hơn. "Nhìn chung, mưa sao băng Eta Aquarids năm nay khó quan sát", ông Đặng Vũ Tuấn Sơn, Chủ tịch VACA, nói, thêm rằng do thời tiết vài ngày tới ở Việt Nam nhiều nơi sẽ có mây mù hoặc mưa nên chỉ những khu vực thời tiết lý tưởng mới quan sát được.
Mưa sao băng được đặt tên theo chòm sao mà khi nhìn từ Trái Đất, đó dường như là nơi bắt nguồn của các sao băng. Trong trường hợp Eta Aquarids, chòm sao này là Aquarius (Bảo Bình).
Vào đêm cực đại, khi chòm sao Aquarius đã ở đủ cao (khoảng 2h sáng trở đi) và mắt đã quen với bầu trời tối (thường mất 10-15 phút), người quan sát có thể thấy khoảng 20-30 sao băng mỗi giờ với những nơi có điều kiện lý tưởng. Dù vùng trung tâm là chòm sao Aquarius, thực tế các sao băng của Eta Aquarids có thể tới từ nhiều hướng khác.
Theo Space, mưa sao băng Eta Aquarids năm nay diễn ra từ ngày 19/4 đến 28/5. Tại khu vực nhiệt đới thuộc Nam bán cầu, Eta Aquariids là một trong những trận mưa sao băng có tần suất dày đặc nhất năm. Từ xích đạo trở lên phía bắc, tần suất trung bình chỉ đạt khoảng 10-30 sao băng mỗi giờ trước bình minh.
Theo Hiệp hội Thiên thạch Mỹ (AMS), tần suất sao băng tối đa trên bầu trời quang đãng là khoảng 50 sao băng mỗi giờ. Chúng có thể lao qua bầu trời với tốc độ khoảng 66 km mỗi giây.
Mưa sao băng Eta Aquarids bắt nguồn từ sao chổi Halley. NASA giải thích, khi Halley di chuyển vào vùng không gian phía trong hệ Mặt Trời, hạt nhân của nó thải ra không gian những mảnh băng và đá. Mỗi khi Trái Đất đi qua khu vực này, các mảnh vụn sao chổi sẽ va chạm với khí quyển Trái Đất, bốc cháy và trở thành sao băng xẹt qua bầu trời.
Halley là sao chổi chu kỳ ngắn, cứ 76 năm lại tới gần Mặt Trời và có thể quan sát từ Trái Đất. Lần tiếp theo sao chổi này quay lại là năm 2061.
Halley được đặt tên theo nhà thiên văn người Anh Edmond Halley (1656-1742). Ông nghiên cứu những báo cáo về sao chổi tới gần Trái Đất vào năm 1531, 1607, 1682 và kết luận rằng tất cả đều là cùng một sao chổi. Edmond thậm chí dự đoán chính xác nó sẽ tiếp tục trở lại vào năm 1758, dù ông qua đời trước đó và không thể chứng kiến tận mắt.