Lý giải việc không tiếp tục bán song song cả xăng khoáng và xăng sinh học E10 như nhiều đề xuất trước đó, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, Việt Nam đã từng áp dụng song song xăng khoáng và xăng sinh học nhằm tạo thời gian để người dân làm quen, thị trường thích nghi, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện hạ tầng phân phối, kỹ thuật và nguồn cung.
“Lộ trình triển khai được thực hiện từng bước, không mang tính áp đặt. Từ năm 2012, Chính phủ đã ban hành Quyết định 53 về lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống. Sau nhiều năm thử nghiệm, xăng E5 được phân phối chính thức trên toàn quốc từ năm 2018. Tuy nhiên, việc đưa xăng E10 ra thị trường theo Quyết định 53 đến nay vẫn chưa thực hiện được. Do đó, việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10 không phải là bước đi đột ngột mà đã có lộ trình từ trước”, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định.
Việc bán song song hai loại xăng sinh học E5 và E10 trên toàn quốc được xem là bước tiếp theo trong lộ trình triển khai nhiên liệu sinh học theo tinh thần Quyết định 53, phù hợp với thực tiễn, đúng chủ trương của Đảng và Chính phủ về chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế xanh, giảm phát thải carbon cũng như xu hướng phát triển bền vững trên thế giới.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh: “Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy nếu duy trì đồng thời quá nhiều chủng loại nhiên liệu trong thời gian dài sẽ phát sinh nhiều bất cập như tăng chi phí logistics, tồn chứa, phân phối; gây khó khăn cho doanh nghiệp bán lẻ; đồng thời làm giảm hiệu quả của chính sách chuyển đổi năng lượng xanh”.
Đặc biệt, xăng sinh học E10 đã được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá là phù hợp với phần lớn phương tiện đang lưu hành hiện nay. Qua rà soát, đánh giá và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ Công thương nhận thấy phần lớn ô tô, xe máy tại Việt Nam đều có thể sử dụng xăng E10 theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Xăng E10 hiện đã được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia như Mỹ, Brazil, Thái Lan hay Philippines… Tuy nhiên, đối với một số phương tiện quá cũ, ít sử dụng hoặc hệ thống nhiên liệu chưa được bảo dưỡng phù hợp, Bộ Công thương khuyến cáo người dân cần kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ hệ thống nhiên liệu và sử dụng nhiên liệu đúng theo khuyến cáo của nhà sản xuất để bảo đảm hiệu quả vận hành.
“Trong lộ trình nêu rõ, chuyển sang dùng xăng E10 và tiếp tục duy trì phân phối xăng E5 RON92. Xăng E5 được duy trì đến 2030 với mục tiêu chính là để phục vụ cho những dòng phương tiện cũ và chưa tương thích với dòng xăng E10”, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nói.
GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (Đại học Kinh tế TP.HCM), cho rằng: Về vĩ mô, Chính phủ đã có cam kết với thế giới giảm phát thải và tiến đến net zero vào năm 2050. Theo đó, các sản phẩm sử dụng trong nền kinh tế phải hướng đến yếu tố xanh ngay từ bây giờ. Xăng sinh học, điện tái tạo, bao bì tự hủy… là các chính sách bắt buộc phải triển khai và từng bước thực hiện hiệu quả. Thực tế, từ hơn 10 năm trước, Việt Nam đã đặt ra lộ trình sử dụng xăng E5 và E10. Nếu đi đúng lộ trình, xăng E10 đã có thể bán ra thị trường từ 9 năm trước. Do đó, Bộ Công thương hoàn toàn có lý khi giải thích đây là chính sách đi tiếp lộ trình đã được vạch ra từ 14 năm trước.
Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, cũng khẳng định xăng E10 là lựa chọn tối ưu vì giúp chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh, đáp ứng nhiều mục tiêu cùng lúc. Đó là bảo đảm đủ nguồn cung cho thị trường trong bối cảnh năng lượng thế giới biến động mạnh; giúp người tiêu dùng dễ sử dụng; hạn chế phát sinh chi phí đầu tư thêm cột bơm cho doanh nghiệp; đồng thời đáp ứng cam kết giảm phát thải của Chính phủ.
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, việc tiếp tục duy trì bán xăng E5 đến năm 2030 là phù hợp để phục vụ nhóm phương tiện cũ. Thực tế, để phối trộn thành công xăng E10 lúc này, doanh nghiệp đầu mối phải tốn nhiều chi phí hơn để pha chế, thay vì trước đây chỉ cần nhập xăng khoáng để bán.
“Ngoài các doanh nghiệp đầu mối lớn, nhiều doanh nghiệp nhỏ đang gặp không ít khó khăn vì chủ yếu phải thuê gia công phối trộn, điều này làm tăng chi phí đầu vào cho mặt hàng xăng sinh học. Vì vậy, chính sách cần có sự hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn đầu chuyển đổi”, ông Bùi Ngọc Bảo nói thêm.
GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng: Một cửa hàng kinh doanh nếu bán nhiều sản phẩm thì người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn là rất tốt. Tuy nhiên, với nhiên liệu, mỗi cửa hàng bán lẻ xăng dầu đều phải đầu tư các trụ bơm với chi phí rất lớn, để bán song song rồi khách hàng theo thói quen tập trung mua một loại xăng truyền thống, như vậy ý nghĩa lớn lao của chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh bị giảm hiệu quả, thậm chí phá sản. Trong khi đó, chuyển qua xăng sinh học là chiến lược đúng đắn, phù hợp xu thế và đã có thời gian thử nghiệm cũng như “cân đong đo đếm” các yếu tố bảo đảm tính “ích nước lợi nhà”.
Thực tế quá trình chuyển đổi này, quan trọng nhất là để người tiêu dùng an tâm thì cần có cơ chế tuyên truyền, bằng minh chứng thuyết phục, thông tin rộng rãi một cách khoa học. “Quan trọng hơn, để đi đường dài, chúng ta cần có giải pháp dài hạn cho nguồn cung ethanol. Hiện tại, nguồn ethanol để phối trộn chủ yếu là nhập khẩu, mức cung ứng từ trong nước còn rất thấp. Bài toán chuyển đổi năng lượng này trong thực tế đặt ra vai trò của bộ quản lý rất lớn. Đó là làm thế nào để đảm bảo được nguồn cung trong dài hạn; có chính sách khuyến khích trong nước đầu tư để dần chủ động nguồn cung ethanol”, GS-TS Võ Xuân Vinh lưu ý.
Ông Đào Công Quyết, Trưởng Tiểu ban truyền thông của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), khẳng định việc nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu sinh học đã được các hãng ô tô toàn cầu triển khai từ nhiều năm nay tại các thị trường như Mỹ, Brazil, Thái Lan, Indonesia… Vì vậy, trước khi đưa sản phẩm vào Việt Nam, các hãng đều đã đánh giá kỹ thuật dựa trên điều kiện vận hành thực tế và tiêu chuẩn trong nước nhằm bảo đảm khả năng tương thích với nhiên liệu sinh học.
Đối với nhóm xe đời cũ, ông Quyết khuyến nghị người sử dụng nên chủ động kiểm tra phương tiện tại các đại lý chính hãng để được tư vấn thay thế các chi tiết như gioăng cao su hoặc ống dẫn nhiên liệu nếu cần thiết trước khi chuyển sang sử dụng xăng E10.
Ngoài ra, một trong những băn khoăn phổ biến hiện nay là xăng E10 có thể khiến xe bị ì máy, hụt ga hoặc giảm hiệu suất vận hành. Theo ông Đào Công Quyết, hiện tượng này chủ yếu chỉ xảy ra khi nhiên liệu không đạt chất lượng hoặc bị lẫn tạp chất, nước. Trong khi đó, xăng E10 có trị số octane tương đương, thậm chí cao hơn xăng khoáng thông thường, giúp quá trình cháy ổn định hơn.
“Nếu xe được bảo dưỡng định kỳ và sử dụng xăng E10 đạt chuẩn theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất thì hiện tượng hụt ga sẽ không xảy ra”, ông Đào Công Quyết nhấn mạnh.
Tem kiểm định ô tô (tem đăng kiểm) theo quy định phảo được dán tại góc trên bên phải, mặt trong kính chắn gió phía trước theo chiều tiến của ô tô. Đối với rơ moóc và sơ mi rơ moóc, tem được dán vào khung xe, gần vị trí biển số.
Tuy nhiên, từ 1.3, tất cả cơ sở đăng kiểm trên toàn quốc đã thực hiện cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường bản điện tử. Trường hợp chủ xe có nhu cầu sử dụng bản giấy, cơ sở đăng kiểm sẽ in trực tiếp từ phần mềm quản lý (không sử dụng phôi giấy) và đóng dấu xác nhận để cấp cho chủ xe.
Trên giấy chứng nhận kiểm định sẽ thể hiện đầy đủ thông tin về phương tiện, thời hạn kiểm định, mức khí thải mà xe đạt được (như mức 3, mức 4…). Đồng thời, giấy chứng nhận có mã QR-code liên kết tới bản điện tử được lưu trữ trên trang thông tin điện tử của Cục Đăng kiểm.
Theo Nghị định 89/2026 do Chính phủ mới ban hành, có hiệu lực từ 1.1.2027, ô tô sẽ không còn phải dán tem kiểm định trên kính trước. Việc quản lý phương tiện sẽ được thực hiện hoàn toàn thông qua dữ liệu điện tử, kết hợp hệ thống camera AI và các nền tảng số.
Đại diện Cục Đăng kiểm cho biết việc bỏ tem dán giúp giảm chi phí in ấn cho các trung tâm đăng kiểm. Đồng thời, hạn chế tình trạng tem bị bong tróc, hư hỏng hoặc làm giả. Ngoài ra, việc kiểm tra, giám sát cũng thuận lợi hơn khi lực lượng chức năng khai thác trực tiếp dữ liệu số, không phụ thuộc vào tem dán trên kính xe.
Thời gian tới, Cục sẽ tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm hệ thống vận hành ổn định, an toàn, phục vụ tốt việc cấp và quản lý giấy chứng nhận kiểm định điện tử, tiến tới hiện đại hóa toàn diện công tác đăng kiểm phương tiện.
Trước đó, Nghị định 364 của Chính phủ có hiệu lực từ 1.1.2026 đã quy định không dán tem thu phí sử dụng đường bộ trên kính xe ô tô. Như vậy, đến 2027, ô tô lưu hành trên cả nước sẽ được bỏ toàn bộ các loại tem dán trên kính xe.
Sáng 25/4, Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, HoSE: VCG) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, với nhiều nội dung được cổ đông quan tâm như diễn biến giá cổ phiếu, kế hoạch đầu tư dự án mới, cũng như các vấn đề liên quan đến thanh tra và kết quả kinh doanh.
Tại đại hội, câu chuyện giá cổ phiếu VCG diễn biến kém tích cực dù doanh nghiệp liên tục trúng thầu các dự án lớn như sân bay Long Thành hay cao tốc Bắc - Nam đã được cổ đông đặt thẳng vấn đề.
Trả lời nội dung này, Tổng Giám đốc Nguyễn Xuân Đông cho rằng giá cổ phiếu phụ thuộc vào thị trường và dòng vốn, đặc biệt là khối ngoại.
"Diễn biến cổ phiếu là do thị trường, chúng tôi không có bất kỳ tác động nào để giá cổ phiếu lên hay xuống. Chúng tôi cũng rất mong muốn giá cổ phiếu phải cao chứ không phải lình xình như thế này, nhưng đã lên sàn thì phải theo thị trường" ông nói, đồng thời cho biết thời gian qua trên thị trường nhiều quỹ đầu tư nước ngoài đã rút ròng do áp lực tỷ giá và các yếu tố vĩ mô.
Lãnh đạo Vinaconex thừa nhận diễn biến cổ phiếu "lình xình" là điều doanh nghiệp và cổ đông đều không mong muốn, song nhấn mạnh định hướng điều hành vẫn ưu tiên an toàn, hiệu quả bền vững hơn là các hoạt động truyền thông hay "đánh bóng" hình ảnh.
Theo ông Đông, mức cổ tức dự kiến 16% cho năm 2025 là cơ sở để duy trì sức hấp dẫn với nhà đầu tư dài hạn.
Đối với kế hoạch chi trả cổ tức, lãnh đạo doanh nghiệp cho biết sẽ thực hiện trong năm 2026, ngay sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết. Theo chia sẻ tại đại hội, Vinaconex đặt mục tiêu chi trả sớm và không kéo dài thời gian thực hiện, nhằm đảm bảo quyền lợi cho cổ đông.
Một nội dung đáng chú ý khác là kế hoạch gia tăng hiện diện tại Công ty Giày Thượng Đình - doanh nghiệp sở hữu khu "đất vàng" tại Nguyễn Trãi được đánh giá có vị trí thuận lợi tại Hà Nội.
Theo ban lãnh đạo, Vinaconex dự kiến tham gia vào dự án công trình xây dựng trên khu đất của Giày Thượng Đình với tỉ lệ sở hữu khoảng 24%, hợp tác cùng các đối tác khác để phát triển dự án. Khu đất này đã nằm trong danh mục được triển khai theo Nghị quyết của Tp.Hà Nội, với định hướng phát triển các tòa chung cư cao tầng, quy mô dân số hơn 3.000 người.
Đây là khu đất nằm trong khu vực nội đô, có giá trị thương mại cao nếu được chuyển đổi công năng sang phát triển nhà ở. Dù chưa công bố chi tiết cấu trúc giao dịch, ban lãnh đạo cho biết định hướng là tham gia với vai trò nhà đầu tư phát triển, tận dụng kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản để tối ưu hóa giá trị dự án.
Theo đánh giá của doanh nghiệp, việc tham gia vào Giày Thượng Đình không chỉ đơn thuần là một khoản đầu tư tài chính mà còn là bước đi chiến lược nhằm mở rộng quỹ đất tại khu vực lõi đô thị - nơi nguồn cung ngày càng khan hiếm.
Nếu triển khai đúng tiến độ, dự án có thể trở thành một trong những điểm đóng góp đáng kể cho kết quả kinh doanh trung hạn của Vinaconex.
Một nội dung khác cũng được cổ đông quan tâm là việc Vinaconex nằm trong kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ trong quý II/2026. Trả lời vấn đề này, ban lãnh đạo cho rằng đây là hoạt động thanh tra theo kế hoạch, chủ yếu liên quan đến các dự án bất động sản và thủ tục đầu tư trước đây.
"Đây là việc bình thường thôi, không phải đáng lo lắm", đại diện công ty cho biết, đồng thời khẳng định các dự án đều tuân thủ quy định pháp luật.
Tại Hội đàm, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman đã nhiệt liệt chào mừng Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cùng đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam tới thăm Bộ Tài chính Ấn Độ, nhấn mạnh đây là cơ hội để hai bên trao đổi về tình hình kinh tế vĩ mô, định hướng chính sách tài khóa, cải cách thể chế cũng như các định hướng tăng cường hợp tác kinh tế - tài chính giữa hai nước.
Cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Bộ trưởng Nirmala Sitharaman, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao quan hệ hữu nghị truyền thống với Ấn Độ – một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng của Việt Nam tại khu vực.
Quan hệ hai nước có nền tảng lịch sử lâu dài, được thiết lập từ năm 1972, không ngừng được củng cố, nâng cấp, đặc biệt kể từ khi hai bên thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 9/2016. Trên nền tảng đó, hợp tác kinh tế – tài chính ngày càng trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của mỗi nước.
Đặc biệt, nhân dịp chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ theo lời mời của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ, hai bên đã thống nhất nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Ấn Độ lên thành "Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường", mở ra giai đoạn hợp tác mới sâu sắc và thực chất hơn giữa hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam đánh giá cao vai trò và vị thế của Ấn Độ như một trong những nền kinh tế lớn, năng động hàng đầu thế giới, với thế mạnh nổi bật về công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo, công nghiệp dược phẩm và năng lượng. Những thành tựu phát triển của Ấn Độ trong thời gian qua là nguồn cảm hứng và kinh nghiệm quý báu đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao và mong muốn học hỏi từ Ấn Độ về các bài học thành công ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách chính sách thuế hiệu quả, thúc đẩy đầu tư công và hình thành năng lực tự chủ chiến lược trong một số ngành lĩnh vực thiết yếu của bền kinh tế.
Tại hội đàm, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đã dành thời gian chia sẻ về tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua và những định hướng lớn thời gian tới để đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%.
Về hợp tác kinh tế - đầu tư giữa Việt Nam và Ấn Độ, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam nhận thấy tiềm năng hợp tác giữa hai nước vẫn còn rất lớn và chưa được khai thác tương xứng. Mặc dù số lượng dự án tương đối nhiều, quy mô bình quân còn khiêm tốn, cho thấy dư địa để hai bên nâng tầm hợp tác theo hướng chiến lược, dài hạn và có chiều sâu hơn.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng mong muốn mở rộng đầu tư sang Ấn Độ – một thị trường quy mô lớn với hơn 1,4 tỷ dân, tuy nhiên hiện nay quy mô đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ còn khiêm tốn. Việt Nam đề nghị hai bên tiếp tục trao đổi nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn mong muốn hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác theo hướng thực chất, hiệu quả hơn, trong đó: tiếp tục phát huy các cơ chế hợp tác hiện có, tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật; đồng thời thúc đẩy kết nối thị trường, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hướng tới xây dựng môi trường tài chính minh bạch, ổn định và hiệu quả hơn.
Xem xét giao các cấp kỹ thuật triển khai có biện pháp cụ thể để chia sẻ kinh nghiệm thành công, tăng cường năng lực lẫn nhau trên những lĩnh vực mà cả hai bên có thế mạnh và có nhu cầu ưu tiên, như cải cách chính sách thuế, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, và thúc đẩy đầu tư công theo hướng tăng cường cả về quy mô và hiệu quả.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman ấn tượng trước những quan tâm nghiên cứu sâu của Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam với nền kinh tế Ấn Độ. Đồng thời chia sẻ cho Đoàn những kinh nghiệm, ưu tiên phát triển của Ấn Độ trong giai đoạn tới
Trước những chia sẻ của Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết bà đặc biệt ấn tượng trước sự quan tâm và nghiên cứu sâu của phía Việt Nam đối với kinh tế Ấn Độ, nhất là các chính sách thúc đẩy đầu tư công, cải cách thuế và hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cũng đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, cho rằng nhiều nội dung cải cách của Việt Nam có tính tương đồng cao với các ưu tiên phát triển của Ấn Độ hiện nay, như cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiểm soát lạm phát gắn với duy trì tăng trưởng.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho rằng việc duy trì cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát luôn là thách thức lớn đối với các nền kinh tế đang phát triển. Theo đó, Ấn Độ hiện vẫn duy trì mục tiêu kiểm soát lạm phát quanh mức 4%, qua đó tạo dư địa để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng đầu tư công dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Narendra Modi.
Chia sẻ kinh nghiệm của Ấn Độ về đầu tư công, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết sau đại dịch COVID-19, Chính phủ Ấn Độ đã lựa chọn đầu tư công là động lực chủ yếu để phục hồi kinh tế. Theo đó, quy mô đầu tư công của Ấn Độ hiện đã tăng mạnh từ khoảng 2.000 tỷ Rupee/năm lên hơn 12.000 tỷ Rupee/năm, tập trung vào các lĩnh vực như đường bộ, cảng biển, đường sắt, sân bay, hạ tầng số, bệnh viện và hạ tầng xã hội.
Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ cũng chia sẻ về nền tảng số PM Gati Shakti – hệ thống đánh giá, điều phối và lựa chọn các dự án đầu tư công trên cơ sở phân tích liên kết vùng, khả năng tạo việc làm, tác động tới doanh nghiệp vừa và nhỏ, logistics và hiệu quả kinh tế tổng thể.
Theo Bộ trưởng, mỗi dự án đầu tư công đều phải trải qua hàng nghìn tiêu chí đánh giá liên quan đến khả năng kết nối hạ tầng, tác động lan tỏa tới nền kinh tế và khả năng tạo việc làm trước khi được phê duyệt, qua đó bảo đảm tính liên kết và hiệu quả đầu tư.
Bày tỏ quan tâm đối với mô hình này, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đề nghị phía Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm và khả năng hỗ trợ Việt Nam tiếp cận nền tảng PM Gati Shakti để phục vụ công tác quản lý và lựa chọn dự án đầu tư công. Bộ trưởng Nirmala Sitharaman khẳng định sẽ chuyển đề nghị này tới các cơ quan liên quan của Ấn Độ nhằm nghiên cứu khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế.
Hai Bộ trưởng cũng trao đổi sâu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME). Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết Ấn Độ đã thực hiện nhiều cải cách mạnh mẽ nhằm đơn giản hóa thủ tục thuế, trong đó cho phép doanh nghiệp nhỏ kê khai thuế hoàn toàn điện tử mà không cần xác nhận của kiểm toán viên; đồng thời áp dụng ngưỡng miễn đăng ký thuế GST đối với các doanh nghiệp có doanh thu nhỏ.
Ấn Độ hiện nay cũng đã đẩy mạnh số hóa toàn diện trong quản lý thuế và tài chính công, hướng tới mô hình "không tiếp xúc trực tiếp", trong đó hầu hết quy trình kê khai, xử lý hồ sơ và quản lý thuế đều được thực hiện trên nền tảng số.