Thủ tướng Canada Mark Carney ngày 25/5 so sánh cuộc trưng cầu dân ý sắp tới tại tỉnh Alberta với cuộc bỏ phiếu Brexit năm 2016 khiến Anh rút khỏi Liên minh châu Âu (EU).
“Trong các nỗ lực ly khai như vậy, người ta thường nói rằng ‘cứ bỏ phiếu đi, đó là lựa chọn tự do. Đồng ý đi và chúng ta sẽ có đòn bẩy mạnh hơn trong đàm phán tương lai’. Đó là trò lừa bịp rất nguy hiểm”, ông Carney nói trong cuộc họp báo ở Ottawa.
Thủ tướng Canada, người từng giữ chức thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh trong thời kỳ nước này tiến hành chiến dịch trưng cầu dân ý Brexit, cho hay người dân Anh đến nay vẫn tìm cách khắc phục thiệt hại từ quyết định đó.
“10 năm sau, nước Anh vẫn đang cố gắng đảo ngược những hệ lụy mà người dân không ngờ rằng mình đã bỏ phiếu ủng hộ nhưng cuối cùng vẫn phải sống chung với nó”, ông nói.
Sau nhiều tháng chịu sức ép từ các nhóm ủng hộ ly khai ở Alberta, Thủ hiến Danielle Smith cuối tuần qua thông báo tổ chức cuộc trưng cầu dân ý nội bộ tỉnh về nguyện vọng tiếp tục ở lại Canada, hay chính quyền tỉnh nên bắt đầu tiến trình pháp lý hướng tới một cuộc bỏ phiếu lần hai mang tính ràng buộc pháp lý về ly khai.
Cuộc bỏ phiếu đầu tiên dự kiến diễn ra ngày 19/10. Khảo sát dư luận do hãng Angus Reid của Canada công bố ngày 25/5 cho thấy khoảng 60% cử tri ở Alberta ủng hộ tỉnh này ở lại Canada, song những chuyển biến trong 6 tháng tới dưới tác động từ những chiến dịch vận động chính trị vẫn vô cùng khó lường.
Thủ tướng Canada cảnh báo cử tri tại Alberta không nên tin vào những thông điệp ủng hộ ly khai như một cách để tăng đòn bẩy đàm phán với chính quyền liên bang, vì kết quả trưng cầu dân ý luôn tiềm ẩn nhiều hậu họa ngoài ý muốn.
“Chúng ta phải rất cẩn trọng”, ông nói. “Cả Canada và Alberta đều có lợi khi đất nước duy trì thống nhất”.
Theo ông, tổ chức một cuộc trưng cầu về ly khai trong bối cảnh hiện nay là “không hữu ích” và cũng không mang tính dân chủ, vì cử tri không được đặt vấn đề này trong kỳ bầu cử trước. Vấn đề ly khai khỏi Canada không nằm trong cam kết tranh cử của bà Smith trong cuộc bầu cử cấp tỉnh, cũng không xuất hiện trong cương lĩnh của đảng Bảo thủ Thống nhất (UCP).
Đáp lại thông điệp từ Thủ tướng Carney, Thủ hiến Smith ra tuyên bố khẳng định bà cũng mong muốn Canada duy trì thống nhất, song cảnh báo chính quyền liên bang không nên can thiệp quá mức vào vấn đề của tỉnh.
“Quyết định này thuộc về người dân Alberta, không phải ý chí từ Ottawa. Sự bất bình của người dân bắt đầu từ những chính sách thảm họa trong 10 năm qua của chính quyền tiền nhiệm, dưới thời cựu thủ tướng Justin Trudeau”, bà nói.
Những người ủng hộ độc lập cho rằng Alberta, tỉnh giàu tài nguyên dầu mỏ, không nhận được sự quan tâm từ giới hoạch định chính sách trung ương nhiều năm qua. Họ cho rằng chính sách môi trường của chính phủ liên bang cản trở Altberta xây dựng các tuyến ống dẫn dầu khí và khai thác tài nguyên.
Phong trào ly khai trong năm nay thu thập được hơn 300.000 chữ ký yêu cầu tổ chức trưng cầu dân ý, đủ điều kiện kích hoạt tiến trình bỏ phiếu. Tuy nhiên, tòa án tỉnh bác bỏ kiến nghị này sau khi các cộng đồng thổ dân Alberta lập luận rằng họ không được tham vấn.
Dù vậy, bà Smith cuối cùng vẫn quyết định cho bỏ phiếu về tương lai “đi hay ở”, viện dẫn một kiến nghị phản đối ly khai với hơn 400.000 chữ ký ủng hộ Alberta ở lại Canada.
Năm 2016, thủ tướng Anh khi đó là David Cameron đã chấp nhận tổ chức bỏ phiếu Brexit vì áp lực từ một bộ phận cử tri và đồng minh. Những người ủng hộ Brexit khi đó cũng cho rằng tư cách thành viên EU kìm hãm tăng trưởng kinh tế và chủ quyền.
Phe ủng hộ ở lại EU từng dẫn trước trong các cuộc thăm dò, song khoảng cách dần thu hẹp và phe Brexit giành chiến thắng sít sao với tỷ lệ 52% ủng hộ Anh rời EU, 48% muốn ở lại. Ông Cameron đã từ chức sau khi có kết quả trưng cầu dân ý.
Quá trình đàm phán giữa Anh và EU kéo dài hơn 4 năm, trước khi Anh chính thức rời khối vào năm 2020.
"Nếu hành động gây hấn nhằm vào Iran tái diễn, cuộc chiến đã từng được cảnh báo sẽ lan rộng vượt xa phạm vi khu vực, và những đòn đáp trả tàn khốc của Iran sẽ nghiền nát các người", Hãng tin AFP dẫn tuyên bố của IRGC đăng trên trang Sepah News.
IRGC cũng nhấn mạnh liên minh Mỹ - Israel cần hiểu rằng Tehran vẫn chưa tung ra toàn bộ năng lực của “cuộc cách mạng Hồi giáo”.
Theo AFP, lời cảnh báo được đưa ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 19-5 tuyên bố Washington có thể nối lại các đợt không kích nhằm vào Iran, nếu các bên không đạt được thỏa thuận về một giải pháp lâu dài trong vài ngày tới.
Phát biểu với báo giới tại Nhà Trắng, ông Trump cho biết bản thân đang ở rất gần quyết định tái phát động chiến dịch tấn công Iran, song đã tạm hoãn vào phút chót.
Theo ông, trước đó một ngày, lãnh đạo các quốc gia vùng Vịnh đã đề nghị Mỹ trì hoãn kế hoạch quân sự.
"Tôi đang nói tới khoảng hai hoặc ba ngày, có thể là thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ nhật gì đó, hoặc đầu tuần tới. Một khoảng thời gian giới hạn", ông Trump nói.
Phó tổng thống Mỹ JD Vance cũng cho biết Washington đã sẵn sàng cho mọi kịch bản quân sự, tuy nhiên ông vẫn bày tỏ hy vọng về một giải pháp ngoại giao.
Trong khi đó Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi viết trên mạng xã hội X rằng việc “quay trở lại cuộc chiến sẽ kéo theo nhiều bất ngờ hơn nữa”.
Ông Ebrahim Azizi - Chủ tịch Ủy ban An ninh quốc gia của Quốc hội Iran - cũng đăng tải trên X việc Mỹ hoãn tấn công là do ông Trump nhận ra bất kỳ hành động nào nhằm vào Iran sẽ "đối mặt phản ứng quân sự quyết liệt".
Điện Kremlin thông báo chuyến thăm của Tổng thống Vladimir Putin đến Trung Quốc sẽ diễn ra ngày 19-20/5. Phái đoàn tháp tùng ông bao gồm các bộ trưởng, quan chức hàng đầu của Điện Kremlin, người đứng đầu các tập đoàn và ngân hàng nhà nước, trong đó có Thống đốc Ngân hàng Trung ương Elvira Nabiullina.
Tổng thống Putin sẽ gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh, tiến hành hội đàm riêng và mở rộng về "các vấn đề quan trọng và nhạy cảm nhất" trong quan hệ song phương, đồng thời thảo luận "những vấn đề toàn cầu cấp bách nhất" khi dự tiệc trà.
Dự kiến có khoảng 40 thỏa thuận song phương được ký kết, trong đó có tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Yury Ushakov, trợ lý chính sách đối ngoại của Tổng thống Nga, cho biết hai lãnh đạo cũng dự kiến thông qua tuyên bố riêng về thúc đẩy "thế giới đa cực" và "kiểu quan hệ quốc tế mới" .
Ông Putin được cho là sẽ gặp gỡ nhiều quan chức Trung Quốc, trong đó có hội đàm với Thủ tướng Lý Cường, với nội dung tập trung vào các vấn đề thương mại và kinh tế.
Trong bài phát biểu qua video ngày 18/5, lãnh đạo Nga cho biết tình hữu nghị giữa Moskva và Bắc Kinh không nhằm chống lại bất kỳ ai, mà hướng tới hòa bình và thịnh vượng toàn cầu.
Theo ông, quan hệ Nga - Trung đã đạt đến "mức độ chưa từng có" về sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau. Hai nước sẵn sàng hợp tác trên cơ sở các nguyên tắc cùng có lợi và bình đẳng, ủng hộ lẫn nhau trong "các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích cốt lõi, bao gồm bảo vệ chủ quyền và thống nhất quốc gia".
Ông nhấn mạnh Nga và Trung Quốc đang tích cực mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và quốc phòng, thêm rằng mối liên hệ giữa Moskva và Bắc Kinh đang đóng "vai trò ổn định" trong quan hệ toàn cầu.
Quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung được xây dựng trong suốt 25 năm kể từ khi hai nước ký Hiệp ước Láng giềng Hữu nghị.
Trung Quốc hiện là đồng minh quan trọng nhất của Nga. Các linh kiện điện tử do Trung Quốc sản xuất có vai trò quan trọng đối với ngành công nghiệp quốc phòng Nga. Là khách hàng mua dầu lớn nhất, Trung Quốc cung cấp nguồn doanh thu then chốt cho Nga trong bối cảnh nền kinh tế nước này gặp nhiều áp lực do xung đột Ukraine.
Chuyến thăm của ông Putin diễn ra vài ngày sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc. Đây là lần đầu Trung Quốc đón tiếp lãnh đạo hai cường quốc trong cùng một tháng, phản ánh nỗ lực của Bắc Kinh nhằm xử lý quan hệ với cả hai bên và định vị bản thân như một cường quốc trung tâm giữa bối cảnh trật tự thế giới ngày càng chia rẽ.
Quan chức Điện Kremlin bác bỏ đồn đoán rằng thời điểm chuyến thăm của ông Putin liên quan đến các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc, khẳng định quá trình chuẩn bị cho sự kiện đã bắt đầu ngay sau cuộc điện đàm giữa lãnh đạo hai nước hồi tháng 2.
"Người dân Israel đã mua hàng trăm nghìn vé máy bay để tận hưởng kỳ nghỉ hè. Chúng tôi cam kết cho phép các chuyến bay thương mại diễn ra và không hủy bất cứ vé nào vì máy bay tiếp dầu Mỹ", Bộ trưởng Giao thông và An toàn Đường bộ Israel Miri Regev nói ngày 14/7.
Bà Regev tuyên bố Israel sẽ cho phép không quá 20 máy bay tiếp dầu Mỹ hiện diện ở sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv theo thỏa thuận từ trước. Số phi cơ còn lại sẽ phải di chuyển đến các căn cứ không quân Israel.
Sân bay Ben Gurion là cơ sở hàng không chủ chốt và đông đúc nhất của Israel, có năng lực tiếp nhận 25 triệu hành khách mỗi năm. Trong giai đoạn cao điểm mùa hè, mỗi ngày sân bay có thể xử lý khoảng 70.000-90.000 hành khách.
Phi đội bay dầu Mỹ, gồm 9 chiếc KC-46 Pegasus và 5 máy bay KC-135, đáp xuống sân bay Ben Gurion vài ngày trước khi xung đột Trung Đông bùng phát hồi tháng 2. Lượng máy bay tiếp dầu và vận tải cơ Mỹ hiện diện ở đây đã tăng lên đáng kể từ đó.
Times of Israel cho biết 75 máy bay tiếp dầu và vận tải cơ Mỹ đã đóng quân tại sân bay Ben Gurion trong nhiều tháng. Nhiều máy bay tiếp dầu đã rời đi, nhưng vẫn còn khoảng 30 phi cơ loại này đang có mặt tại sân bay, cản trở hoạt động của máy bay dân sự và gây tình trạng thiếu bãi đỗ.
Một số nguồn tin cho biết các quan chức Mỹ và Israel rất tức giận về quyết định của Bộ trưởng Regev. 3 chuyên gia ngày 15/7 cho biết hạn chế số lượng phi cơ tiếp dầu tại sân bay Ben Gurion sẽ gây ra vấn đề lớn cho lực lượng Mỹ.
Không quân Mỹ có thể bố trí hàng chục chiếc KC-135 và KC-46 tại loạt căn cứ ở Israel và Trung Đông. Tuy nhiên, các cơ sở nằm gần Iran đã bị tập kích dữ dội trong 6 tuần xung đột, trong đó ít nhất 5 máy bay tiếp dầu Mỹ đã bị hư hại trong đòn tấn công nhằm vào căn cứ Prince Sultan ở Arab Saudi hồi tháng 3.
Hoạt động từ trung tâm hậu cần Al Udeid ở Qatar cũng trở nên bất khả thi do nguy cơ hứng đòn từ vũ khí tầm xa của Iran. Trong khi đó, các căn cứ như Muwaffaq Salti ở Jordan quá chật chội và không còn nhiều chỗ cho hàng chục máy bay tiếp dầu Mỹ.
Đại tá Tim Hawkins, phát ngôn viên Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM) phụ trách hoạt động của quân đội Mỹ tại Trung Đông, cho biết cơ quan này "sẽ tiếp tục làm việc với các đối tác Israel để bố trí máy bay quân sự một cách tốt nhất nhằm hỗ trợ chiến dịch". Ông ca ngợi Israel và từ chối cung cấp thêm thông tin chi tiết.
Một cựu quan chức không quân Mỹ thừa nhận vận hành máy bay quân sự từ sân bay dân sự đã gây ra nhiều căng thẳng. Tuy nhiên, Ben Gurion được đánh giá là một trong những sân bay quan trọng nhất tại khu vực cả về mặt địa lý lẫn hệ thống phòng không bảo vệ.
Cựu quan chức này nhận định hạn chế liên quan sân bay Ben Gurion chưa ảnh hưởng đến chiến dịch tấn công Iran, cũng như hoạt động hỗ trợ các đối tác của Mỹ trong khu vực. CENTCOM và không quân Mỹ sẽ xem xét đường băng, bãi đỗ và khả năng cung cấp thiết bị tại những cơ sở khác để giải quyết vấn đề.
Một quan chức cấp cao của Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) cho biết Ben Gurion là sân bay quốc tế quy mô lớn duy nhất của Israel, đồng thời là cơ sở an toàn nhất trong khu vực đối với máy bay quân sự Mỹ.
"Sân bay Haifa và Ramon chỉ xử lý một phần rất nhỏ lưu lượng hàng không dân dụng của Israel. Ben Gurion có thể chứa khoảng 20 máy bay tiếp dầu của Mỹ. Vượt quá con số này sẽ gây tác động đáng kể lên hàng không dân dụng của Israel", người này cho hay.