Thủ tướng Phạm Minh Chính đã ký ban hành Quyết định số 529/QĐ-TTg ngày 31/3/2026, điều động, bổ nhiệm ông Bùi Thế Duy, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, giữ chức Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ông Bùi Thế Duy 48 tuổi, quê Hà Tĩnh; là phó giáo sư, tiến sĩ tin học; Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa 13, 14.
Ông là cán bộ có nền tảng học thuật nổi bật, với nhiều dấu ấn từ thời học sinh đến quá trình công tác, trải dài từ môi trường đại học, đơn vị đào tạo thanh niên đến các vị trí lãnh đạo, quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Ông Bùi Thế Duy từng giành huy chương đồng tin học quốc tế năm 1995 tại Hà Lan và năm 1996 tại Hungary. Sau đó, ông nhận học bổng Chính phủ học đại học tại Australia, bảo vệ tiến sĩ khi 26 tuổi tại Hà Lan và được công nhận chức danh Phó giáo sư ở tuổi 31. Năm 2009, ông được vinh danh là Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu.
Trong quá trình công tác, ông từng là Chủ nhiệm khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Sau đó, ông giữ chức Giám đốc Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam và Chánh Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Tháng 4/2018, ông được Thủ tướng bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Ông giúp Bộ trưởng phụ trách lĩnh vực nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế; mạng lưới cơ quan đại diện khoa học và công nghệ ở nước ngoài; quy hoạch, chiến lược phát triển ngành khoa học và công nghệ.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 (tháng 1/2021), ông được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 13. Tháng 8/2025, ông được chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ và Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025-2030.
Tháng 1/2026, ông được Thủ tướng bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ông tái đắc cử Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XIV.

Triển lãm mỹ thuật "You are my destiny - two worlds experience" quy tụ hàng trăm tác phẩm xuất sắc của học sinh từ cấp tiểu học đến THPT của hệ thống Trường quốc tế Á Châu trong một không gian nghệ thuật độc đáo - Chill Zone, nơi cảm xúc và sự sáng tạo của các em được kể qua ngôn ngữ thị giác ấn tượng với đa sắc màu.
Các tác phẩm được trưng bày tại triển lãm là hành trình trải nghiệm nghệ thuật được thiết kế xuyên suốt theo chủ đề "Two Worlds - One Journey", dẫn dắt người xem bước vào hai thế giới đối lập nhưng kết nối chặt chẽ: "Little Worlds" - thế giới rực rỡ, hồn nhiên qua đôi mắt trẻ thơ và "Inner Worlds" - thế giới nội tâm sâu sắc của tuổi trưởng thành.
"Chill Zone" mở cửa tự do cho phụ huynh, học sinh và công chúng từ 8 giờ đến 19 giờ trong từ ngày 18-25.4 tại 8C Tống Hữu Định, P.An Khánh, TP.HCM.
Xuyên suốt triển lãm, các tác phẩm được thể hiện đa dạng về chất liệu và hình thức như hội họa, tranh resin, tranh mica, tranh sỏi hay các sản phẩm tạo hình từ đất sét. Mỗi tác phẩm là một câu chuyện cá nhân, dấu ấn riêng biệt, góp phần khắc họa hành trình trưởng thành và thế giới nội tâm phong phú của các em học sinh.
Ông Cao Quảng Tư, Giám đốc tuyển sinh của hệ thống Trường quốc tế Á Châu, chia sẻ triển lãm không chỉ là sân chơi nghệ thuật, sự kiện còn góp phần kết nối nhà trường - học sinh - phụ huynh, đồng thời mở ra một không gian trải nghiệm giáo dục giàu cảm hứng, nơi nghệ thuật trở thành cầu nối của cảm xúc và sự thấu hiểu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trung Quốc mới đây bãi bỏ hoặc tạm dừng tuyển sinh 12.200 chương trình đào tạo bậc cử nhân, tập trung nhiều ở các ngành ngoại ngữ, nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn... Đồng thời, Trung Quốc còn mở mới 10.200 chương trình, trong số đó gắn chặt với chiến lược phát triển KH-CN của nước này. Đây là xu hướng có phần tương tự ở nhiều quốc gia, trong đó có VN.
Tại VN, Nghị quyết số 57 và Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị đề ra những chủ trương, định hướng mang tính chiến lược về đột phá phát triển KH-CN, GD-ĐT. Trong đó, hệ thống giáo dục ĐH được coi là nòng cốt phát triển nguồn nhân lực KH-CN và đổi mới sáng tạo, góp phần giúp VN chinh phục những mục tiêu tăng trưởng.
Để hiện thực hóa điều này, các nhóm ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) được chú trọng, coi đây là nền tảng để phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược. Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn mới đây phát biểu ở Hội thảo triển khai các chương trình và chính sách đào tạo nhân lực STEM rằng cách tiếp cận của VN cũng như nhiều quốc gia là tập trung đào tạo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt. Điều này giúp người học có thể nhanh chóng thích ứng, làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược trong tương lai, theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn.
Để khuyến khích người học theo đuổi STEM, Chính phủ thời gian qua liên tục ban hành nhiều quy định liên quan, với mục tiêu đào tạo STEM đạt quy mô trên 1 triệu người học mỗi năm vào 2030, nâng tỷ lệ người học lên 35%. Mới đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026 trong đó nêu rõ sẽ cấp học bổng cho người học 111 ngành thuộc nhóm khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược có điểm trúng tuyển cao. Năm 2026, dự kiến khoảng 30.000 người được cấp học bổng với mức từ 37 triệu đồng/năm, tổng kinh phí khoảng 1.300 tỉ đồng/năm.
Bên cạnh đó, Chính phủ gần đây cũng ban hành hai đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn và điện hạt nhân, đồng thời giao Bộ GD-ĐT tiếp tục xây dựng đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao. Một số cơ sở giáo dục ĐH, trong đó có ĐH Bách khoa Hà Nội, Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM... cũng được tập trung đầu tư, nâng cấp thành ĐH kỹ thuật, công nghệ trọng điểm quốc gia.
Những chính sách nêu trên góp phần giúp người học các khối STEM hiện chiếm khoảng 29% quy mô giáo dục ĐH, trong đó có nhiều ngành tăng mạnh số lượng nhập học trong năm ngoái, theo báo cáo tuyển sinh của Bộ GD-ĐT. Con số này dự kiến sẽ tiếp tục tăng ở mùa tuyển sinh ĐH năm nay.
Dù số lượng học STEM tăng và nhiều ngành ở khối này vào top 10 thu hút đông tân sinh viên nhất, dẫn đầu vẫn tiếp tục là nhóm kinh doanh và quản lý với tỷ lệ 21% nhưng giảm 4% so với năm trước; xếp thứ hai là nhóm công nghệ kỹ thuật thuộc STEM (10,6%); còn thứ ba là nhóm nhân văn (9,6%). Đây là một khác biệt đáng chú ý khi ở nhiều nước, các ngành nhân văn ngày càng yếu thế trong hệ thống giáo dục ĐH.
Dòng chảy đầu tư đến một số địa phương là một trong những lý do thúc đẩy nhóm ngành này hút sinh viên, theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế Trường ĐH Lạc Hồng, Giám đốc Công ty TNHH giáo dục quốc tế Lucky Star. Chẳng hạn, TP.Đồng Nai, TP.HCM và nhiều địa phương trên cả nước đang tăng mạnh thu hút dòng vốn đầu tư từ Đài Loan, Trung Quốc, Singapore..., kéo theo nhu cầu lớn về nhân lực dùng tiếng Trung.
"Song kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy lợi thế cạnh tranh trong tương lai sẽ không thuộc về những người chỉ biết ngoại ngữ đơn thuần. Doanh nghiệp ngày càng cần nhân sự vừa có năng lực ngoại ngữ, vừa có chuyên môn về xuất nhập khẩu, logistics, quản trị sản xuất, thương mại điện tử hoặc marketing số... Vì vậy, các chương trình đào tạo ngoại ngữ ở VN cần chuyển dần sang mô hình liên ngành để tránh nguy cơ dư thừa nguồn cung nhân lực", bà Oanh nói.
Đồng tình, PGS-TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, cho rằng VN có lợi thế dân số trẻ, việc thu hút đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore... tạo nhu cầu về tiếng Trung, quản trị chuỗi cung ứng, kỹ thuật thực tiễn.
PGS-TS Đỗ Văn Dũng cho rằng xu hướng toàn cầu đang tái cơ cấu mạnh mẽ chương trình đào tạo ĐH theo nhu cầu thị trường lao động và tác động của AI. Tuy nhiên, một điểm quan trọng là Trung Quốc không bỏ hoàn toàn các ngành nhân văn/ngoại ngữ/nghệ thuật, mà tái định vị chúng theo hướng liên ngành và thực tiễn (ví dụ ngoại ngữ kết hợp với logistics quốc tế/thương mại điện tử).
Cùng quan điểm, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, cho rằng VN cũng sẽ bước vào quá trình cơ cấu lại hệ thống ngành đào tạo trong khoảng 5 - 10 năm tới.
"Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng việc cơ cấu lại ngành học không đồng nghĩa với việc phủ nhận giá trị của một lĩnh vực đào tạo. Một ngành đào tạo bị thu hẹp không có nghĩa ngành đó không còn quan trọng, mà là quy mô đào tạo đã vượt quá nhu cầu của thị trường hoặc nội dung đào tạo chưa theo kịp sự thay đổi của xã hội", tiến sĩ Tuấn nhận định.
Ông Tuấn cho rằng giáo dục ĐH VN sẽ không xóa bỏ cả một lĩnh vực đào tạo mà là cơ cấu lại quy mô, sáp nhập, đổi tên, hoặc chuyển đổi mô hình đào tạo. Đây cũng là xu hướng đang diễn ra ở nhiều quốc gia, khi các chương trình được điều chỉnh để phù hợp với AI và nhu cầu nhân lực mới.
Đối với các cơ sở đào tạo trong nước, theo tiến sĩ Tuấn, quá trình cấu trúc lại ngành đào tạo cần được thực hiện một cách thận trọng, dựa trên dự báo dài hạn về thị trường lao động, chiến lược phát triển quốc gia và năng lực của từng cơ sở giáo dục.
"Mục tiêu của giáo dục ĐH trong giai đoạn tới không phải là mở hay đóng thật nhiều ngành, mà là xây dựng một cơ cấu ngành đào tạo tinh gọn, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của xã hội", ông Tuấn nêu quan điểm.
Nhìn về xu hướng ngành nghề các trường ĐH VN hiện nay, PGS Đỗ Văn Dũng cho rằng Chính phủ đang đẩy mạnh công nghiệp bán dẫn, AI, công nghệ số, năng lượng tái tạo, đường sắt cao tốc, hàng không, nông nghiệp công nghệ cao. Ngành "hot" hiện nay có thể kể ra như: công nghệ cơ khí, kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, AI/dữ liệu lớn, digital marketing, logistics, thương mại quốc tế, bán dẫn/vi mạch, chăm sóc sức khỏe, du lịch và dịch vụ chất lượng cao... Song song đó, PGS Dũng cho rằng một số ngành quản trị, marketing, du lịch, ngoại ngữ, truyền thông có nguy cơ dư cung nếu đào tạo theo kiểu hàn lâm, thiếu thực tiễn và kỹ năng số/AI.
Còn tiến sĩ Nguyễn Trọng Trung, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ miền Đông, cho hay: "Việc thiết kế mới các chương trình đào tạo các chuyên sâu mũi nhọn như UAV thông minh, robot và tự động hóa, hay điện công nghiệp cho nhà máy thông minh... chính là mong muốn của trường trong việc cung ứng một thế hệ nhân sự chất lượng cao, sẵn sàng làm chủ công nghệ ngay khi gia nhập môi trường sản xuất hiện đại.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, nếu cắt giảm quá mức sẽ tạo ra những khoảng trống rất nguy hiểm. Một quốc gia không thể chỉ đào tạo kỹ sư hoặc lập trình viên cho các ngành kỹ thuật, công nghệ... Vì vậy nếu giảm quá nhiều các ngành xã hội, nhân văn, nghệ thuật hay ngoại ngữ thì sẽ xuất hiện các hệ quả thiếu đội ngũ làm văn hóa, giáo dục, ngoại giao, truyền thông và hoạch định chính sách.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đến ngày 9/4, hơn 200 đại học đã công bố phương án tuyển sinh năm nay, trong đó nhiều trường nêu học phí dự kiến. Hiện, Đại học Tân Tạo (Tây Ninh) có mức thu cao nhất - 150 triệu đồng với ngành Y khoa. Một số ngành ở vài trường thu dưới 18 triệu đồng như ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Học viện Quản lý giáo dục, Đại học Đông Đô (Hà Nội).
Học phí cao thường ở khối ngành Y Dược hoặc với các chương trình liên kết quốc tế, định hướng nghề nghiệp, chất lượng cao. Với chương trình chuẩn, các trường thu chủ yếu trong khoảng 20-40 triệu đồng.
So với năm ngoái, hầu hết tăng học phí trong khoảng 10%, một số trường tăng mạnh hơn như Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (khoảng 12-47%).
Học phí đại học năm 2025-2027 dự kiến như sau:
TT
Trường
Học phí (triệu đồng/năm)
1
Đại học Ngoại thương
28-32 (chương trình chuẩn)
34-39 (chương trình tích hợp)
50-54 (chất lượng cao)
50-70 (định hướng nghề nghiệp và phát triển quốc tế)
77-88 (tiên tiến)
2
Đại học Kinh tế Quốc dân
20-28 (chương trình chuẩn)
45-70 (tiên tiến, chất lượng cao, định hướng ứng dụng POHE)
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
31-67
4
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
19,1-40
5
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
38-44
6
Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội
35-58
7
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
48 (chính quy)
93,3-111,2 (liên kết quốc tế)
8
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
34,2-38,2
9
Đại học Dược Hà Nội
28-58 (hệ đại trà)
150 (liên kết đào tạo)
10
Đại học Công nghiệp Hà Nội
25-31 (chương trình chuẩn)
36-44 (đào tạo bằng tiếng Anh)
11
Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
59-130
12
Học viện Ngân hàng
27,8-29,4 (chuẩn)
45 (chất lượng cao)
50 (liên kết quốc tế, định hướng Nhật)
13
Đại học Thương mại
25,75-30,69 (chương trình chuẩn)
42,35 (định hướng nghề nghiệp)
50 (chương trình tiên tiến)
65 (song bằng quốc tế)
14
Học viện Tài chính
25-35 (chương trình chuẩn)
50-55 (định hướng chứng chỉ quốc tế)
75-80 (liên kết đào tạo)
15
Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
20-25 (chương trình chuẩn)
16
Đại học Xây dựng Hà Nội
20,9 (chương trình chuẩn)
37 (liên kết quốc tế)
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18,1 (chương trình chuẩn)
38,2 (chương trình đạt kiểm định)
18
Đại học Mở Hà Nội
23,7-25,3
19
Học viện Phụ nữ Việt Nam
20,7-22,68
20
Học viện Quản lý giáo dục
17,9-20,9
21
Đại học Y tế công cộng
21,01-38,57
22
Đại học Thủ đô Hà Nội
19-22,2
23
Đại học Công đoàn
20,85-25,85 (đại trà)
32 (chương trình định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế)
24
Học viện Chính sách và Phát triển
28 (chương trình chuẩn)
35-40 (chất lượng cao)
35 (định hướng nghề nghiệp quốc tế)
25
Đại học Phenikaa (Hà Nội)
28-128
26
Đại học FPT
46,44-94,8 (học tại Hà Nội, TP HCM)
32,52-66,36 (Đà Nẵng, Cần Thơ)
23,22-47,4 (Quy Nhơn)
27
Đại học Thăng Long (Hà Nội)
35,1-54
28
Đại học CMC (Hà Nội)
37,4-44,23
29
Đại học Đại Nam (Hà Nội)
35,7-99
30
Đại học Thành Đô (Hà Nội)
24-52,5
31
Đại học Đông Đô (Hà Nội)
17,49-29,4
32
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương (Hải Phòng)
29,26-47,89
33
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
18-21,9 (hệ đại trà)
28,9 (chương trình tiên tiến)
34
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
18
35
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
17,9-26,03
36
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
27,7-38
37
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
24,8-26,7
38
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt - Hàn, Đại học Đà Nẵng
17,9-20,9
39
Trường Đại học Quy Nhơn (Gia Lai)
20,75-25 (chương trình đại trà)
40
Đại học Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)
24-93,5
41
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
35,8 (chương trình dạy bằng tiếng Việt)
55 (Co-op tiếng Anh bán phần)
73,5 (dạy học bằng tiếng Anh)
42
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP HCM
24,78-30,85
43
Đại học Y Dược TP HCM
30-90
44
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
47-81
45
Đại học Sài Gòn
21-53
46
Đại học Tôn Đức Thắng
31,26-68,46 (chương trình chuẩn)
55,6-64 (tiên tiến)
78-88 (học bằng tiếng Anh)
75-83 (liên kết quốc tế)
20,5-24 (phân hiệu Khánh Hòa)
47
Đại học Văn hóa TP HCM
19,91
48
Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
80-88 (bao gồm 6 cấp độ tiếng Anh)
49
Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP HCM
42
50
Đại học Việt - Đức (Bình Dương)
43,7-46,6
51
Đại học Thủ Dầu Một (TP HCM)
25,65-31,35
52
Đại học Tân Tạo (Tây Ninh)
25-150
Lưu ý:
- Với các trường công bố mức thu theo tín chỉ, học phí trung bình năm được ước tính như sau: [giá tín chỉ x tổng số tín chỉ của chương trình]/số năm học.
- Với nhóm công bố học phí theo kỳ, học phí năm học 2026-2027 được ước tính theo số kỳ trong năm đầu đại học.
- Với các trường công bố học phí cả khóa, học phí một năm được ước tính bằng cách chia trung bình cho số năm học.
- Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ.
Theo đó, mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/hon-50-dai-hoc-cong-bo-hoc-phi-cao-nhat-150-trieu-dong-5059911.html

