Đối với Taliban, sự hiện diện chính thức và trực tiếp trên lãnh thổ EU tuy chưa phải là bằng chứng về sự công nhận ngoại giao chính thức nhưng là bước tiến rất quyết định trên con đường hướng tới cái đích ấy.
Đối với EU, việc đón tiếp phái bộ Taliban trên là sự khởi đầu của việc dần buông bỏ điều cấm kỵ lâu nay là không công nhận về ngoại giao đối với chính thể Taliban ở Afghanistan. EU giờ phải chủ động tiến bước về phía Taliban bởi tình thế buộc họ phải thức thời. Phải chấp nhận buông bỏ điều cấm kỵ thì EU mới có thể giải quyết được 2 vấn đề đang đặt ra liên quan đến Taliban.
Thứ nhất là hồi hương người Afghanistan tị nạn ở các nước thành viên EU kể từ khi Taliban trở lại cầm quyền. Tại hơn 20 trong tổng số 27 thành viên EU, người tị nạn Afghanistan đã trở thành vấn đề đối nội nan giải và nhạy cảm, khiến chính trường cũng như xã hội bị phân rẽ sâu sắc.
EU đã đề ra và vận dụng một số biện pháp nhưng cho tới nay đều chưa thành công. EU bây giờ có lẽ hiểu rằng chỉ khi hợp tác với Taliban thì mới có thể hồi hương những người tị nạn này. Taliban nắm được lợi thế này nên buộc EU phải “có lại” cái Taliban hiện cần nhất là sự công nhận ngoại giao.
Vấn đề thứ hai là EU phải gây dựng cầu quan hệ với Taliban để không chậm chân và tụt hậu trong bối cảnh nhiều đối tác khác, như Trung Quốc, Nga và Ấn Độ, tăng cường tranh thủ Taliban vào quỹ đạo ảnh hưởng của họ. Để giải quyết được cả hai vấn đề này, EU buộc phải thức thời trong quan hệ với Taliban.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại đây, UAV, robot và các hệ thống tác chiến điện tử liên tục được cải tiến ngay giữa chiến trường với tốc độ gần như theo thời gian thực.
Thông qua chương trình “Thử nghiệm ở Ukraine” do nhà nước Ukraine hậu thuẫn và bắt đầu từ mùa hè năm ngoái, hàng trăm công ty quốc tế đã nộp đơn đưa các sản phẩm quốc phòng vào Ukraine để thử nghiệm trong điều kiện chiến đấu thực tế và nhận phản hồi trực tiếp từ binh sĩ Ukraine.
Ông Andrii Hrytseniuk, Giám đốc điều hành nền tảng đổi mới quốc phòng Brave1 của Ukraine, nói rằng hiện có hàng chục công ty đang thử nghiệm hệ thống của họ tại Ukraine, bao gồm cả ngoài chiến trường. Theo ông, số lượng công ty quan tâm đang tiếp tục tăng, từ các tập đoàn quốc phòng lớn đến những startup nhỏ.
Kể từ khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine năm 2022, Ukraine đã trở thành một “phòng thí nghiệm tác chiến UAV” quy mô lớn, đồng thời phát triển nhanh năng lực về robot và hệ thống tự động hóa. Điều này khiến các quân đội phương Tây đặc biệt quan tâm nghiên cứu.
“Đây là quốc gia số một thế giới về sử dụng UAV”, ông Hrytseniuk nói.
Chương trình “Thử nghiệm ở Ukraine” bắt đầu từ tháng 7/2025, mở cửa cho các công ty sản xuất UAV, vũ khí chống UAV, xuồng không người lái (USV), robot mặt đất không người lái cùng các công nghệ quân sự khác như trí tuệ nhân tạo (AI) và tác chiến điện tử.
Các công ty quốc phòng nước ngoài được cấp phép có thể thử nghiệm công nghệ tại thao trường mô phỏng điều kiện chiến đấu hoặc để phía Ukraine trực tiếp tiến hành thử nghiệm. Brave1 sau đó sẽ kết nối họ với binh sĩ có kinh nghiệm chiến trường để đưa ra khuyến nghị cải tiến. Một số công ty còn nhận được dữ liệu và phản hồi từ tiền tuyến.
Quá trình này giúp các doanh nghiệp có thể quảng bá rằng sản phẩm của họ đã được thử nghiệm, thậm chí “đã qua thực chiến” tại Ukraine.
Công ty khởi nghiệp Anh Occam Industries, chuyên phát triển phần mềm AI cho UAV, cho biết các hệ thống UAV châu Âu ban đầu của họ hoạt động tốt trong thử nghiệm nhưng không phù hợp với môi trường chiến trường thực tế. Sau khi được Brave1 kết nối với các nhà sản xuất Ukraine, phần mềm của Occam hiện đã được tích hợp lên UAV do Ukraine chế tạo và chuẩn bị đưa ra tiền tuyến.
Tuy nhiên, giới chức Ukraine cho rằng nhiều công ty phương Tây vẫn phát triển công nghệ quá chậm so với tốc độ thay đổi trên chiến trường. Ông Oleksii Vyskub, Thứ trưởng Quốc phòng thứ nhất của Ukraine, cho biết UAV Ukraine thường được nâng cấp chỉ sau mỗi 3 tháng trước khi quay lại chiến đấu, trong khi nhiều công ty phương Tây mất nhiều thời gian hơn để hoàn thiện sản phẩm.
Các công ty quốc phòng phương Tây không chịu áp lực thời chiến giống như Ukraine. Một số công ty đang thử nghiệm tại Ukraine nhưng lại mất nhiều tháng để hoàn thiện sản phẩm, khiến chúng có nguy cơ lỗi thời khi chiến trường tiếp tục thay đổi.
Theo ông, các công ty nước ngoài muốn theo kịp thực tế chiến sự hiện đại cần duy trì đại diện thường trực tại Ukraine để hiểu nhu cầu thay đổi liên tục của binh sĩ.
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky phát biểu tháng trước rằng Kiev “không chỉ theo kịp sự thay đổi” mà còn “nằm trong số những quốc gia dẫn đầu về phát triển công nghệ an ninh”.
“Kinh nghiệm an ninh của Ukraine và chuyên môn quân sự của chúng tôi hiện là những sản phẩm được săn đón nhất đối với hàng chục quốc gia trên thế giới”, ông nói.
Tin Gốc: Dân Trí
Thế Giới
Kỳ vọng về hợp tác Việt - Trung sau chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

"Một trong những thành quả trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là tin cậy chính trị đi vào chiều sâu hơn nữa, cho thấy rõ nét tính đặc thù và trình độ cao của quan hệ hai nước", Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ cho biết sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc ngày 14-17/4 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Đại sứ chỉ ra đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của lãnh đạo cao nhất sau khi Việt Nam kiện toàn ban lãnh đạo cấp cao sau Đại hội XIV của Đảng. Đây cũng là lần đầu tiên có nguyên thủ nước ngoài đến thăm Khu mới Hùng An, một đô thị tương lai của Trung Quốc.
Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đi đường sắt cao tốc của Trung Quốc với thời gian hơn 10 tiếng, qua 5 tỉnh với lộ trình 2.500 km. "Chuyến thăm sẽ trở thành mốc son mới trong lịch sử hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc và có ảnh hưởng sâu sắc cho quan hệ song phương lẫn khu vực", ông Hà Vĩ nói.
Sau chuyến thăm, hai bên đã ra tuyên bố chung về tiếp tục làm sâu sắc quan hệ, thúc đẩy hợp tác trên 6 lĩnh vực để phát triển tốt quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thời kỳ mới.
Đại sứ Hà Vĩ cho biết trong các tuyên bố chung giữa hai nước giai đoạn 2023-2026, cách diễn đạt cụ thể về xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có thay đổi từ xây dựng sang đẩy nhanh xây dựng và giờ là xây dựng ở mức độ cao hơn.
"Đây không phải là việc tăng thêm từ ngữ, mà cho thấy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc không ngừng đi vào chiều sâu, đồng thời cho thấy tính chính xác, ổn định và liên tục của con đường phát triển XHCN mà hai nước cùng nhau lựa chọn", ông nói.
Hợp tác chính trị, an ninh - quốc phòng
Theo Đại sứ Hà Vĩ, Việt Nam - Trung Quốc năm qua "tiếp xúc cấp cao với tần suất chưa từng có" và đã lần đầu tiên tổ chức thành công nhiều hội nghị trong cơ chế song phương, trong đó nổi bật là đối thoại chiến lược 3+3 cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Công an. "Đây là nền tảng trao đổi chiến lược quan trọng được Việt Nam và Trung Quốc khởi xướng đầu tiên trên thế giới", ông nói.
PGS. TS. Nguyễn Minh Hoàn, trưởng Khoa Triết học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đánh giá cơ chế 3+3 cấp bộ trưởng "là bước phát triển mới trong hợp tác kết nối chiến lược ở tầm cao hơn" giữa Việt Nam và Trung Quốc.
"Điều này cho thấy quan hệ song phương không còn chỉ dựa vào thiện chí chính trị hay các khuôn khổ hợp tác phân tán, mà đã chuyển sang giai đoạn được vận hành bằng những cơ chế phối hợp thực chất, đồng bộ giữa các trụ cột then chốt của nhà nước, qua đó từng bước hình thành quá trình cấu trúc hóa tin cậy như trong định hướng '6 hơn' đã đề ra", ông Hoàn cho biết.
Định hướng "6 hơn" trong quan hệ Việt - Trung bao gồm tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất hơn, hợp tác thực chất sâu sắc hơn, nền tảng xã hội vững chắc hơn, phối hợp đa phương chặt chẽ hơn và bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn.
Theo chuyên gia này, điểm mới căn bản là lần đầu tiên lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và an ninh được đặt trong cấu trúc phối hợp tổng thể, "phản ánh sự chuyển dịch từ niềm tin chính trị mang tính tuyên bố sang niềm tin được thể chế hóa và có khả năng vận hành trong thực tiễn".
Cơ chế 3+3 đóng vai trò điều tiết chiến lược, hạn chế hiểu lầm, kiểm soát căng thẳng và củng cố tin cậy chính trị theo hướng bền vững, đồng thời giải phóng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển để hai nước tập trung nhiều hơn cho các mục tiêu phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, kết nối hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực.
Hợp tác đường sắt thành điểm tựa then chốt
Trong tuyên bố chung được công bố sau chuyến thăm, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, đưa hợp tác đường sắt trở thành điểm sáng mới trong hợp tác chiến lược giữa hai nước.
Đại sứ Hà Vĩ nhận định Việt - Trung đã đạt thành quả hợp tác thực chất nhiều chưa từng có, với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt kỷ lục mới, vượt 250 tỷ USD. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất, cũng như thị trường xuất khẩu lớn nhất của hàng nông sản và thủy sản Việt Nam.
Số lượng và quy mô đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam tiếp tục giữ vị trí số một và số hai, nhiều dự án hợp tác kết nối hạ tầng như ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối hai nước: Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Đồng Đăng - Hà Nội, và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng được thúc đẩy.
Theo Đại sứ, tiêu chuẩn đường sắt của Việt Nam và Trung Quốc có sự khác biệt, phần nào hạn chế phát triển giao thương, thương mại và đi lại giữa hai nước. Do đó, hai nước nhất trí đưa việc thúc đẩy kết nối đường sắt hai nước thành đột phá chiến lược trong hợp tác kinh tế - thương mại để giải quyết bài toán khó này.
"Kết nối đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là kết nối vật lý về hạ tầng, mà còn là điểm tựa then chốt trong xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai", Đại sứ nhận định. "Điều này sẽ giúp tăng hiệu suất vận chuyển xuyên biên giới, nâng cao chất lượng giao thương và thương mại, giúp người dân đi lại thuận lợi và tạo ra liên kết 'núi sông liền một dải' thật sự".
Hoạt động hợp tác trên lĩnh vực này còn có thể giúp Việt Nam hoàn thiện mạng lưới đường sắt, nâng cao giá trị trong chuỗi sản xuất - cung ứng toàn cầu, đồng thời mang ý nghĩa quan trọng trong tăng cường tính bền vững của nền kinh tế tại khu vực và an ninh của chuỗi sản xuất - cung ứng.
"Dự án ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn là trọng tâm xây dựng đường sắt xuyên biên giới và hệ thống liên vận nhiều phương thức của hai nước", Đại sứ nói. "Hai bên cũng nỗ lực nâng cấp, xây dựng cửa khẩu thông minh, giảm thời gian và thực hiện thông quan 24/7, nâng cao hiệu suất phối hợp của chuỗi sản xuất - cung ứng".
Ông Hà Vĩ cho biết trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tìm hiểu sâu sát về tình hình phát triển của từng khu vực ở Trung Quốc và đường sắt cao tốc, đồng thời đánh giá cao sự phát triển cùng công nghệ của Trung Quốc trong lĩnh vực này. "Chúng tôi cảm nhận được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đang kỳ vọng rất cao về thúc đẩy hợp tác đường sắt cao tốc giữa hai nước", ông nói.
Cân bằng cán cân thương mại
Quy mô thương mại Việt - Trung trong một thập kỷ qua đã có bước nhảy vọt. Tính đến năm 2025, kim ngạch song phương đạt 256,5 tỷ USD, gấp gần 4 lần so với năm 2015 (xấp xỉ 66,2 tỷ USD), củng cố vị thế Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.
Về tình trạng xuất siêu sang Việt Nam, Đại sứ Hà Vĩ cho rằng Trung Quốc cũng từng trải qua tình trạng nhập siêu tương tự trong quá trình phát triển nhanh chóng nhiều thập kỷ trước.
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 70,4 tỷ USD sang Trung Quốc, nhập khẩu 186 tỷ USD.
"Chúng tôi hiểu xuất siêu không phải hình thức hợp tác bền vững, cũng như không muốn thúc đẩy xu hướng này", ông Hà Vĩ nói. "Trung Quốc sẽ cố gắng giảm mức độ xuất siêu sang Việt Nam, đây là nhận thức và phương hướng nỗ lực chung của hai bên".
Trung Quốc gần đây đã tăng cường mua nông sản Việt Nam. Trong tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu gần 1,5 tỷ USD nông lâm thủy sản sang Trung Quốc, chiếm hơn 22% tổng kim ngạch và tăng hơn 66% so với cùng kỳ.
Bên cạnh kinh tế - thương mại, Đại sứ nhận định sau chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hợp tác khoa học - công nghệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có tiềm năng rất to lớn, trong đó hai nước sẽ tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực mới nổi như AI, y tế và năng lượng xanh.
Công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng hydrogen, đường sắt tốc độ cao, logistics thông minh và các công nghệ số phục vụ sản xuất mới là những lĩnh vực mang tính đột phá, cũng là những nút thắt nhân lực rõ nhất hiện nay.
Theo PGS. TS. Nguyễn Minh Hoàn, việc hai bên đồng thời nhấn mạnh đẩy mạnh hợp tác về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, giao lưu nhân dân "là điểm kết nối giữa hợp tác tri thức với chiến lược phát triển, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng".
Điều này mang tới triển vọng phát triển toàn diện con người, tạo ra động lực cải cách sâu rộng đối với hệ thống giáo dục Việt Nam, cũng như đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn trực tiếp với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển và hình thành các ngành công nghiệp mới.
"Khi hợp tác Việt - Trung ngày càng mở rộng sang các lĩnh vực này, nhân lực trở thành điều kiện tiên quyết để các dự án vận hành hiệu quả và tạo ra giá trị thực chất, do đó giáo dục - đào tạo không chỉ phục vụ phát triển, mà đang trực tiếp định hình con đường phát triển", ông Hoàn cho biết.
Thúc đẩy hợp tác giao lưu nhân văn
Đại sứ Hà Vĩ đánh giá nhịp độ giao lưu nhân văn giữa Việt Nam và Trung Quốc năm qua ở mức cao chưa từng có với nhiều hoạt động đa dạng. Năm 2025, lượng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam đạt 5,3 triệu lượt, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 25% tổng thị phần khách quốc tế của Việt Nam. Trung Quốc quay trở lại vị trí hàng đầu trong thị trường khách quốc tế lớn nhất của Việt Nam.
Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố khởi động năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc.
Đại sứ Hà Vĩ cho rằng ý nghĩa của năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc là thông qua du lịch thúc đẩy kinh tế - thương mại, thông qua nhân văn để củng cố tình hữu nghị truyền thống, thông qua du lịch để người dân hai nước hiểu biết và gần gũi lẫn nhau, thực sự thụ hưởng thành quả phát triển từ hợp tác du lịch.
"Năm nay, chúng ta sẽ đạt bước đột phá và vượt qua điểm nghẽn, thu hút nhiều du khách Trung Quốc đến Việt Nam và ngược lại", ông bày tỏ kỳ vọng.
PGS. TS. Hoàn, người cũng là Ủy viên thường vụ Hội hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, nhận định việc Việt Nam và Trung Quốc dự kiến nghiên cứu miễn thị thực cho du khách theo đoàn tại một số địa điểm nhất định sẽ giúp giảm rào cản hành chính và chi phí đi lại, qua đó mở rộng đáng kể quy mô và tần suất tiếp xúc giữa người dân hai nước.
"Hiểu biết giữa các dân tộc không thể chỉ được hình thành qua truyền thông hay diễn ngôn chính trị, mà phải được nuôi dưỡng từ trải nghiệm thực tế, từ giao tiếp đời sống. Chính sách này giúp các nền tảng trên thấm sâu vào đời sống nhân dân, hình thành những dòng suối nhỏ góp phần cho dòng sông lớn hữu nghị lâu dài", ông nói.
Bên cạnh đó, chính sách miễn thị thực có tác động trực tiếp đối với giáo dục - đào tạo, giúp các chương trình trao đổi sinh viên, thực tập ngắn hạn, nghiên cứu chung và giao lưu học thuật giữa các cơ sở đào tạo hai nước sẽ có điều kiện phát triển linh hoạt và thực chất hơn.
"Khi nền tảng xã hội và nền tảng thể chế cùng được củng cố, cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc mới có thể trở thành một thực thể có chiều sâu chiến lược và sức sống lâu dài", ông Hoàn nhận định.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Washington Post: Mỹ tốn hơn 1/2 kho tên lửa THAAD để bảo vệ Israel trước Iran

Theo báo Washington Post ngày 21-5, các nguồn tin cho biết Mỹ đã sử dụng hơn một nửa kho tên lửa đánh chặn THAAD để bảo vệ Israel trước các cuộc tấn công của Iran trong cuộc chiến gần đây.
Washington đã phóng hơn 200 tên lửa đánh chặn THAAD cùng hơn 100 tên lửa SM-3 và SM-6 để hỗ trợ phòng thủ, trong khi phía Israel dùng chưa tới 100 tên lửa Arrow và khoảng 90 tên lửa thuộc hệ thống David's Sling - theo dữ liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ.
Một quan chức Mỹ cho rằng nếu xung đột với Iran bùng phát trở lại, Washington có thể phải dùng nhiều tên lửa đánh chặn hơn nữa do Israel đã đưa một số tổ hợp phòng thủ tên lửa đi bảo trì.
Đáng chú ý người này còn nhận định: "Israel không đủ khả năng tự mình chiến đấu và giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh, nhưng hầu như không ai biết điều này vì họ không nhìn thấy mặt hậu cần phía sau".
Tuy nhiên Lầu Năm Góc bác bỏ lo ngại về việc Mỹ phải gánh phần lớn chi phí phòng thủ cho Israel, khẳng định tên lửa đánh chặn "chỉ là một phần trong mạng lưới phòng thủ quy mô lớn của hai nước".
Về phía Israel, đại sứ quán nước này tại Washington nhấn mạnh: "Mỹ không có đối tác nào khác có cùng ý chí quân sự, mức độ sẵn sàng, lợi ích chung và năng lực như Israel".
Trước đó Israel nhiều lần phủ nhận thông tin nước này đang cạn kiệt tên lửa đánh chặn. Tháng trước Tel Aviv đã thông qua kế hoạch tăng tốc sản xuất tên lửa Arrow.
Israel hiện vận hành hệ thống phòng không nhiều tầng, trong đó Arrow 2 có thể đánh chặn mục tiêu trong và ngoài khí quyển, còn Arrow 3 chuyên đánh chặn ngoài khí quyển Trái đất. Mỗi tên lửa Arrow 3 được ước tính trị giá khoảng 2-3 triệu USD và mất vài tháng để sản xuất.
Theo giới chức Israel, chiến dịch quân sự phối hợp với Mỹ nhằm làm suy yếu năng lực quân sự của Iran, đặc biệt là chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Tehran.
Dù vậy báo cáo gần đây của Đài CNN cho biết khoảng 2/3 số bệ phóng tên lửa của Iran có thể vẫn còn tồn tại, trong khi nước này vẫn sở hữu hàng nghìn máy bay không người lái (drone) - tương đương khoảng 50% năng lực drone trước chiến sự.
Đồng thời tình báo Mỹ đánh giá rằng Iran đang tái thiết nền công nghiệp quân sự nhanh hơn nhiều so với dự đoán ban đầu, thậm chí đã nối lại một phần hoạt động sản xuất drone, trong thời gian ngừng bắn kéo dài sáu tuần từ đầu tháng 4.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

