Chiều 9/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao quyết định bổ nhiệm thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với các ông, bà: Nguyễn Hải Trâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao; Nguyễn Văn Cường, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; Lê Hưng Dũng, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Cùng nhận quyết định có ông Lê Thanh Phong, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Chánh án Tòa án nhân dân TP HCM; Đỗ Mạnh Tăng, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Hải Thanh, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; Nguyễn Hữu Tuyến, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị; Đỗ Thị Hải Yến, thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra về dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Bà Nguyễn Hải Trâm, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được bổ nhiệm giữ chức Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Phát biểu tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc kiện toàn đội ngũ thẩm phán và bổ sung lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp trong giai đoạn phát triển mới.
Ông yêu cầu mỗi thẩm phán phải giữ vững bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; thực sự độc lập trong xét xử, chỉ tuân theo pháp luật, không để bất kỳ áp lực nào chi phối hoạt động xét xử, không để lợi ích cá nhân hay quan hệ riêng tư ảnh hưởng đến sự công tâm, khách quan của phán quyết.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước nhấn mạnh mỗi bản án, quyết định phải đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý, có sức thuyết phục và có tác dụng giáo dục, định hướng xã hội; đồng thời “tuyệt đối không để xảy ra oan, sai”, bởi mỗi sai sót không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với công lý.
Tòa án nhân dân tối cao phát huy vai trò bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và tham gia hoàn thiện thể chế; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ tòa án trong sạch, liêm chính, kỷ cương, kiên quyết phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp.
Ông lưu ý người thẩm phán phải nắm chắc pháp luật, sâu sát thực tiễn, tinh thông nghiệp vụ, có tư duy pháp lý sắc bén, có tầm nhìn hệ thống, là tấm gương về đạo đức, liêm chính, bản lĩnh và trách nhiệm; mỗi phán quyết phải góp phần bảo vệ công lý, lẽ phải và củng cố niềm tin của nhân dân vào pháp luật.
Tòa án nhân dân tối cao hiện do ông Nguyễn Văn Quảng làm Chánh án, có 6 Phó chánh án và 23 thẩm phán.
Vũ Tuân
Nguồn: https://vnexpress.net/toa-an-nhan-dan-toi-cao-co-them-8-tham-phan-5060592.html

Phát biểu kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ việc tổng kết là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận, thực tiễn, chính trị, tư tưởng và tổ chức; thể hiện trách nhiệm của Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản VN trong giai đoạn 100 năm đầu tiên ra đời và lãnh đạo đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng VN, không phải là kể lại các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian. Điều quan trọng là phải trả lời được những câu hỏi lớn: vì sao Đảng ta có thể lãnh đạo dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử, đạt được những thành tựu vĩ đại; đâu là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng VN; nếu không phải là Đảng Cộng sản VN, nếu không phải là Bác Hồ lãnh đạo đất nước trong giai đoạn đó thì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước có thành công rạng rỡ như ngày hôm nay không; những bài học có tính quy luật nào cần được đúc rút, kế thừa và phát triển trong giai đoạn mới; những hạn chế, khuyết điểm nào cần được nhìn thẳng, nói rõ, đánh giá khách quan để sửa chữa và khắc phục; đâu là tầm nhìn phát triển của đất nước trong 100 năm tới; những trụ cột nào bảo đảm cho sự vững bền của Đảng, sự trường tồn của dân tộc và chế độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ cần tiếp tục cụ thể hóa trong đề cương chi tiết để thể hiện được những thông điệp cốt lõi, xuyên suốt, mang tầm nhìn chiến lược bắt kịp thời đại của Đảng, nâng tầm báo cáo tổng kết trở thành một bản tuyên ngôn phát triển của Đảng ta trong kỷ nguyên mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Đề xuất cho tương lai phải dựa trên bằng chứng khoa học, dự báo xu thế và yêu cầu phát triển đất nước. Tổng kết lần này phải có chiều sâu lịch sử, có tầm cao lý luận và có sức gợi mở kiến tạo cho tương lai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trên tinh thần độc lập, khách quan, cầu thị, chọn lọc, phù hợp với điều kiện VN, tuyệt đối không rập khuôn, giáo điều, sao chép máy móc, không thay thế thực tiễn VN bằng kinh nghiệm của nước khác.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Ban Chỉ đạo và Tổ Biên tập khẩn trương rà soát, hoàn thiện phân công nhiệm vụ theo các nhóm công việc phù hợp, thực chất. Các trưởng nhóm tổng kết phải chỉ đạo, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thời hạn. Không phân công theo kiểu dàn đều cho đủ thành phần; không để chồng chéo giữa các nhóm; cũng không để bỏ sót những vấn đề quan trọng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý vừa triển khai tổng kết, vừa tuyên truyền sâu rộng. Công tác tuyên truyền phải sâu sắc, sinh động, thuyết phục, tránh khô cứng, một chiều, khẩu hiệu. Phải khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào Đảng, vào bản lĩnh, trí tuệ VN, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tương lai phát triển của đất nước; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong quá trình tổng kết phải thật sự cầu thị, khách quan, khoa học; thành tựu phải nói cho đúng, cho đủ, có sức thuyết phục. Hạn chế, khuyết điểm cũng phải nhìn thẳng, đánh giá đúng, phân tích nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan. Tổng kết để tự hào, nhưng không phải để tự mãn; tổng kết để khẳng định, nhưng không né tránh những vấn đề đặt ra. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh tinh thần là khẩn trương nhưng chắc chắn, không vội vàng; khoa học nhưng không để chậm trễ; dân chủ nhưng có kỷ luật; phân công rõ nhưng phải phối hợp chặt chẽ; kế thừa nhưng phải bổ sung, phát triển; tổng kết quá khứ nhưng hướng tới tương lai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng sẽ có một công trình đại tổng kết xứng tầm, đạt chất lượng cao, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phục vụ thiết thực cho việc hoạch định đường lối, chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Xã Vĩnh Điều giáp biên Campuchia tổng lực thoát nghèo: Có sinh kế, có mái nhà

Tại tỉnh An Giang, xã biên giới Vĩnh Điều được hình thành từ việc sáp nhập 2 xã Vĩnh Phú, Vĩnh Điều, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang (cũ). Xã có diện tích hơn 229 km2, dân số hơn 17.400 người, trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm hơn 16%.
Địa bàn xã rộng, có đường biên giới giáp 2 tỉnh Takeo và Kampot (Campuchia) dài gần 14 km. Dân cư phân bố không đồng đều, người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nên xã từng đối mặt không ít khó khăn, đặc biệt là tình trạng hộ nghèo, cận nghèo và thiếu việc làm.
Những năm gần đây, với sự quan tâm đầu tư của tỉnh An Giang cùng sự nỗ lực của địa phương và từng hộ dân, bức tranh kinh tế - xã hội xã Vĩnh Điều đã có nhiều gam màu sáng, cơ sở hạ tầng ngày càng khang trang, đời sống người dân được nâng cao. Đến đầu năm 2026, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 2,11%, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y đạt trên 89%...
Ông Nguyễn Văn Hướng, Phó chủ tịch UBND xã Vĩnh Điều, cho biết để đạt được mục tiêu này, địa phương xác định phát triển kinh tế phải gắn với giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống người dân. Năm 2026, xã phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng đạt 8,5%, thu nhập bình quân đầu người 72 triệu đồng/năm và tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế vượt 95%.
Từ nhiều năm nay, nông nghiệp vẫn là trụ cột của nền kinh tế Vĩnh Điều nên việc nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp được xem là giải pháp căn cơ để người dân thoát nghèo.
Việc cán bộ nông nghiệp xã thường xuyên có mặt trên đồng ruộng để theo dõi sâu bệnh, hỗ trợ nông dân sản xuất sao cho hiệu quả là hình ảnh quen thuộc. Công tác dự báo dịch hại được thực hiện thường xuyên, giúp bà con chủ động phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại.
Đáng chú ý, xã đang phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh An Giang triển khai dự án cánh đồng lớn tại Hợp tác xã Phú Nông Xanh, với quy mô 100 ha, nhằm đáp ứng nhu cầu vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giảm phát thải và tăng hiệu quả sản xuất.
Ngoài ra, xã Vĩnh Điều còn tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, với diện tích thực hiện hơn 8.500 ha. Qua đó, nông dân được tiếp cận quy trình canh tác hiện đại, giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hạt gạo và tăng thu nhập.
Cùng với cây lúa, chăn nuôi cũng là thế mạnh được địa phương tập trung phát triển. Nhiều hộ dân đã từng bước thoát nghèo nhờ các mô hình nuôi bò sinh sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô hộ gia đình.
Đến thăm căn nhà nhỏ của anh Thạch Đen (người dân tộc Khmer, ở ấp Cống Ống, xã Vĩnh Điều) mới thấy cách làm giảm nghèo hiệu quả mà địa phương đang theo đuổi. Không chỉ hỗ trợ trước mắt, xã còn tạo sinh kế lâu dài để người dân tự vươn lên.
Anh Thạch Đen không giấu được niềm vui khi kể về hành trình thoát nghèo. Cách đây vài năm, cuộc sống của anh gần như rơi vào bế tắc. Không có đất sản xuất, vợ thường xuyên đau bệnh, hai con còn nhỏ đang tuổi đến trường, cả gia đình sống dựa vào những công việc làm thuê bấp bênh.
Năm 2021, từ chương trình "Bò giống giúp người nghèo biên giới" do Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng phát động, gia đình anh được hỗ trợ một con bò sinh sản. Không chỉ trao bò, cán bộ Đồn biên phòng Vĩnh Điều còn thường xuyên hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc và làm chuồng trại hợp vệ sinh.
Sau hơn 2 năm, đàn bò của gia đình anh Thạch Đen phát triển thêm 3 con bê. Có vốn tích lũy, nguồn thu ổn định, anh từng bước vượt qua khó khăn. Đầu năm 2024, gia đình chính thức được công nhận thoát nghèo bền vững.
Nếu như những con bò sinh sản giúp người dân có cơ hội phát triển kinh tế thì những căn nhà nghĩa tình mang đến sự ổn định để họ yên tâm lập nghiệp, bám trụ vùng biên.
Vợ chồng bà Lê Thị Nâu và ông Nguyễn Văn Tèo (ở ấp Mẹt Lung) đều qua 60 tuổi nhưng căn nhà mới là điều họ chưa bao giờ dám nghĩ tới. Trong khi ông Tèo làm thuê mưu sinh qua ngày thì bà Nâu mắc bệnh xương khớp, không còn khả năng lao động. Nhiều năm liền, gia đình 3 người phải sống trên một chiếc ghe cũ kỹ, lênh đênh trên sông rạch, khó khăn chồng chất.
Biết được hoàn cảnh ông Tèo, năm 2025, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã cùng các tổ chức từ thiện đã vận động kinh phí xây tặng căn nhà kiên cố. Ngày dọn vào nhà mới, bà Nâu không giấu được những giọt nước mắt hạnh phúc. Với bà, đó không chỉ là mái nhà che mưa che nắng mà còn là điểm tựa để gia đình bắt đầu một cuộc sống mới.
Những căn nhà như của gia đình bà Nâu không phải là trường hợp cá biệt. Thực hiện chương trình "Xóa nhà tạm, nhà dột nát", xã Vĩnh Điều đã huy động nhiều nguồn lực xã hội hóa để hỗ trợ người dân. Chỉ trong thời gian ngắn, xã đã xây dựng 43 căn nhà, với tổng kinh phí hơn 2,64 tỉ đồng, cho hộ nghèo, cận nghèo.
Bên cạnh đó còn có 21 căn nhà cho gia đình chính sách, đoàn viên thanh niên, cựu chiến binh gặp khó khăn về nhà ở từ các chương trình khác được xây dựng hoàn thành với tổng kinh phí gần 1,2 tỉ đồng.
Những căn nhà mới không chỉ giải quyết nhu cầu chỗ ở mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Riêng từ đầu năm 2026 đến nay, đã có hàng chục căn nhà được xã Vĩnh Điều vận động kinh phí và phối hợp xây dựng để người dân an cư lạc nghiệp.
Những câu chuyện thoát nghèo ở Vĩnh Điều không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là minh chứng cho sức mạnh của tình đoàn kết, của tinh thần sẻ chia và trách nhiệm cộng đồng.
Đó cũng chính là nền tảng để xã biên giới tiếp tục vươn lên trên hành trình phát triển bền vững trong những năm tới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Bữa cơm đoàn tụ sau ngày đất nước thống nhất của gia đình tướng Ba Quốc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, khi ký ức về một thời hoa lửa ùa về trong lòng nhiều thế hệ, câu chuyện về thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc) không chỉ là huyền thoại tình báo, mà còn là bản hùng ca về sự thủy chung và hy sinh thầm lặng.
Suốt 21 năm hoạt động trong lòng địch tại Sài Gòn, tướng Đặng Trần Đức cắt đứt liên hệ với gia đình để sống với thân phận khác, nhưng người vợ lặng lẽ chờ đợi, giữ trọn niềm tin trong những năm tháng chia ly.
Và rồi, khoảnh khắc cả gia đình đoàn tụ trong căn nhà nhỏ ở khu tập thể Kim Liên (Hà Nội) vào trưa 1.5.1975 đã trở thành một dấu mốc không thể nào quên đối với mỗi thành viên trong gia đình, khép lại hơn 2 thập kỷ phải sống trong "bóng tối" và nghi kỵ.
Sau hơn nửa thế kỷ, bà Đặng Chính Giang (78 tuổi, con gái cả của tướng Ba Quốc) vẫn nhớ như in buổi đoàn tụ hôm đó, bà kể rành rọt từng chi tiết như vừa mới xảy ra hôm qua.
Trò chuyện với Thanh Niên, bà Giang cho biết, sau khi nghe tin đất nước thống nhất qua loa phát thanh, sáng 1.5.1975, bà mang tem, phiếu ra chợ Tó (Đông Anh, Hà Nội) xếp hàng mua thịt để làm một bữa nem thật ngon vì nghĩ thế nào em trai mình cũng tranh thủ về nhà.
Vừa từ chợ về tới nhà, bà Giang gặp chú ruột đạp xe sang báo tin cho mẹ rằng "Anh cả (cụ Ba Quốc) đã về!" và đang ở nhà bố đẻ tại khu tập thể Kim Liên. Nghe tin bất ngờ, bà Giang cùng mẹ và 2 con bỏ lại mọi thứ, đi tàu từ Đông Anh về ga Hàng Cỏ, rồi đi bộ vào khu tập thể Kim Liên trong trạng thái hồi hộp.
11 giờ trưa, khi tất cả đến cầu thang tầng 1 khu tập thể thì gặp ông Thành (em trai bà Giang) đã đứng sẵn ở đó. Ông Thành hỏi cụ Thanh: "Mẹ ơi! Mẹ lên mà xem, người ta bảo bố con đấy, không biết có phải không?". Sở dĩ ông Thành cần xác nhận của mẹ bởi khi cụ Ba Quốc vào Nam thì cụ Thanh đang mang thai ông.
Trong ký ức của bà Giang, đây là cuộc gặp rất đặc biệt, tướng Ba Quốc trở về trong bộ quân phục, gương mặt nghiêm nghị, ít lời như vẫn còn mang theo kỷ luật của những năm tháng hoạt động bí mật. Khi gặp bố đẻ mình, thiếu tướng Ba Quốc cất lời: "Con chào thầy!", khiến ông sững người, rơi cả bó đũa đang cầm trên tay xuống nền. Ông nội ôm lấy tướng Ba Quốc rồi phát mạnh vào vai vì quá vui mừng, tưởng con trai mình biệt tích hơn 20 năm đã không còn.
Đặc biệt, bà Giang cũng nhớ như in từng lời nói, hành động của mẹ mình lúc đó. Bà kể, cụ Thanh chỉ bình thản gật đầu nhìn chồng, cụ Ba Quốc cũng ngước lên rồi lại cúi xuống nhìn cốc nước. Sau đó, cụ Thanh nói con gái đưa 2 cháu đến chào ông ngoại.
Bữa cơm đoàn tụ đầu tiên của gia đình bà Giang diễn ra trong sự vội vã. Cụ Ba Quốc kéo con gái ra hành lang, dúi vội ít tiền, bảo đi mua chợ mua đồ về làm cơm đãi họ hàng. Do không quen chợ búa tại Hà Nội, bà Giang phải nhờ người người thân đưa lên tận Cửa Nam để mua gà và rau để làm 2 mâm cơm.
Mâm cơm hôm ấy có thịt gà, có rau, có thêm bánh cuốn của em cụ Ba Quốc mang từ quê lên rất giản dị, ấm áp và thiêng liêng. Hai vợ chồng cụ Ba Quốc ngồi đối diện, không nói với nhau được gì vì họ hàng ai cũng hỏi chuyện cụ Ba Quốc. Phải đến tối, khi mọi người đã vãn, hai cụ mới có một khoảng lặng riêng.
Chưa đầy 2 ngày ở nhà, có người trong đơn vị ra báo tin cụ Ba Quốc phải vào Nam gấp. Cụ nói với vợ vào và sẽ thu xếp công việc ra sớm với gia đình. Tuy nhiên, phải hơn 1 năm sau cụ mới trở lại với con cháu.
Theo bà Giang, để có được bữa cơm đoàn tụ ngày 1.5.1975 ấy, gia đình bà đã phải trải qua 21 năm sống trong "bóng tối" và sự nghi kỵ.
Ngược lại thời gian, bà Giang kể, sau hiệp định Geneva năm 1954, tổ chức yêu cầu cụ Ba Quốc đi theo con đường của địch vào hoạt động tại Sài Gòn.
Để xây dựng một lý lịch hoàn hảo nhằm thâm nhập sâu vào chính quyền Sài Gòn, cụ buộc phải xóa sạch dấu vết cũ và tạo dựng một "vỏ bọc" mới bằng một đám cưới thật với cụ Ngô Thị Xuân (con gái của Trưởng ty cảnh sát Bắc Ninh). Tổ chức đã xin ý kiến cụ Thanh, nếu cụ đồng ý thì mới làm đám cưới đó.
Sau 1 đêm thức trắng suy nghĩ, cụ Thanh nén lòng đồng ý để chồng đi thực hiện trọng trách với Tổ quốc.
Tại Sài Gòn, cụ Ba Quốc lấy tên là Nguyễn Văn Tá, thâm nhập vào tận vào Phủ tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Với tính cách hiền lành, ít nói, cụ được đồng nghiệp gọi là "Tá Bụt".
Trong khi đó, ở miền Bắc, cụ Thanh và hai con phải đối mặt với thực tế nghiệt ngã của một gia đình có người thân "theo giặc". Từ một người con gái Hà Nội yếu đuối, cụ Thanh phải làm đủ nghề từ nhặt chè khô, gánh gạch, gánh cát thuê đến nấu ăn cho công nhân để nuôi con. Năm 1959, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của cụ Ba Quốc, tổ chức đưa ba mẹ con lên nông trường chè Vân Lĩnh (Phú Thọ).
Cuộc sống của họ ở nông trường vô cùng cơ cực với đồng lương ít ỏi 35 đồng mỗi tháng và tiêu chuẩn 10 kg gạo. Khoảng thời gian khó khăn nhất là những năm 1965 - 1967, khi đơn vị thông báo cụ Ba Quốc "mất liên lạc" và cắt mọi khoản trợ cấp. Bà Giang khi đó mới 15 tuổi đã phải vừa đi học, vừa đi hái chè thuê, vừa dạy lớp vỡ lòng để kiếm thêm 17 đồng mỗi tháng giúp mẹ.
Nỗi đau không chỉ dừng lại ở cái đói, mà còn là sự kỳ thị của xã hội. Cụ Thanh thường xuyên bị đưa ra họp phụ nữ để chất vấn về việc nuôi con một mình mà không có tin tức chồng. Bà Giang cũng bị phân biệt đối xử, không được ưu tiên mua sách giáo khoa vì lý lịch "có bố vào Nam". Thậm chí, vì quá thiếu thốn, hai mẹ con phải thay nhau mặc chung một chiếc quần lành lặn để đi làm và đi học.
Cụ Ba Quốc, cụ Xuân cùng các cháu tại TP.HCM
Trong khi cụ Thanh chịu đựng tủi nhục ở miền Bắc, thì tại miền Nam, cụ Ngô Thị Xuân, người vợ thứ hai cũng lặng lẽ che chở cho cụ Ba Quốc ngay trong lòng địch. Ban đầu không biết chồng là tình báo, nhưng bằng sự nhạy cảm, cụ Xuân dần nhận ra những bất thường và lặng lẽ gánh vác hậu phương.
Đặc biệt, cụ Xuân đã cùng con trai Đặng Trần Vũ chịu đựng sự tra tấn, hỏi cung khốc liệt suốt 4 tháng khi đường dây của cụ Ba Quốc bị lộ năm 1974 nhưng không hề hé môi, bảo vệ an toàn cho mạng lưới đến ngày thắng lợi.
Sau năm 1975, sự thật về cuộc đời của cụ Ba Quốc được hé mở. Thay vì trách móc, cả hai người phụ nữ đã tìm thấy sự đồng cảm sâu sắc dành cho nhau. Năm 1981, cụ Xuân ra Bắc thăm gia đình cụ Thanh. Cuộc gặp gỡ diễn ra hài hòa như hai chị em ruột thịt, họ cùng nhau tâm sự về những món ăn cụ Ba Quốc yêu thích và những năm tháng gian truân đã qua.
Các con của cụ Thanh gọi cụ Xuân là "mợ", còn con cụ Xuân gọi cụ Thanh là "mẹ cả". Sự bao dung ấy đã kết nối hai gia đình Nam - Bắc thành một khối thống nhất.
Những năm cuối đời, cụ Thanh yếu dần, mắt mờ, cụ Ba Quốc luôn bên cạnh. Ngày cụ Thanh mất, cụ Ba Quốc đã khóc rất nhiều. Năm 2004, cụ Ba Quốc qua đời, cụ Xuân mất năm 2006.
"Sinh thời, bố tôi rất thích ăn đậu phụ luộc, lạc rang và cá trê nướng nên trong mâm cơm ngày giỗ bố bắt buộc phải có", bà Giang nói và cho hay, trong các ngày giỗ chạp của bố mẹ và mợ nếu không vướng công tác bà và anh em cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều cố gắng về đông đủ.
Tin Gốc: Thanh Niên
