Sáng 24.4, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì Hội nghị toàn quốc về đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Hội nghị đã tập trung làm rõ các khó khăn, vướng mắc, “điểm nghẽn” trong giải ngân vốn đầu tư công.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao là trên 1 triệu tỉ đồng, chiếm gần 35,5% tổng chi ngân sách nhà nước, cao hơn năm 2025 (30,6%). Hết quý 1/2026, giải ngân vốn đầu tư công đạt 11% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tăng so với cùng kỳ năm 2025 (9,7%).
Thủ tướng Lê Minh Hưng biểu dương, ghi nhận, đánh giá cao 7 bộ, cơ quan và 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt cao hơn mức bình quân chung cả nước; nghiêm khắc phê bình 28 bộ, cơ quan và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung cả nước.
Theo Thủ tướng, nguyên nhân giải ngân chậm có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, vì cùng một mặt bằng pháp lý, có bộ, ngành, địa phương giải ngân tốt nhưng có bộ, ngành, địa phương giải ngân chậm.
Cạnh đó, kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm, việc triển khai thực hiện chỉ đạo của Chính phủ có lúc, có nơi chưa nghiêm túc, kịp thời.
Một số bộ, cơ quan, địa phương còn chưa chủ động, quyết liệt, thiếu kiểm tra đôn đốc, thiếu quyết tâm chính trị, thậm chí còn tâm lý chờ đợi, né tránh, sợ trách nhiệm; vai trò người đứng đầu chưa được phát huy ở mức cao nhất.
Giải phóng mặt bằng ở một số địa phương còn chậm, thiếu quyết liệt; nguồn cung cấp nguyên vật liệu xây dựng còn thiếu chưa được xử lý, khắc phục kịp thời; giá nguyên nhiên vật liệu, chi phí nhân công biến động trong khi việc hướng dẫn điều chỉnh chưa kịp thời…
Thủ tướng cho biết thêm, việc xử lý các vấn đề khó khăn, vướng mắc đang được triển khai rất quyết liệt. Ngày 9.4, Thường trực Đảng ủy và Thường trực Chính phủ đã họp về các dự án tồn đọng kéo dài. Sau khi báo cáo Bộ Chính trị và trình Quốc hội, đến ngày 24.4, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
“Những việc khó, hóc búa, phức tạp như vậy, chúng ta có thể xử lý được rất nhanh thì tại sao những việc liên quan triển khai các dự án lại không đẩy nhanh được tiến độ. Vẫn những công việc đó nhưng nếu không có quyết tâm cao, không chỉ đạo sát sao, quyết liệt thì không thực hiện được”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Chỉ đạo các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tiếp tục đề cao trách nhiệm người đứng đầu; thay thế ngay ban quản lý dự án, nhà tư vấn, nhà thầu, những cán bộ, công chức, viên chức yếu kém, hạn chế về năng lực chuyên môn và trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu.
Đồng thời, làm tốt hơn nữa công tác chuẩn bị đầu tư, nhất là việc lựa chọn dự án đầu tư thực sự cần thiết, hiệu quả… Kiên quyết loại bỏ việc đăng ký dự án mang tính chất “giữ chỗ”, tình trạng “vốn chờ dự án”.
Đến hết ngày 10.5, bộ, cơ quan, địa phương nào chưa phân bổ hết thì phải có văn bản báo cáo rõ lý do, nguyên nhân, trách nhiệm tập thể, cá nhân, gửi Bộ Tài chính trước ngày 15.5. Bộ Xây dựng và các địa phương khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư, nhất là tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải khẩn trương chỉ đạo rà soát hoàn thành ngay trong quý 2/2026 quy hoạch các mỏ nguyên vật liệu để đảm bảo đủ nguyên vật liệu cho các dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; khẩn trương tháo gỡ khó khăn liên quan đến cấp phép mỏ đá, cát, đất; thu hồi các mỏ nếu có sai phạm, thực hiện không đúng.
“Nếu địa phương không bố trí đủ nguồn nguyên vật liệu cho các dự án thì Bộ Tài chính báo cáo điều chuyển vốn, khi nào cam kết có đủ nguyên vật liệu trên địa bàn thì bố trí vốn”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Về biến động giá vật liệu, Thủ tướng giao Bộ Xây dựng theo thẩm quyền và báo cáo, đề xuất giải pháp điều hành phù hợp với tình hình thực tế nếu vượt thẩm quyền; hướng dẫn cụ thể về phương thức điều chỉnh giá hợp đồng, hoàn thành trước 10.5.2026.
Trả lời báo chí, Chủ tịch Hội Người Việt Nam toàn Thái Lan Hồ Văn Lâm cho biết, chuyến thăm chính thức tới Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và bà con kiều bào tại Thái Lan nói riêng.
Ông Lâm khẳng định, đối với cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan, chuyến thăm không chỉ là niềm vinh dự, niềm tự hào mà còn là nguồn động viên to lớn để kiều bào tiếp tục giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết, hướng về quê hương đất nước và đóng góp nhiều hơn nữa cho quan hệ hữu nghị Việt Nam - Thái Lan.
"Tôi tin rằng chuyến thăm sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội hợp tác giữa các địa phương, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và tổ chức nhân dân hai nước. Đồng thời, đây cũng là dịp để cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan tiếp tục phát huy vai trò cầu nối nhân dân, góp phần củng cố tình cảm gắn bó và sự tin cậy giữa hai dân tộc", ông Lâm chia sẻ.
Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan là một cộng đồng có lịch sử hình thành lâu đời, luôn đoàn kết, chăm chỉ làm ăn, chấp hành tốt pháp luật sở tại và có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan.
Chủ tịch Hội Người Việt Nam toàn Thái Lan khẳng định, bà con hiện nay không chỉ thành công trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, giáo dục mà còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, góp phần xây dựng hình ảnh đẹp của cộng đồng người Việt trong lòng nhân dân Thái Lan.
Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan luôn là cầu nối quan trọng vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Thông qua các hoạt động giao lưu văn hoá, gìn giữ tiếng Việt, quảng bá văn hoá Việt Nam, cũng như thúc đẩy hợp tác kinh tế, giáo dục và du lịch, bà con đã góp phần tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và gắn bó giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan.
"Có thể nói, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan hôm nay vừa là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, vừa là nhịp cầu hữu nghị góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường giữa hai nước", ông Lâm khẳng định.
Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang phát triển rất tốt đẹp, ông Hồ Văn Lâm cho biết, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan mong muốn hai nước tiếp tục thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn nữa trên nhiều lĩnh vực.
Trước hết là hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước kết nối, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết chuỗi cung ứng trong khu vực.
Bên cạnh đó, cộng đồng cũng rất mong hai nước tăng cường hợp tác về giáo dục, đào tạo, giao lưu thanh niên và bảo tồn văn hoá. Việc thúc đẩy giảng dạy tiếng Việt, tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật sẽ góp phần giúp thế hệ trẻ kiều bào hiểu hơn về cội nguồn dân tộc, đồng thời tăng cường sự gắn kết giữa nhân dân hai nước.
Ngoài ra, bà con cũng kỳ vọng hai nước tiếp tục quan tâm hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan về các vấn đề pháp lý, quốc tịch, bảo tồn các khu di tích gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan, cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao lưu du lịch, hàng không và kết nối địa phương.
"Chúng tôi tin tưởng rằng, với nền tảng hữu nghị bền chặt và sự quan tâm của lãnh đạo hai nước, quan hệ Việt Nam - Thái Lan sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới", Chủ tịch Hội Người Việt Nam toàn Thái Lan cho biết.
Chiều 21.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cùng một số bộ, ban, ngành liên quan về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu ở Việt Nam.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, nhìn tổng thể Việt Nam không thiếu tài nguyên, không thiếu nhu cầu.
Song, thiếu lớn nhất là công nghệ lõi, năng lực chế biến sâu, doanh nghiệp đầu đàn, hệ sinh thái nghiên cứu - thử nghiệm - kiểm định - thương mại hóa và một chiến lược tích hợp đủ mạnh để tổ chức chuỗi giá trị vật liệu quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 5 quan điểm lớn gồm xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, cần tổ chức theo 3 tầng (vật liệu nền cần giữ vững, nâng cấp, vật liệu chiến lược cần tập trung đột phá, vật liệu tương lai cần chuẩn bị từ sớm).
Thứ ba, chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
Thứ tư, lấy khoa học - công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp Việt Nam làm trụ cột phát triển.
Thứ năm, phát triển công nghiệp vật liệu theo hướng xanh, bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, phù hợp cam kết quốc tế nhưng bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, ban hành trong thời gian sớm nhất.
Chiến lược phải thể hiện tư duy dài hạn, số liệu chắc, mục tiêu rõ, lộ trình khả thi, phân công trách nhiệm rõ; phải trả lời được: phát triển nhóm vật liệu nào, vì sao lựa chọn, làm chủ đến mức nào, ở khâu nào, cơ quan nào chủ trì, doanh nghiệp nào dẫn dắt, nguồn lực ở đâu, chính sách gì cần ban hành, tiêu chí nào đánh giá kết quả.
Trên cơ sở đó, xây dựng danh mục vật liệu chiến lược quốc gia, bản đồ phụ thuộc nhập khẩu, bản đồ năng lực trong nước và danh mục nhiệm vụ, dự án trọng điểm...
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trước mắt có thể lựa chọn 5 nhóm ưu tiên gồm vật liệu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, vật liệu xây dựng thế hệ mới. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng và cần được đánh giá kỹ trong chiến lược để lựa chọn đúng trọng tâm, đúng lộ trình, đúng cơ chế hỗ trợ.
Phải phát triển bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, tăng sử dụng vật liệu xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tài nguyên, vật liệu thay thế, vật liệu tái chế, giảm phát thải.
Phải bảo đảm nguồn cung cát, đá, vật liệu san lấp, xi măng, thép cho đầu tư công, giao thông, đô thị, năng lượng và nhà ở, công bố giá kịp thời, minh bạch...
Các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo rà soát tiềm năng, trữ lượng, hiện trạng khai thác, công nghệ chế biến, rủi ro môi trường và khả năng hình thành chuỗi giá trị với đất hiếm, bauxite, titan, vonfram, graphit, cát trắng, đá vôi và các khoáng sản quan trọng khác.
Mục tiêu là không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường, đồng thời không để nguồn lực nằm im vì thiếu chính sách, công nghệ hoặc phối hợp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, kiên trì chuyển từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng trong nước..
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tiếp thu, hoàn thiện báo cáo trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Từ đó, tạo cơ sở để Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.
Thông tin trên thể hiện trong Nghị quyết số 16 về việc xây dựng và triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" trên địa bàn thành phố do Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng ký, ban hành ngày 8.7.
Theo nghị quyết, việc triển khai thí điểm tại 2 xã Phúc Thịnh và Thư Lâm nhằm bảo đảm có "trọng tâm, trọng điểm", phù hợp với định hướng tổ chức không gian phát triển, điều kiện hạ tầng, tiềm năng phát triển, năng lực quản trị và mức độ sẵn sàng đổi mới của hệ thống chính trị cơ sở.
Trong nghị quyết, Thành ủy Hà Nội yêu cầu, việc thí điểm phải gắn với chuẩn bị đồng bộ điều kiện về hạ tầng, dữ liệu, nhân lực, phương thức vận hành và cơ chế phối hợp liên ngành, bảo đảm 2 địa bàn có khả năng vận hành thực chất, hiệu quả…
Cạnh đó, cần bổ sung đánh giá tác động toàn diện với địa bàn thí điểm, làm rõ các thuận lợi, khó khăn, yêu cầu về nguồn lực, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu, năng lực quản trị và các điều kiện bảo đảm thực hiện. Đồng thời, nghiên cứu kỹ tác động liên vùng, thiết lập cơ chế phối hợp giữa địa bàn thí điểm với các xã, phường lân cận.
Đối với 124 xã, phường còn lại, Thành ủy Hà Nội yêu cầu tổ chức hướng dẫn, áp dụng các tiêu chí phù hợp theo từng nhóm địa bàn; làm rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, mức độ áp dụng và cơ chế đánh giá, bảo đảm các địa bàn chủ động rà soát, đăng ký, phấn đấu theo bộ tiêu chí, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn, không chờ đợi, không áp dụng máy móc, không làm hình thức.
Thành ủy Hà Nội cho biết, việc xây dựng và triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" trên địa bàn nhằm kiểm nghiệm, cụ thể hóa trong thực tiễn các giá trị, mục tiêu, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam ở cấp cơ sở; hình thành mô hình quản trị và phát triển xã, phường hiện đại, phục vụ minh bạch, hiệu quả.
Cạnh đó, việc triển khai nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân; nâng cao chất lượng sống, sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời từng bước hoàn thiện tiêu chí, cơ chế, chính sách, phương thức tổ chức thực hiện để nhân rộng trên phạm vi toàn thành phố.
Nghị quyết nhấn mạnh, việc hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết để triển khai xây dựng mô hình trong bối cảnh đây là mô hình thí điểm, chưa có tiền lệ, chưa có khuôn khổ pháp lý đầy đủ.
Do đó, cần xây dựng cơ chế thí điểm có kiểm soát với các nội dung mới như tổ chức lại không gian phát triển, mô hình quản trị xã, phường phục vụ, cơ chế tham gia của người dân, đo lường chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc.
Cạnh đó, hoàn thiện các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý kiến nghị của người dân.
Thành ủy Hà Nội lưu ý cần bám sát quy định của luật Thủ đô 2026 để nghiên cứu cơ chế đặc thù về tái định cư, giải phóng mặt bằng, chỉnh trang các khu dân cư nhỏ lẻ, tổ chức lại không gian phát triển; đồng thời nghiên cứu cơ chế để lại nguồn thu, tăng tính chủ động, tự chủ và khả năng huy động nguồn lực cho địa bàn thí điểm.
Trong nghị quyết, Thành ủy Hà Nội yêu cầu trong năm 2026 tập trung hoàn thiện, ban hành đề án; xây dựng kế hoạch triển khai và xác định các nhiệm vụ.
Giai đoạn 2027 - 2030 tổ chức triển khai đồng bộ tại địa bàn thí điểm. Năm 2030 tổ chức sơ kết, đánh giá kết quả thí điểm làm cơ sở xem xét mở rộng, nhân rộng mô hình trong giai đoạn tiếp theo.
Ở giai đoạn 2031 - 2035 sẽ tiếp tục triển khai, hoàn thiện mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa", đồng thời mở rộng với các địa bàn đủ điều kiện. Đến năm 2030, tổ chức tổng kết, đánh giá toàn diện kết quả, tính khả thi làm cơ sở báo cáo cấp có thẩm quyền nhân rộng mô hình trên phạm vi toàn quốc.