Bức ảnh toàn cảnh Trái Đất, với đại dương xanh, đất liền màu nâu và nhiều khối mây trắng, cùng hiện tượng cực quang màu xanh lục ở hai cực hành tinh được chỉ huy Reid Wiseman chụp gửi về ngày 3/4. Tuy nhiên, nhiều người nhanh chóng nhận ra ảnh mới ít rực rỡ hơn so với ảnh chụp cách đây 54 năm của tàu Apollo 17, dù trang bị các công nghệ ghi hình tối tân hơn.
“Tôi không biết là do chất lượng hình ảnh hay do không khí, nhưng giờ Trái Đất trông nó thật ảm đạm”, một tài khoản viết trên X.
“Hình ảnh Trái Đất cũ trông sắc nét hơn, trong khi ảnh mới này trông mờ nhạt. Chất lượng máy ảnh hay do biến đổi khí hậu?”, một người khác đặt câu hỏi.
“Con người đang làm sai điều gì vậy? Trái Đất trông thật nhợt nhạt. Chúng ta đang đánh mất nó”, một tài khoản lo ngại.
Tuy nhiên, nhiều người nhanh chóng đưa ra câu trả lời cho sự khác biệt của hai bức hình. “Đây là ảnh chụp mặt tối của Trái Đất được ánh trăng chiếu sáng và đã được làm sáng lên. Đó là lý do tại sao cực quang cũng xuất hiện trong đó”, một người giải thích, chỉ ra cực quang ở phía Bắc bán cầu và Nam bán cầu.
“Trái Đất không thay đổi, cách chúng ta chụp ảnh nó mới thay đổi. Sự khác biệt về màu sắc giữa bức ảnh ‘Quả cầu xanh’ năm 1972 và hình ảnh Trái Đất hiện đại là do công nghệ”, một người tự nhận là chuyên gia về thiên văn học giải thích. “Tàu Apollo 17 sử dụng máy ảnh phim, điều này giúp tăng cường màu sắc và độ tương phản một cách tự nhiên. Ngày nay, các thiết bị sử dụng cảm biến kỹ thuật số, hiệu chỉnh chi tiết về khí quyển và hiệu chuẩn màu sắc nên sẽ khác”.
“Hầu hết hình ảnh hiện đại đều là nhiều lớp ảnh ghép lại, không phải ảnh chụp đơn. Đó là lý do tại sao Trái Đất ngày nay trông có vẻ kém ‘sống động’ hơn”, một người khác nói thêm.
Trước đó, chia sẻ với National Geographic, David Melendrez, người phụ trách tích hợp hình ảnh từ tàu vũ trụ Orion về Trái Đất của NASA, cho biết phi hành đoàn Artemis II đang sử dụng máy ảnh DSLR Nikon D5, iPhone 17 Pro Max cùng bốn chiếc GoPro Hero 11 để quay phim.
Artemis II đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA). Họ có 10 ngày bay quanh Mặt Trăng, thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu khoa học, thử nghiệm khả năng điều khiển tàu vũ trụ, kiểm tra y tế, huấn luyện sinh tồn và nhiều công việc khác.
Bảo Lâm (theo Ladbible, Space)
Nhà vệ sinh 23 triệu USD trên Artemis II
Toàn cảnh Trái Đất nhìn từ Artemis II
Phi hành đoàn Artemis II vượt mốc ‘nửa đường tới Mặt Trăng’
Điểm đặc biệt của bốn phi hành gia Artemis II
Loạt cột mốc ‘lần đầu’ của Artemis II
Nguồn: https://vnexpress.net/tai-sao-anh-chup-trai-dat-cach-day-54-nam-sang-dep-hon-2026-5058675.html

Theo tài liệu có tên ClawPilot: Tổng quan và Kế hoạch với dự án Lobster do 404Media thu thập, hãng phần mềm Mỹ đã vạch ra những hướng đi để người dùng thực sự "gắn chặt" vào Scout (tên nội bộ là ClawPilot).
Cụ thể, tài liệu chủ yếu nhắm đến người làm trong lĩnh vực tài chính, pháp lý, nhân sự và vai trò phi kỹ thuật. Ở mô tả ban đầu, Microsoft hướng ClawPilot "sẽ ngồi cạnh bạn, học cách bạn làm việc và thực hiện nhiệm vụ thay mặt bạn, gồm quản lý lịch trình, phân loại hộp thư đến và thậm chí chuẩn bị các cuộc họp".
Mục tiêu tối đa hóa tác động của ClawPilot được chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn một sẽ là: "Khiến mọi người bị nghiện".
"Hãy tiếp tục cung cấp trải nghiệm ClawPilot độc lập", tài liệu viết. "Thử nghiệm trải nghiệm, mở rộng cơ sở người dùng và xây dựng hệ sinh thái kỹ năng và công cụ khiến mọi người phụ thuộc vào nó hàng ngày. Mọi thử cần diễn ra một cách tự nhiên".
Hai giai đoạn còn lại gồm liên kết ClawPilot với các công cụ AI khác; và trang bị nhiều tính năng hơn nữa bằng cách "tăng liều lượng vi mô".
Cũng theo tài liệu, ClawPilot được hơn 1.000 nhân viên Microsoft sử dụng, gồm cả CEO Satya Nadella. Đây cũng là "công cụ nhận yêu cầu nhiều nhất" trong nội bộ công ty. Tuy vậy, không phải ai cũng hài lòng, một số chỉ ra vấn đề "đáng lo ngại".
"Chúng ta đang chứng kiến ngày càng nhiều trường hợp nghiện sử dụng chatbot và trợ lý ảo AI. Theo tôi, yếu tố gây nghiện là điều không sản phẩm nào nên đưa vào chiến lược phát triển của mình", một nhân viên bày tỏ.
Một người khác cho rằng phản ứng này "thái quá", bởi "mục tiêu cuối cùng của tất cả phần mềm do các công ty công nghệ lớn sản xuất là gây nghiện".
Microsoft chưa đưa ra bình luận.
Theo NYPost, tài liệu xuất hiện giữa lúc giới chuyên gia lo ngại AI ngày càng khiến con người phụ thuộc, trong khi các công ty đứng sau luôn tìm cách giữ chân bằng tính năng mới hoặc chiều theo ý người dùng.
Nhiều công cụ AI thậm chí được lập trình để "nịnh hót". Một nghiên cứu của Đại học Stanford công bố hồi tháng 3 trên Stanford Report với 11 mô hình ngôn ngữ lớn, gồm ChatGPT, Claude, Gemini, DeepSeek... cho thấy chatbot "đã được thiết kế để xoa dịu người dùng" thường xuyên hơn gần 50% so với con người, ngay cả khi phản hồi những yêu cầu gây hại.
Ngược lại, người dùng cũng tiếp tục vòng luẩn quẩn bằng cách nhập câu hỏi hướng đến việc nhận lời khen - vấn đề bị giới chuyên gia cảnh báo có thể gây hại cho sức khỏe tâm thần theo thời gian.
"Về lâu dài, hành động này có thể 'bình thường hóa' các mối quan hệ giả tạo, trong đó một bên thích các lời đường mật, bên còn lại không có sự phản kháng, bất đồng hoặc nhu cầu độc lập", PGS. TS Roman Yampolskiy, nhà khoa học máy tính tại Đại học Louisville, cảnh báo.
Sự xu nịnh của chatbot được đánh giá phức tạp hơn vấn đề ảo giác. Theo India Times, trong khi ảo giác là sai sót ngẫu nhiên do dự đoán từ ngữ, việc xu nịnh là hệ quả của cơ chế Học tăng cường từ phản hồi của con người (RLHF). Do chatbot huấn luyện để tạo sự hài lòng, chúng "học" được rằng việc đồng tình mang lại "điểm thưởng" cao hơn so với khi đưa ra sự thật gây mất lòng.
Vấn đề AI "chiều lòng" có thể gây lo ngại trong lĩnh vực nhạy cảm, cần độ chính xác cao. Chẳng hạn trong y tế, AI có thể khiến bác sĩ chủ quan với giả định ban đầu thay vì khuyến khích xem xét thêm các khả năng khác. Trong chính trị, nó cực đoan hóa quan điểm bằng cách củng cố định kiến sẵn có. Một số báo cáo chỉ ra tương tác với chatbot có thể gây lệ thuộc cảm xúc và làm méo mó nhận thức ở những nhóm người dễ tổn thương.
Microsoft ra mắt Scout tại sự kiện Microsoft Build ngày 2/6. Công cụ AI này xây dựng trên sức mạnh và tính linh hoạt của OpenClaw, hoạt động trên nền tảng đám mây, đồng thời tương thích với máy tính để bàn và trình duyệt web. Người dùng dễ dàng kết nối với hộp thư đến, lịch và các hệ thống khác trong máy tính, cũng như vào hệ sinh thái Microsoft 365. Scout sẽ đi kèm những kỹ năng được tích hợp sẵn phục vụ quản lý lịch, soạn thảo chương trình nghị sự cuộc họp cùng nhiều chức năng khác.
Sau cơn sốt OpenClaw hồi đầu năm, ngày càng nhiều công ty ra sản phẩm tương tự. Hồi tháng 3, Nvidia công bố NemoClaw - nền tảng tác nhân dựa trên OpenClaw nhưng tích hợp thêm tính năng bảo mật và quyền riêng tư cấp doanh nghiệp. Tại Google I/O 2026 diễn ra tháng trước, Google cũng giới thiệu Gemini Spark hỗ trợ tự động hóa công việc văn phòng.
Tin Gốc: Vnexpress

"Thói quen xem phim của người Việt đang ngày càng thay đổi sâu sắc. Ngày càng nhiều người dùng Việt Nam chuyển sang xem các nội dung OTT (dịch vụ xem video trực tuyến theo yêu cầu) tại nhà. Số lượt đăng ký tài khoản OTT của Việt Nam ước đạt 76 triệu, cao hơn 51% so với năm 2019", ông Nakashima Tomohiro, Tổng Giám đốc Sony Electronics Việt Nam, chia sẻ trong sự kiện giới thiệu loạt TV Bravita thế hệ mới.
Một trong những dẫn chứng sống động nhất là trong năm 2025, doanh thu của phim Việt đã tăng 177% so với năm 2020. Con số này cao gấp 1,7 lần so với thị trường quốc tế.
Theo dữ liệu của Sensor Tower, doanh thu người dùng Việt trả trực tiếp trên ứng dụng OTT đã tăng trưởng ba con số trong giai đoạn 2020 - 2023 nhờ nhu cầu giải trí tăng mạnh. Đến năm 2024 - 2025, đà tăng có dấu hiệu chậm lại, tuy nhiên đây vẫn là thị trường tiềm năng.
Công ty nghiên cứu Ken Research ước tính, thị trường OTT và streaming tại Việt Nam được định giá khoảng 1,2 tỉ USD. Con số này đạt được nhờ tỷ lệ phổ cập internet diện rộng, xu hướng dịch chuyển trong thói quen người dùng và sự gia tăng của các thiết bị giải trí, di động.
Theo lãnh đạo Sony, khi kinh tế phát triển mạnh, GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD, người dùng Việt Nam đang tìm kiếm những trải nghiệm chất lượng cao trong cuộc sống, từ du lịch, ẩm thực đến giải trí tại gia.
Khi trải nghiệm giải trí dịch chuyển từ rạp chiếu phim về phòng khách, tiêu chuẩn giải trí tại gia của người Việt cũng ngày càng nâng cao. Theo xu hướng, người dùng không chỉ tìm kiếm những thiết bị giải trí màn hình lớn hơn mà còn đặc biệt quan tâm đến chất lượng màu sắc, công nghệ hiển thị hình ảnh và âm thanh.
Theo đạo diễn Victor Vũ, một trong những thách thức lớn nhất của người làm phim là làm sao để những gì mình hình dung trong quá trình sáng tạo được truyền tải trọn vẹn đến khán giả. Ông đánh giá cao cách Sony phát triển sản phẩm dựa trên sự thấu hiểu toàn bộ quy trình làm phim, từ khâu ghi hình, hậu kỳ đến thưởng thức nội dung. "Điều này giúp khán giả cảm nhận được đúng những gì mà nhà làm phim muốn truyền tải. Người xem có thể thưởng thức tác phẩm một cách chân thực, trọn vẹn ngay tại nhà", đạo diễn Victor Vũ chia sẻ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 51-KL/TW về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, trong đó có yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Bác sĩ Phạm Thị Kim Loan, nhà sáng lập công ty khoa học và công nghệ Gia Thái DoctorLoan, chia sẻ góc nhìn với VnExpress khi sở hữu hơn 250 bằng sáng chế quốc tế trong lĩnh vực chăm sóc cột sống trên khắp toàn cầu. Theo bà Loan việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng hơn lúc nào hết khi Việt Nam muốn phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ.
- Bà có thể chia sẻ các nước trên thế giới đang bảo vệ sự sáng tạo và nhà sáng chế thế nào?
- Đến nay, chính sách mà nhiều quốc gia phát triển xem là cốt lõi: bảo vệ động lực sáng tạo của cả xã hội thay vì chỉ những thành phần cụ thể.
Tại các quốc gia nơi tôi đặt chân, mức phạt khá cao cho việc vi phạm sáng chế. Chẳng hạn, tại Nhật Bản, người xâm phạm quyền sáng chế hoặc quyền sử dụng độc quyền có thể bị phạt tù đến 10 năm, phạt tiền đến 10 triệu Yen hoặc cả hai. Tại Đức - một trong những quốc gia thực thi bằng sáng chế mạnh nhất thế giới, phạt tiền hoặc phạt tù đến ba năm khi vi phạm bản quyền. Còn Mỹ nổi tiếng với chế độ bồi thường cực mạnh, mỗi lần vi phạm có thể bồi thường 10-30 triệu USD và gấp ba lần thiệt hại thực tế.
Ở nhiều quốc gia, khi quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, chủ thể quyền có thể yêu cầu áp dụng đồng thời nhiều biện pháp như hành chính, dân sự, thậm chí hình sự đối với những hành vi nghiêm trọng. Cơ quan hải quan cũng có thể phối hợp kiểm soát hàng hóa xâm phạm ngay từ cửa khẩu. Điều này giúp giảm đáng kể tình trạng sao chép công nghệ và tạo niềm tin để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Quan trọng hơn, các quốc gia này luôn gửi một thông điệp rất rõ ràng: chi phí để nghiên cứu một công nghệ mới phải thấp hơn chi phí để đánh cắp công nghệ đó. Khi người sáng tạo được bảo vệ, họ sẽ tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu; doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn; còn người tiêu dùng được tiếp cận những sản phẩm an toàn, chất lượng và có nguồn gốc rõ ràng.
- Luật và các chế tài đã có, vì sao trên thực tế nhiều đơn vị vẫn ngang nhiên vi phạm sáng chế nhưng khó xử lý?
- Theo tôi, có nhiều nguyên nhân khiến hành vi xâm phạm sáng chế trên thực tế vẫn còn xảy ra và việc xử lý trong nhiều trường hợp gặp không ít khó khăn.
Thứ nhất, sáng chế là tài sản vô hình. Nếu như hàng giả về nhãn hiệu có thể nhận biết bằng tên gọi hoặc dấu hiệu bên ngoài, sáng chế lại nằm ở giải pháp kỹ thuật, cấu tạo, quy trình hoặc nguyên lý hoạt động. Muốn xác định có xâm phạm hay không thường phải có quá trình phân tích chuyên môn, đối chiếu từng đặc điểm kỹ thuật và trong nhiều trường hợp cần đến ý kiến chuyên gia hoặc giám định.
Thứ hai, người vi phạm thường không sao chép nguyên trạng, mà chỉ thay đổi một số chi tiết về hình thức hoặc kết cấu để tạo cảm giác khác biệt. Tuy nhiên, việc có xâm phạm hay không phải được đánh giá trên cơ sở phạm vi bảo hộ của sáng chế và các dấu hiệu kỹ thuật được bảo hộ, chứ không chỉ dựa vào hình thức bên ngoài. Chính vì vậy, việc đánh giá thường phức tạp và đòi hỏi chuyên môn sâu.
Thứ ba, quá trình thu thập chứng cứ và chứng minh hành vi xâm phạm thường tốn nhiều thời gian, chi phí và nguồn lực. Chủ sở hữu quyền phải chủ động theo dõi thị trường, lưu giữ tài liệu, thu thập mẫu sản phẩm, chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật và thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền của mình.
Khi công nghệ ngày càng phát triển và được lan truyền nhanh, việc sao chép hoặc biến đổi công nghệ cũng diễn ra nhanh hơn, đặt ra yêu cầu hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và cập nhật kiến thức về công nghệ mới.
Vai trò của cơ quan thực thi lúc này hết sức quan trọng. Nếu không phải chuyên gia, họ phải dựa rất nhiều vào kết luận chuyên môn. Nếu kết luận rõ ràng, khoa học, có tính thuyết phục cao, cơ quan thực thi sẽ mạnh dạn xử lý. Ngược lại, nếu kết luận còn nhiều cách hiểu, nhiều cách diễn giải, chồng chéo, thiếu phân tích bản chất kỹ thuật, việc xử lý thường bị kéo dài, khiến các doanh nghiệp thiệt hại nặng nề.
Khó nhất trong bảo vệ sáng chế không phải là chứng minh ai giống ai, mà là chứng minh ai đã sử dụng đúng bản chất của giải pháp kỹ thuật được pháp luật bảo hộ.
- Tình trạng vi phạm bản quyền không được xử lý nghiêm có thể dẫn đến nguy cơ gì?
- Hậu quả theo tôi rất nghiêm trọng. Một nhà sáng chế phải đầu tư rất nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng nhà máy, đào tạo nhân sự, phát triển hệ thống phân phối và giáo dục thị trường với chi phí rất lớn và kéo dài. Khi một sản phẩm sáng tạo chưa được thị trường biết đến, nhà sáng chế phải đối mặt với khó khăn về vốn, nghiên cứu và xây dựng niềm tin. Nhưng khi sản phẩm bắt đầu được thị trường chấp nhận thì lại phải đối mặt thách thức bị sao chép.
Đây là nghịch lý rất lớn của đổi mới sáng tạo. Nhà sáng chế phải mất nhiều năm, thậm chí hàng chục năm để nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu và giáo dục thị trường. Ngược lại, một đơn vị sao chép chỉ cần thời gian rất ngắn để bắt chước hình thức bên ngoài của sản phẩm và đưa ra thị trường với chi phí thấp hơn rất nhiều. Tất nhiên, với sản phẩm sao chép tôi tin chất lượng kém so với hàng thật, ảnh hưởng người tiêu dùng.
Việc các đơn vị làm giả hoặc sao chép thường không phải đầu tư cho nghiên cứu, thử nghiệm, trả chi phí sở hữu trí tuệ và cũng không phải gánh rủi ro thất bại trong quá trình phát triển sản phẩm, tạo ra môi trường cạnh tranh bất bình đẳng. Nếu tình trạng này kéo dài, doanh nghiệp sáng tạo sẽ dần mất thị phần, giảm nguồn lực cho R&D, thậm chí có thể buộc phải thu hẹp hoạt động hoặc rời bỏ thị trường. Nói cách khác, sản phẩm giả không chỉ lấy đi doanh thu của doanh nghiệp sáng tạo mà còn làm suy giảm niềm tin của xã hội vào khoa học và đổi mới sáng tạo.
Về lâu dài, thiệt hại không chỉ thuộc về một nhà sáng chế. Nó còn là sự mất mát của cả nền khoa học và động lực đổi mới sáng tạo của quốc gia. Vấn đề càng quan trọng khi bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trở thành yếu tố chiến lược trong thương mại quốc tế, không còn chỉ là tranh chấp giữa các doanh nghiệp.
- Bà có nhắc đến yếu tố quốc gia. Ở góc độ này, thiệt hại lớn thế nào?
- Ở góc độ quốc gia, nếu hàng giả và hành vi sao chép không được kiểm soát hiệu quả, động lực đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ suy giảm. Các nhà sáng chế sẽ ngần ngại công bố công nghệ mới, doanh nghiệp sẽ giảm đầu tư cho nghiên cứu dài hạn và nền kinh tế sẽ khó hình thành các thương hiệu công nghệ có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Khi đó, nền kinh tế sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn: người tạo ra giá trị bị tổn thương, người sao chép được hưởng lợi, động lực đổi mới sáng tạo suy giảm và số lượng công nghệ có giá trị được tạo ra ngày càng ít đi.
Một quốc gia không bảo vệ được người sáng tạo sẽ rất khó trở thành quốc gia sáng tạo. Khi nhà sáng chế không còn niềm tin rằng thành quả nghiên cứu của mình được bảo vệ, họ sẽ ngừng đầu tư cho những ý tưởng mới, đó mới là tổn thất lớn nhất. Hàng giả làm mất doanh thu của doanh nghiệp, nhưng ở cấp độ quốc gia, nó làm mất niềm tin của quốc tế vào môi trường đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
Mỗi sáng chế thành công là kết quả của hàng chục năm nghiên cứu, hàng nghìn ngày thử nghiệm và nguồn lực rất lớn của doanh nghiệp. Nếu người làm thật không thể sống được bằng sáng tạo của mình, còn người sao chép lại thu lợi từ thành quả đó, cuối cùng thị trường sẽ mất đi chính những người tạo ra công nghệ mới.
- Trong bối cảnh hiện nay, theo bà giải pháp là gì?
- Trên bình diện quốc tế, hầu hết các quốc gia phát triển đều xây dựng hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ dựa trên các nguyên tắc của Hiệp định TRIPS (Trade Related Intellectual Property Rights) của WTO và các điều ước do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quản lý. Chủ sở hữu sáng chế được quyền yêu cầu áp dụng đồng thời nhiều cơ chế bảo vệ như yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại, thu giữ hoặc tiêu hủy hàng hóa vi phạm, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra, kiểm soát hàng hóa tại biên giới. Đối với các hành vi nghiêm trọng theo pháp luật từng quốc gia, có thể bị xử lý hình sự.
Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đã quy định tương đối đầy đủ các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính, kiểm soát tại biên giới. Trong trường hợp hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, theo tôi, điều quan trọng không chỉ là có quy định pháp luật, mà còn cần nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế. Muốn khoa học và công nghệ phát triển mạnh, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống theo một số định hướng:
Rút ngắn thời gian xử lý các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bởi đối với doanh nghiệp công nghệ, thời gian cũng là tài sản.
Tăng cường năng lực chuyên môn của đội ngũ giám định, thực thi và xét xử đối với các tranh chấp có yếu tố kỹ thuật phức tạp, đặc biệt là sáng chế và công nghệ cao.
Đẩy mạnh các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có căn cứ rõ ràng về nguy cơ xâm phạm, nhằm hạn chế việc hàng hóa tiếp tục lưu thông trong thời gian chờ giải quyết.
Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ quan thực thi, hải quan, lực lượng quản lý thị trường và tòa án để bảo vệ quyền một cách thống nhất và hiệu quả.
Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng chiến lược sở hữu trí tuệ ngay từ đầu, bao gồm đăng ký quyền, quản trị bí mật kinh doanh, lưu giữ chứng cứ nghiên cứu và chủ động giám sát thị trường.
Nâng cao nhận thức của xã hội rằng tôn trọng tài sản trí tuệ chính là tôn trọng lao động sáng tạo và góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Theo tôi, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, tài nguyên có thể cạn kiệt nhưng tri thức có thể sinh sôi không giới hạn. Vì vậy, muốn đất nước phát triển bằng khoa học và công nghệ thì trước hết phải xây dựng một môi trường mà ở đó người sáng tạo được bảo vệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được bảo vệ và thành quả nghiên cứu được pháp luật bảo vệ một cách hiệu quả.
Đầu tư cho nghiên cứu là gieo hạt. Bảo vệ sở hữu trí tuệ là giữ mảnh đất để hạt giống ấy nảy mầm, lớn lên và trở thành những doanh nghiệp công nghệ, những thương hiệu quốc gia, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư chất lượng cao và củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Kết luận số 51-KL/TW của Bộ Chính trị được ban hành nhằm đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, bà kỳ vọng thế nào?
- Kết luận 51-KL/TW xác định quyền SHTT là "nguồn lực quan trọng của quốc gia" và yêu cầu xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo, xử lý nghiêm hành vi xâm phạm SHTT. Là một doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tôi kỳ vọng Kết luận 51-KL/TW sẽ tiếp thêm niềm tin cho những người dám đầu tư vào nghiên cứu. Phát triển một sáng chế có thể mất nhiều năm, nhưng nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ thì động lực sáng tạo sẽ bị suy giảm. Tôi mong Kết luận sẽ góp phần xây dựng một môi trường mà tri thức được tôn trọng, sáng tạo được bảo vệ và đổi mới sáng tạo được lan tỏa thành sức mạnh cạnh tranh của đất nước.
Muốn Việt Nam trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo, theo tôi cần phải bảo vệ được người sáng tạo. Chỉ khi trí tuệ được bảo vệ, khoa học mới phát triển, doanh nghiệp mới dám đầu tư và đất nước mới có thể cạnh tranh bằng công nghệ thay vì chỉ bằng chi phí.
Tin Gốc: Vnexpress

